Pham Nguyen Khoi

Pham Nguyen Khoi

Thứ sáu, 04 Tháng 6 2021 22:51

Dac San 2021 dang soan thao

Đặc San CVA 2021

(đang soạn thảo)

 

 

ANH EM ÔNG NHẤT LINH VÀ TRƯỜNG BƯỞI (Chu Văn An)

Nguyễn Tường Tâm (CVA 1964)

(Trích thuật từ cuốn “Việt Nam Một Thế Kỷ Qua, Hồi Ký cuốn I” của Bác sĩ Nguyễn Tường Bách, Hồi ký của bà Nguyễn Thị Thế, em ruột Nhất Linh, “Chân dung Nhất Linh” của Nhật Thịnh và cuốn cuốn “Sống và Viết với…Nhất Linh và mười một nhà văn khác” của Nguien Ngu Í được tác giả viết nguyên văn theo lời thuật của Nhất Linh)

Bác sĩ Nguyễn Tường Bách, em thứ 7 (út) của nhà văn Nhất Linh nhập học trường Bưởi năm 1929. Trong Hồi Ký cuốn I, ông mô tả trường Bưởi cùng không khí trong trường cũng như ngoài xã hội vào năm 1929 & 1930 như sau:

Trường Bưởi năm 1929.

Hồi ký Ng Tường Bách trang 33: Năm 1929, tôi thi vào trường Bưởi, tên chính thức là Trung Học Bảo Hộ. Chỉ có mỗi con đường này thôi, vì nếu không thi đỗ tất phải theo học tại những trường tư thục, như Thăng Long, Gia Long, vừa tốn tiền vừa không dễ thi lấy được bằng Thành Chung. Còn trường Albert Sarraut, trường trung học cao cấp, thì rất khó xin vào, tiền học rất cao, thường chỉ có người Pháp hay một số ít gia đình giầu có đặc biệt mới có con em vào học.

Trường Bưởi gồm mấy tòa nhà ba tầng, quét vôi mầu vàng, nằm ngay bên cạnh Hồ Tây, và một bên là đường xe điện chạy lên Bưởi. Từ đường Quan Thánh đi lên, một bên là phủ Toàn Quyền, với đằng sau là vườn Bách Thú (tên gọi hồi ấy). Một chòi lính canh sơn mầu tam tài đứng ngay cạnh lối vào vườn.

Nếu rẽ sang bên Hồ Tây, thì qua đền Quan Thánh, sẽ bước vào con đường lịch sử: đường Cổ Ngư, nằm giữa hai mặt hồ Trúc Bạch và Hồ Tây. Con đường nên thơ này không rõ có từ bao giờ, nhưng hồi đó nó đã là một chỗ dạo chơi của người Hà Nội, nhất là về mùa hè nóng nực, là một nơi để bơi lội. Chiều tới, nhiều cánh buồm phất phơ trên mặt nước mênh mang mãi tới rặng cây Nghi Tàm xa xa – một cảnh tượng êm đềm.

Người thi vào trường Bưởi rất đông, nhưng năm đó chỉ chọn lấy 130 người. Hi vọng mỏng manh, gia đình khuyến khích thì tôi đi thi xem sao, không ngờ lại may mắn “trúng tủ”, tôi đỗ số 28, nhờ ở bài Pháp văn.

Để đón tiếp ngày vào trường, ở nhà may cho một cái áo dài trắng, và một áo the mới. Dạo đó, chưa có mốt mặc quần áo tây. Thành ra, học trò nào cũng xúng xính như những ông đồ nho, trông đạo mạo như ông cụ non.

Ngày khai trường, học trò mới qua cổng lớn tụ tập ở sân trường, giữa những gốc bàng và gốc sấu cao. Người đầu tiên chúng tôi gặp là một ông giáo sư Pháp cao lênh khênh, cưỡi một cái xe đạp không tương xứng với thân hình. Nhưng ông này xem có vẻ thân thiện, mỉm cười trước những học trò còn ngơ ngác. Sau này mới biết tên là Foulon, giáo viên địa dư và lịch sử.

Một ông khác mập hơn, vẻ mặt nghiêm khắc hơn, tới bắt chúng tôi xếp hàng và đứng im để đợi viên hiệu trưởng tới huấn thị. Chúng tôi đã nghe đồn ông Autigeon có tiếng là nghiêm khắc khó xơi, nên hồi hộp đứng chờ.

Một lát, một người mập, to ngang, mặt tròn từ trong bước ra thềm. Mọi người đều răm rắp bỏ mũ. Hiệu trưởng đưa mắt gườm gườm ngang trên đám học trò mới, rồi cất giọng nói ồm ồm không chút cảm tình, về kỷ luật, về những điều phải tuân thủ. Không biết những bạn khác nghĩ ra sao, chứ riêng tôi thấy khó chịu và cả không khí chung quanh nặng nề khó thở.

Một bầu không khí thực dân…tôi nghĩ. Tôi liên tưởng đến những truyền đơn, báo bí mật và những tiếng đồn về các hội kín chống Pháp. Trong đầu óc tôi, Autigeon, tuy chỉ là một ông đốc trường, nhưng cũng là một nhân vật tiêu biểu đáng ghét. Từ ngày ấy, đối với nhà trường, tự nhiên tôi đã không có thiện cảm.

Cũng như mấy anh lớn trước đây, tôi đến trọ ở nhà một ông cụ trong làng Bưởi. Ở đây, thường thường được ăn cá tươi do ông bắt được bằng đinh ba, ban đêm – vì chính ông lại là người coi cá ở hồ này. Ở đây, một bạn học năm thứ ba có đến tìm tôi, và đưa một tờ truyền đơn ký tên là “Thanh niên Ái quốc,” rủ tôi vào một tiểu tổ lúc đó thành lập ngay trong trường. Tôi tỏ ý tán thành. Anh hẹn sẽ liên lạc sau này khi có công việc cần làm. Nhưng sau, tình hình khẩn trương. Mật thám đã chú ý khắp nơi, và mọi tiếp xúc đều phải tạm ngừng. Không bao lâu sau là cuộc khủng bố lớn đối với Việt Nam Quốc Dân Đảng. Từ đó tôi không gặp lại người bạn ấy, và nghe nói có mấy người lớp trên bỏ học.” Mấy giòng cuối cho thấy không khí trong Trường Bưởi thời cuối 1929 đầu 1930.

Ở trang 37, BS Bách mô tả không khí tại Hà Nội nơi có trường Bưởi. “Chính trong thời gian đó, anh Tam (Nhất Linh) từ Pháp trở về với cái bằng Cử nhân Vật lý học…Đường Giám. Một ngày tháng 2 năm 1930. Đầu xuân, trời hơi lạnh. Buổi tối, độ chín mười giờ. Ánh sáng vàng khè của mấy ngọn đèn điện lù mù chiếu trên đường phố vắng tanh. Bên kia đường, dẫy tường gạch, đằng sau là Văn Miếu tối om om.

Bà tôi, mẹ tôi đã đi ngủ. Nhớ lại, còn ngồi trên gác đọc sách có anh Tam, anh Sáu (Thạch Lam) và tôi. Anh Cả (Tường Thụy) đi làm ca đêm vắng nhà. Chung quanh im lặng. Bỗng, đột ngột, vẳng từ xa đến mấy tiếng nổ, xem ra lớn hơn tiếng súng thường.

Tiếng gì đây? Mọi người sửng sốt. “Súng? Bom, tạc đạn?” Trong thời kỳ bất thường này, chúng tôi nghĩ ngay đến một cuộc nổi dậy. Anh Tam chạy ra phía cửa sổ, hé mở cánh cửa nghe ngóng. Vài tiếng nổ thêm, lác đác. Trong thâm tâm, chúng tôi hi vọng đây sẽ là một cuộc tấn công lớn của Cách mệnh; đều khát vọng cuộc khởi nghĩa sẽ đưa tới chấm dứt sự thống trị hung tàn của thực dân, dành được độc lập tự do cho dân tộc. Tiếng nổ hình như vọng tới từ trên, phía bờ sông. Nhưng rất nhanh, im lặng lại trở lại.

Chung quanh có tiếng xì xào. Có người chạy ra ngoài đường để quan sát. Nhưng qua độ mươi lăm phút, đã thấy tiếng ồn ào khắp nơi. Rồi đến những tiếng quát tháo chung quanh, tiếng gót giầy nặng chình chịch từ phố bên tới.

Vội vàng chúng tôi đóng cửa sổ lại. Qua khe cửa, thấy một tốp lính cao lớn – chắc là Lê Dương (legion – lính đánh thuê) chạy rầm rập vào phố, dừng lại, xem xét chung quanh, rồi cắt lính cầm lưỡi lê gác đầu và cuối đường. Anh em chúng tôi chờ một thời gian, không thấy có động tịnh gì khác, lại đặt mình xuống giường. Không ai nói với ai một câu nào, nhưng đều biết là suốt đêm trằn trọc không ngủ được. Có lẽ ai cũng đã cảm thấy thất vọng sâu xa.

Buổi sáng sớm, anh Thụy mới về đến nhà. Anh nói là trên đường phố vắng ngắt, vì vừa mới giới nghiêm. May anh có tấm căn cước nhà Bưu chính cấp cho, nên cũng thuận lợi trên đường.

Hôm sau, mới biết là mấy nhà cách mệnh đã ném tạc đạn vào bóp cảnh sát Hàng Đậu, định chiếm một số vũ khí, nhưng đã không thành công, và hai, ba người đã bị bắt. Mặc dầu thất bại, nhưng tấm gương anh hùng ấy vẫn luôn luôn in mãi trong trí óc anh em chúng tôi.

Rồi sau biết tin cuộc khởi nghĩa Yên Bái oanh liệt đã bị bọn thực dân đàn áp một cách tàn bạo, dã man. Bao nhiêu án tử hình, khổ sai đè lên đầu những người Việt bất khuất.” Có lẽ chính vì biến cố chính trị lớn lao này mà trong Hồi Ký Bác sĩ Bách ghi tiếp “Từ đó tôi không gặp lại người bạn ấy, và nghe nói có mấy người lớp trên bỏ học.”

Vốn đã không thích không khí nhà trường (BS Bách viết “tôi thấy khó chịu và cả không khí chung quanh nặng nề khó thở.”) và lại đã biết quan tâm tới tình hình đất nước (BS Bách viết “Một bầu không khí thực dân…tôi nghĩ. Tôi liên tưởng đến những truyền đơn, báo bí mật và những tiếng đồn về các hội kín chống Pháp.”), thì việc tác giả từ giã ngôi trường Bưởi không khiến độc giả bất ngờ. Trang 41 Hồi Ký ông viết “1931. Suy nghĩ vài tháng rồi, tôi lấy một quyết định nguy hiểm: bỏ học về nhà. Tôi sợ nói ra, mẹ tôi và các anh chị sẽ phê bình tới tấp và sẽ ngăn cản. Vì có ai dại mà bỏ đi một trường học tốt như vậy, không dễ thi vào. Và nếu tự học thì có làm nổi không, bằng Tú Tài đâu phải dễ lấy; mà tôi lúc này mới lên năm thứ hai (lớp 6 bây giờ). Khác hẳn với dự đoán của tôi, các anh tôi chẳng ai cho là việc đáng bàn, còn mẹ tôi sau khi do dự, cũng bằng lòng…Tôi vác đơn xin thôi học, không ngờ, một ông giáo người Pháp xưa nay có tiếng là ác, bắt học trò phải ngồi im như phỗng trong khi ông giảng lịch sử, và bị tôi ghét nhất, xem đơn của tôi lại tỏ ra ân cần, giữ tôi ở lại:

-“Anh có gì khó khăn? Anh là một học sinh giỏi, có tương lai mà? Đừng nên bỏ trường.” ông nói.

-Thưa ông, vì gia đình tôi phải dọn về quê, nên rất tiếc không đi học ở đây được nữa,” tôi vin cớ giải thích.

-“Đáng tiếc thực. Sau này, có dịp trở lại, tôi sẽ nói với ông hiệu trưởng.”

Lúc này, tôi không thấy ông đáng ghét như trước. Thì ra, chỉ nhìn qua bề ngoài, không thể hiểu được tính cách của con người.

Sự thực, cớ chính là tôi ghét không khí nhà trường và cũng vì muốn tránh gò bó, hãy được tự do bay nhẩy đã, vì bản tính tôi cũng lười.”

Trang 43 “trở về Trại Cẩm Giàng…Tôi mua đủ các sách giáo khoa để tự học, kể cả cái tiếng Anh xa lạ.”

Vì không tiện ở nhà Thạch Lam và người chị ruột (nhà nhỏ), ông Bách ở trọ, một cuộc sống được ông mô tả ở trang 57 “Một lối sống thông thường cho học sinh thời ấy, tuy có vẻ kém nền nếp và lông bông dưới con mắt của một số người…Tôi đến ở với một số bạn, xem ra toàn là đồ quỷ sứ cả, tứ chiếng giang hồ - nghĩa là ở mấy nơi khác tới. Năm đó, thi bằng Tú tài phần thứ nhất, tôi đã “trượt vỏ chuối,” tuy đã “cuốc” bở hơi tai trước kỳ thi. Nguyên nhân là khi khẩu thí, gặp ông giám khảo hắc búa, bắt tôi đọc một đoạn truyện David Copperfield” của Dickens. Tôi gân cổ đọc, còn ông chỉ ngồi cười. Sau tôi mới hiểu, vì ông chẳng nghe hiểu gì hết với cái tiếng Anh lạ tai của tôi. Tất nhiên trượt, về nhà học lại…Một điều an ủi tôi là, trong số anh em cùng trọ, không chỉ có mình tôi đã trượt vỏ chuối, mà phần lớn cũng chung một số phận. Một chàng tên Nhung, trước ngày thi, chắc mẩm lần này sẽ đỗ bằng Thành Chung, sẽ về quê vinh qui bái tổ và cưới vợ ngay, nhưng lúc treo bảng lại không thấy tên mình, tuyệt vọng, về nhà bỏ cả bữa cơm và nằm lì suốt hai ngày không nói năng. Một chàng nữa, thi Tú Tài bản xứ phần thứ Hai, cũng bị đánh rớt, nhưng vẫn thản nhiên, tối đến cùng mấy bạn xuống phố Khâm Thiên để giải sầu. Xin nói rõ là trong bọn đó không có tôi, vì còn quá nhỏ tuổi, chưa đủ tư cách.

Thế là lại phải cuốc một năm nữa. Phải nhai lại những bài cũ, nhất là tiếng Anh khô khan…Một cách chật vật tôi cũng qua được phần thứ nhất bằng Tú Tài Tây, nhờ ông giáo chấm tiếng Anh dễ dãi cho một điểm không đến nỗi quá thấp. Nhưng phải đối diện với phần thứ hai làm sao đây? Theo ý kiến của các bạn, muốn ăn chắc nên xin vào học trong trường trung học Albert Sarraut. Đây là một “trường quý tộc” hơn, nhưng gia đình cũng đồng ý cho tôi vào học, dù tiền học phí hơi cao. Mùi thực dân của trường này tất sẽ nặng nề, nhưng đành phải chịu…Học sinh có người Pháp, nhưng đa số vẫn là người Việt.” Ông Bách theo học đệ Nhất ban triết tại trường này (lớp 12 ngày nay). Theo ông kể với tôi, thời gian mới vào ông thua sút các bạn trong lớp vì kém tiếng Pháp so với cả lớp, nhưng vì ông đã đọc nhiều sách triết nên sau thời gian ngắn ông đã vượt lên trên. Trang 59 Hồi Ký ông viết “Cuối năm, dù không rốc hết sức để ôn tập các bài vở, nhưng may mắn tôi cũng được giải nhất trong lớp và tương đối dễ dàng qua được phần thứ hai bằng Tú Tài Tây, trước vẻ hân hoan của mọi người.” Ông đỗ Tú tài Tây phần hai năm 1937.

Trong tất cả 6 anh em ông Nhất Linh chỉ có BS Nguyễn Tường Bách đỗ Tú Tài rồi vào học Đại học Y Khoa Hà Nội, bởi vì vào thời các anh của ông, hệ thống giáo dục Việt Nam chỉ có tới bằng Thành Chung, tương đương bằng Trung học Đệ Nhất Cấp của Việt Nam Cộng Hòa hay bằng Trung học Cơ Sở của Việt Nam hiện nay (2021). Bằng Thành Chung còn có tên gọi khác là bằng Cao Tiểu.

Trong bài Vài nét về Trường Chu Văn An (1908-1956) “Đến niên khoá 1924-1925, Trường được phép mở thêm cấp Trung học đệ nhị cấp, cho học trò đã có bằng Cao đẳng tiểu học, để thi bằng Trung học bản xứ (Brevet de l’enseignement secondaire local), thường gọi là Tú tài bản xứ[7].” Như vậy phải 1927 mới có khóa thi Tú Tài Việt đầu tiên.

(http://www.archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/vai-net-ve-truong-chu-van-an-1908-1956.htm?fbclid=IwAR3xe-lRTsf991hD5p_o5sdR7OmndMgUYM-QVDiUdwuw-jUUXXp_YyDHHTU)

Vả lại, vào thời đó bằng Thành Chung là bằng cao nhất, đủ để vào học Cao đẳng; sau 3 năm học (ngoại trừ Y sĩ Đông Dương phải học 4 năm) ra trường sẽ có nghề và địa vị cao nhất trong xã hội (Phi Cao Đẳng Bất Thành Phu Phụ: Nhà giầu chỉ gả con gái cho những chàng trai đã tốt nghiệp Cao Đẳng) cho nên sẽ không cần thi tú tài Tây nếu gia đình không đủ điều kiện du học tự túc.

Theo nhà giáo Nguyễn Huệ Chi, từ lớp đầu tiên đến lớp cuối cùng của bậc tiểu học thời Pháp thuộc mất 6 năm gồm:– Lớp Đồng Ấu (Cours Enfantin)– Lớp Dự Bị (Cours Préparatoire)– Lớp Sơ Đẳng (Cours Élémentaire)– Lớp Nhì năm thứ nhất (Cours Moyen 1ère année)– Lớp Nhì năm thứ hai (Cours Moyen 2è année)– Lớp Nhất (Cours Supérieur).

Như vậy khởi đầu tuổi đi học hợp lệ là 6 tuổi, thì trẻ nhất để vào Đệ nhất niên (lớp 6 hiện nay) trường Bảo Hộ (sau đổi thành trường Bưởi) học sinh ít nhất phải 12 tuổi. Học 4 năm nữa mới thi Thành Chung thì học sinh phải ít nhất 16 tuổi.

Trừ Thạch Lam, tất cả năm anh em trai còn lại của ông Nhất Linh đều là cựu học sinh trường Bưởi nhưng đều là những học sinh bỏ nửa chừng để ở nhà tự học thi nhẩy lớp.

Hai anh đầu là Tường Thụy và Tường Cẩm đều học ba năm đỗ bằng Cao Tiểu (Sách của Nguên Ngu Í trang 20) Ông anh cả Nguyễn Tường Thụy sinh năm 1903, em kế Nguyễn Tường Cẩm sinh 1904. Nếu theo đúng tuổi thì 16 sẽ đỗ Thành Chung. Nhưng cả hai ông chỉ học ở trường Bưởi có một năm rưỡi rồi ở nhà tự học thêm một năm, thi băng lớp lấy bằng Thành Chung.

Hồi ký của bà Thế trang 62 viết “Anh Cả, anh Hai đỗ xong Thành Chung nhưng vì kém tuổi nên không được vào Cao đẳng. Sở sĩ kém tuổi là vì ở năm thứ Hai trường Bưởi, bà tôi thấy các anh ấy gầy yếu mới mua cao ban long cho ăn. Ăn xong bổ quá các anh bị phá lở mụn đầy người. Trường cho nghỉ về nhà chữa hẹn khi nào khỏi hẳn lên học lại. Bất đồ về chữa đến hai tháng mới khỏi, lên trường họ xóa tên không cho học nữa…Các anh tức lắm về bàn với mẹ tôi gửi mua bên Pháp đủ các thứ sách đem về học gấp. Năm sau đổi tuổi đi thi đậu, thành ra đỡ được hai năm, đỡ tốn bao nhiêu công lao và tiền bạc. Anh Cả, anh Hai bắt đầu đi dậy học.

-Hoàng Đạo thi vào trường Bưởi nhưng chỉ học ở đó một năm, sau đó ở nhà tự học một năm nữa để thi bằng Thành Chung. Trang 38 Hồi Ký của bà Thế ghi, “Vì anh Tư tôi (Hoàng Đạo) không đủ tuổi đi thi anh mới đổi là Long.” Nếu đúng tuổi đỗ Thành Chung là 16 tuổi thì Hoàng Đạo phải đỗ Thành Chung vào năm 1923 (1907 + 16 tuổi= 1923). Nhưng ở trang 20 sách của Nguien Ngu Í, Nhất Linh cho biết Hoàng Đạo thi nhẩy 2 lớp. Như vậy ta biết là Hoàng Đạo đỗ Thành Chung năm 1921; khi đó tuổi thật của Hoàng Đạo mới 14.

-Thạch Lam sinh 1910 bắt chước 3 anh, phá kỷ lục chỉ học một năm đã đỗ Cao Tiểu (Nguên Ngu Í trang 20). Trang 39 Hồi Ký của bà Thế ghi, “Riêng em Sáu tôi (Thạch Lam) phải đổi tuổi tới hai lần. Lần thứ nhất đổi là Vinh, cũng vì lý do để đủ tuổi đi thi bằng Thành Chung.” Cũng lý luận như với Hoàng Đạo, nếu đỗ Thành Chung lúc 16 tuổi thì Thạch Lam sẽ phải đỗ vào năm 1926 (1910 + 16 tuổi = 1926). Nhưng ở trang 20 sách của Nguien Ngu Í, Nhất Linh cho biết Thạch Lam thi nhẩy ba lớp, do đó Thạch Lam phải đỗ Thành Chung vào năm 1923, trước Nhất Linh.

Như vậy, sau khi đỗ Tiểu học, Thạch Lam đã không thi vào trường Bưởi mà tự học ở nhà một năm và sửa tuổi để năm sau thi băng ba lớp đỗ bằng Thành Chung luôn. Thạch Lam đỗ Thành Chung lúc mới 13 tuổi. Đây là một kỷ lục trong lịch sử thi cử trung tiểu học Việt Nam chưa nghe tới. Việc một “cậu bé” 12 tuổi mới học xong bậc tiểu học mà đã quyết định năm sau thi Thành Chung, chương trình phải mất 4 năm, kể ra là một sự lạ khó tin. Tôi tự hỏi sự hiểu biết ra sao ở tuổi 12 đã khiến Thạch Lam tự tin làm một điều có thể nói là “không tưởng” như vậy? Nhưng ông đã thành công một cách ngoạn mục vào năm 1923, khiến năm sau 1924, khi Tú Mỡ quen Nhất Linh ở sở Tài Chánh, nghe chuyện, Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu) đã có thơ mừng Thạch Lam như sau:

Gửi lời mừng bác Nguyễn Tường Vinh

Đáng bậc thần đồng bọn học sinh

Năm trước vừa ăn kỳ tốt nghiệp

Năm sau liền đỗ bậc Chung Thành

Văn hay phúc ấm nhờ tiên tổ

Cũng bởi công phu gắng học hành

(Hồi Ký Nguyễn Thị Thế trang 40)

-Mặc dù cũng học giỏi, nhưng ông Nhất Linh là người đỗ Thành Chung sau cùng trong mấy anh em, đồng thời ông cũng đỗ Thành Chung muộn màng, lúc đó ông chỉ kém 2 tháng đủ 18 tuổi. Ông sinh ngày 25/7/1906. Năm 1918 thân phụ mất, nhà nghèo, ông phải nghỉ học mất ba năm. Năm 1921 ông mới thi vào đệ nhất niên trường Bưởi. Sau hai niên khóa (1921-1923), thấy bốn người anh em của ông đều đã bỏ trường Bưởi, ở nhà tự học để thi nhẩy lớp đỗ bằng Thành Chung, ông cũng bỏ luôn học bổng của trường, ở nhà tự học một năm rồi 1924, ông đỗ bằng Thành Chung.

-Lý do mấy anh em ông Nhất Linh có thể đổi giấy khai sinh, sửa tên tuổi dễ dàng là nhờ cái triện của ông Lý trưởng Ấp Phiên Đình.

Hồi ký của bà Thế trang 72 ghi “Thỉnh thoảng chúng tôi lại sang chơi bên ấp Phiên Đình là ấp có ông Lý Trưởng đã đưa cả triện lý trưởng cho mẹ tôi muốn đóng vào đâu thì đóng. Chắc hẳn ông không thể ngờ được cái triện đó đã giúp cho mấy nhà văn nổi tiếng trong văn học sau này.”

-Thời trước 1930, danh sách các thí sinh đỗ bằng Thành Chung được đăng trên báo.

 
Thứ sáu, 04 Tháng 6 2021 22:50

Dac San 2021 dang soan thao

Thứ sáu, 04 Tháng 6 2021 02:28

ANH EM ONG NHAT LINH

ANH EM ÔNG NHẤT LINH VÀ TRƯỜNG BƯỞI (Chu Văn An)

Nguyễn Tường Tâm (CVA 1964)

(Trích thuật từ cuốn “Việt Nam Một Thế Kỷ Qua, Hồi Ký cuốn I” của Bác sĩ Nguyễn Tường Bách, Hồi ký của bà Nguyễn Thị Thế, em ruột Nhất Linh, “Chân dung Nhất Linh” của Nhật Thịnh và cuốn cuốn “Sống và Viết với…Nhất Linh và mười một nhà văn khác” của Nguien Ngu Í được tác giả viết nguyên văn theo lời thuật của Nhất Linh)

Bác sĩ Nguyễn Tường Bách, em thứ 7 (út) của nhà văn Nhất Linh nhập học trường Bưởi năm 1929. Trong Hồi Ký cuốn I, ông mô tả trường Bưởi cùng không khí trong trường cũng như ngoài xã hội vào năm 1929 & 1930 như sau:

Trường Bưởi năm 1929.

Hồi ký Ng Tường Bách trang 33: Năm 1929, tôi thi vào trường Bưởi, tên chính thức là Trung Học Bảo Hộ. Chỉ có mỗi con đường này thôi, vì nếu không thi đỗ tất phải theo học tại những trường tư thục, như Thăng Long, Gia Long, vừa tốn tiền vừa không dễ thi lấy được bằng Thành Chung. Còn trường Albert Sarraut, trường trung học cao cấp, thì rất khó xin vào, tiền học rất cao, thường chỉ có người Pháp hay một số ít gia đình giầu có đặc biệt mới có con em vào học.

Trường Bưởi gồm mấy tòa nhà ba tầng, quét vôi mầu vàng, nằm ngay bên cạnh Hồ Tây, và một bên là đường xe điện chạy lên Bưởi. Từ đường Quan Thánh đi lên, một bên là phủ Toàn Quyền, với đằng sau là vườn Bách Thú (tên gọi hồi ấy). Một chòi lính canh sơn mầu tam tài đứng ngay cạnh lối vào vườn.

Nếu rẽ sang bên Hồ Tây, thì qua đền Quan Thánh, sẽ bước vào con đường lịch sử: đường Cổ Ngư, nằm giữa hai mặt hồ Trúc Bạch và Hồ Tây. Con đường nên thơ này không rõ có từ bao giờ, nhưng hồi đó nó đã là một chỗ dạo chơi của người Hà Nội, nhất là về mùa hè nóng nực, là một nơi để bơi lội. Chiều tới, nhiều cánh buồm phất phơ trên mặt nước mênh mang mãi tới rặng cây Nghi Tàm xa xa – một cảnh tượng êm đềm.

Người thi vào trường Bưởi rất đông, nhưng năm đó chỉ chọn lấy 130 người. Hi vọng mỏng manh, gia đình khuyến khích thì tôi đi thi xem sao, không ngờ lại may mắn “trúng tủ”, tôi đỗ số 28, nhờ ở bài Pháp văn.

Để đón tiếp ngày vào trường, ở nhà may cho một cái áo dài trắng, và một áo the mới. Dạo đó, chưa có mốt mặc quần áo tây. Thành ra, học trò nào cũng xúng xính như những ông đồ nho, trông đạo mạo như ông cụ non.

Ngày khai trường, học trò mới qua cổng lớn tụ tập ở sân trường, giữa những gốc bàng và gốc sấu cao. Người đầu tiên chúng tôi gặp là một ông giáo sư Pháp cao lênh khênh, cưỡi một cái xe đạp không tương xứng với thân hình. Nhưng ông này xem có vẻ thân thiện, mỉm cười trước những học trò còn ngơ ngác. Sau này mới biết tên là Foulon, giáo viên địa dư và lịch sử.

Một ông khác mập hơn, vẻ mặt nghiêm khắc hơn, tới bắt chúng tôi xếp hàng và đứng im để đợi viên hiệu trưởng tới huấn thị. Chúng tôi đã nghe đồn ông Autigeon có tiếng là nghiêm khắc khó xơi, nên hồi hộp đứng chờ.

Một lát, một người mập, to ngang, mặt tròn từ trong bước ra thềm. Mọi người đều răm rắp bỏ mũ. Hiệu trưởng đưa mắt gườm gườm ngang trên đám học trò mới, rồi cất giọng nói ồm ồm không chút cảm tình, về kỷ luật, về những điều phải tuân thủ. Không biết những bạn khác nghĩ ra sao, chứ riêng tôi thấy khó chịu và cả không khí chung quanh nặng nề khó thở.

Một bầu không khí thực dân…tôi nghĩ. Tôi liên tưởng đến những truyền đơn, báo bí mật và những tiếng đồn về các hội kín chống Pháp. Trong đầu óc tôi, Autigeon, tuy chỉ là một ông đốc trường, nhưng cũng là một nhân vật tiêu biểu đáng ghét. Từ ngày ấy, đối với nhà trường, tự nhiên tôi đã không có thiện cảm.

Cũng như mấy anh lớn trước đây, tôi đến trọ ở nhà một ông cụ trong làng Bưởi. Ở đây, thường thường được ăn cá tươi do ông bắt được bằng đinh ba, ban đêm – vì chính ông lại là người coi cá ở hồ này. Ở đây, một bạn học năm thứ ba có đến tìm tôi, và đưa một tờ truyền đơn ký tên là “Thanh niên Ái quốc,” rủ tôi vào một tiểu tổ lúc đó thành lập ngay trong trường. Tôi tỏ ý tán thành. Anh hẹn sẽ liên lạc sau này khi có công việc cần làm. Nhưng sau, tình hình khẩn trương. Mật thám đã chú ý khắp nơi, và mọi tiếp xúc đều phải tạm ngừng. Không bao lâu sau là cuộc khủng bố lớn đối với Việt Nam Quốc Dân Đảng. Từ đó tôi không gặp lại người bạn ấy, và nghe nói có mấy người lớp trên bỏ học.” Mấy giòng cuối cho thấy không khí trong Trường Bưởi thời cuối 1929 đầu 1930.

Ở trang 37, BS Bách mô tả không khí tại Hà Nội nơi có trường Bưởi. “Chính trong thời gian đó, anh Tam (Nhất Linh) từ Pháp trở về với cái bằng Cử nhân Vật lý học…Đường Giám. Một ngày tháng 2 năm 1930. Đầu xuân, trời hơi lạnh. Buổi tối, độ chín mười giờ. Ánh sáng vàng khè của mấy ngọn đèn điện lù mù chiếu trên đường phố vắng tanh. Bên kia đường, dẫy tường gạch, đằng sau là Văn Miếu tối om om.

Bà tôi, mẹ tôi đã đi ngủ. Nhớ lại, còn ngồi trên gác đọc sách có anh Tam, anh Sáu (Thạch Lam) và tôi. Anh Cả (Tường Thụy) đi làm ca đêm vắng nhà. Chung quanh im lặng. Bỗng, đột ngột, vẳng từ xa đến mấy tiếng nổ, xem ra lớn hơn tiếng súng thường.

Tiếng gì đây? Mọi người sửng sốt. “Súng? Bom, tạc đạn?” Trong thời kỳ bất thường này, chúng tôi nghĩ ngay đến một cuộc nổi dậy. Anh Tam chạy ra phía cửa sổ, hé mở cánh cửa nghe ngóng. Vài tiếng nổ thêm, lác đác. Trong thâm tâm, chúng tôi hi vọng đây sẽ là một cuộc tấn công lớn của Cách mệnh; đều khát vọng cuộc khởi nghĩa sẽ đưa tới chấm dứt sự thống trị hung tàn của thực dân, dành được độc lập tự do cho dân tộc. Tiếng nổ hình như vọng tới từ trên, phía bờ sông. Nhưng rất nhanh, im lặng lại trở lại.

Chung quanh có tiếng xì xào. Có người chạy ra ngoài đường để quan sát. Nhưng qua độ mươi lăm phút, đã thấy tiếng ồn ào khắp nơi. Rồi đến những tiếng quát tháo chung quanh, tiếng gót giầy nặng chình chịch từ phố bên tới.

Vội vàng chúng tôi đóng cửa sổ lại. Qua khe cửa, thấy một tốp lính cao lớn – chắc là Lê Dương (legion – lính đánh thuê) chạy rầm rập vào phố, dừng lại, xem xét chung quanh, rồi cắt lính cầm lưỡi lê gác đầu và cuối đường. Anh em chúng tôi chờ một thời gian, không thấy có động tịnh gì khác, lại đặt mình xuống giường. Không ai nói với ai một câu nào, nhưng đều biết là suốt đêm trằn trọc không ngủ được. Có lẽ ai cũng đã cảm thấy thất vọng sâu xa.

Buổi sáng sớm, anh Thụy mới về đến nhà. Anh nói là trên đường phố vắng ngắt, vì vừa mới giới nghiêm. May anh có tấm căn cước nhà Bưu chính cấp cho, nên cũng thuận lợi trên đường.

Hôm sau, mới biết là mấy nhà cách mệnh đã ném tạc đạn vào bóp cảnh sát Hàng Đậu, định chiếm một số vũ khí, nhưng đã không thành công, và hai, ba người đã bị bắt. Mặc dầu thất bại, nhưng tấm gương anh hùng ấy vẫn luôn luôn in mãi trong trí óc anh em chúng tôi.

Rồi sau biết tin cuộc khởi nghĩa Yên Bái oanh liệt đã bị bọn thực dân đàn áp một cách tàn bạo, dã man. Bao nhiêu án tử hình, khổ sai đè lên đầu những người Việt bất khuất.” Có lẽ chính vì biến cố chính trị lớn lao này mà trong Hồi Ký Bác sĩ Bách ghi tiếp “Từ đó tôi không gặp lại người bạn ấy, và nghe nói có mấy người lớp trên bỏ học.”

Vốn đã không thích không khí nhà trường (BS Bách viết “tôi thấy khó chịu và cả không khí chung quanh nặng nề khó thở.”) và lại đã biết quan tâm tới tình hình đất nước (BS Bách viết “Một bầu không khí thực dân…tôi nghĩ. Tôi liên tưởng đến những truyền đơn, báo bí mật và những tiếng đồn về các hội kín chống Pháp.”), thì việc tác giả từ giã ngôi trường Bưởi không khiến độc giả bất ngờ. Trang 41 Hồi Ký ông viết “1931. Suy nghĩ vài tháng rồi, tôi lấy một quyết định nguy hiểm: bỏ học về nhà. Tôi sợ nói ra, mẹ tôi và các anh chị sẽ phê bình tới tấp và sẽ ngăn cản. Vì có ai dại mà bỏ đi một trường học tốt như vậy, không dễ thi vào. Và nếu tự học thì có làm nổi không, bằng Tú Tài đâu phải dễ lấy; mà tôi lúc này mới lên năm thứ hai (lớp 6 bây giờ). Khác hẳn với dự đoán của tôi, các anh tôi chẳng ai cho là việc đáng bàn, còn mẹ tôi sau khi do dự, cũng bằng lòng…Tôi vác đơn xin thôi học, không ngờ, một ông giáo người Pháp xưa nay có tiếng là ác, bắt học trò phải ngồi im như phỗng trong khi ông giảng lịch sử, và bị tôi ghét nhất, xem đơn của tôi lại tỏ ra ân cần, giữ tôi ở lại:

-“Anh có gì khó khăn? Anh là một học sinh giỏi, có tương lai mà? Đừng nên bỏ trường.” ông nói.

-Thưa ông, vì gia đình tôi phải dọn về quê, nên rất tiếc không đi học ở đây được nữa,” tôi vin cớ giải thích.

-“Đáng tiếc thực. Sau này, có dịp trở lại, tôi sẽ nói với ông hiệu trưởng.”

Lúc này, tôi không thấy ông đáng ghét như trước. Thì ra, chỉ nhìn qua bề ngoài, không thể hiểu được tính cách của con người.

Sự thực, cớ chính là tôi ghét không khí nhà trường và cũng vì muốn tránh gò bó, hãy được tự do bay nhẩy đã, vì bản tính tôi cũng lười.”

Trang 43 “trở về Trại Cẩm Giàng…Tôi mua đủ các sách giáo khoa để tự học, kể cả cái tiếng Anh xa lạ.”

Vì không tiện ở nhà Thạch Lam và người chị ruột (nhà nhỏ), ông Bách ở trọ, một cuộc sống được ông mô tả ở trang 57 “Một lối sống thông thường cho học sinh thời ấy, tuy có vẻ kém nền nếp và lông bông dưới con mắt của một số người…Tôi đến ở với một số bạn, xem ra toàn là đồ quỷ sứ cả, tứ chiếng giang hồ - nghĩa là ở mấy nơi khác tới. Năm đó, thi bằng Tú tài phần thứ nhất, tôi đã “trượt vỏ chuối,” tuy đã “cuốc” bở hơi tai trước kỳ thi. Nguyên nhân là khi khẩu thí, gặp ông giám khảo hắc búa, bắt tôi đọc một đoạn truyện David Copperfield” của Dickens. Tôi gân cổ đọc, còn ông chỉ ngồi cười. Sau tôi mới hiểu, vì ông chẳng nghe hiểu gì hết với cái tiếng Anh lạ tai của tôi. Tất nhiên trượt, về nhà học lại…Một điều an ủi tôi là, trong số anh em cùng trọ, không chỉ có mình tôi đã trượt vỏ chuối, mà phần lớn cũng chung một số phận. Một chàng tên Nhung, trước ngày thi, chắc mẩm lần này sẽ đỗ bằng Thành Chung, sẽ về quê vinh qui bái tổ và cưới vợ ngay, nhưng lúc treo bảng lại không thấy tên mình, tuyệt vọng, về nhà bỏ cả bữa cơm và nằm lì suốt hai ngày không nói năng. Một chàng nữa, thi Tú Tài bản xứ phần thứ Hai, cũng bị đánh rớt, nhưng vẫn thản nhiên, tối đến cùng mấy bạn xuống phố Khâm Thiên để giải sầu. Xin nói rõ là trong bọn đó không có tôi, vì còn quá nhỏ tuổi, chưa đủ tư cách.

Thế là lại phải cuốc một năm nữa. Phải nhai lại những bài cũ, nhất là tiếng Anh khô khan…Một cách chật vật tôi cũng qua được phần thứ nhất bằng Tú Tài Tây, nhờ ông giáo chấm tiếng Anh dễ dãi cho một điểm không đến nỗi quá thấp. Nhưng phải đối diện với phần thứ hai làm sao đây? Theo ý kiến của các bạn, muốn ăn chắc nên xin vào học trong trường trung học Albert Sarraut. Đây là một “trường quý tộc” hơn, nhưng gia đình cũng đồng ý cho tôi vào học, dù tiền học phí hơi cao. Mùi thực dân của trường này tất sẽ nặng nề, nhưng đành phải chịu…Học sinh có người Pháp, nhưng đa số vẫn là người Việt.” Ông Bách theo học đệ Nhất ban triết tại trường này (lớp 12 ngày nay). Theo ông kể với tôi, thời gian mới vào ông thua sút các bạn trong lớp vì kém tiếng Pháp so với cả lớp, nhưng vì ông đã đọc nhiều sách triết nên sau thời gian ngắn ông đã vượt lên trên. Trang 59 Hồi Ký ông viết “Cuối năm, dù không rốc hết sức để ôn tập các bài vở, nhưng may mắn tôi cũng được giải nhất trong lớp và tương đối dễ dàng qua được phần thứ hai bằng Tú Tài Tây, trước vẻ hân hoan của mọi người.” Ông đỗ Tú tài Tây phần hai năm 1937.

Trong tất cả 6 anh em ông Nhất Linh chỉ có BS Nguyễn Tường Bách đỗ Tú Tài rồi vào học Đại học Y Khoa Hà Nội, bởi vì vào thời các anh của ông, hệ thống giáo dục Việt Nam chỉ có tới bằng Thành Chung, tương đương bằng Trung học Đệ Nhất Cấp của Việt Nam Cộng Hòa hay bằng Trung học Cơ Sở của Việt Nam hiện nay (2021). Bằng Thành Chung còn có tên gọi khác là bằng Cao Tiểu.

Trong bài Vài nét về Trường Chu Văn An (1908-1956) “Đến niên khoá 1924-1925, Trường được phép mở thêm cấp Trung học đệ nhị cấp, cho học trò đã có bằng Cao đẳng tiểu học, để thi bằng Trung học bản xứ (Brevet de l’enseignement secondaire local), thường gọi là Tú tài bản xứ[7].” Như vậy phải 1927 mới có khóa thi Tú Tài Việt đầu tiên.

(http://www.archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/vai-net-ve-truong-chu-van-an-1908-1956.htm?fbclid=IwAR3xe-lRTsf991hD5p_o5sdR7OmndMgUYM-QVDiUdwuw-jUUXXp_YyDHHTU)

Vả lại, vào thời đó bằng Thành Chung là bằng cao nhất, đủ để vào học Cao đẳng; sau 3 năm học (ngoại trừ Y sĩ Đông Dương phải học 4 năm) ra trường sẽ có nghề và địa vị cao nhất trong xã hội (Phi Cao Đẳng Bất Thành Phu Phụ: Nhà giầu chỉ gả con gái cho những chàng trai đã tốt nghiệp Cao Đẳng) cho nên sẽ không cần thi tú tài Tây nếu gia đình không đủ điều kiện du học tự túc.

Theo nhà giáo Nguyễn Huệ Chi, từ lớp đầu tiên đến lớp cuối cùng của bậc tiểu học thời Pháp thuộc mất 6 năm gồm:– Lớp Đồng Ấu (Cours Enfantin)– Lớp Dự Bị (Cours Préparatoire)– Lớp Sơ Đẳng (Cours Élémentaire)– Lớp Nhì năm thứ nhất (Cours Moyen 1ère année)– Lớp Nhì năm thứ hai (Cours Moyen 2è année)– Lớp Nhất (Cours Supérieur).

Như vậy khởi đầu tuổi đi học hợp lệ là 6 tuổi, thì trẻ nhất để vào Đệ nhất niên (lớp 6 hiện nay) trường Bảo Hộ (sau đổi thành trường Bưởi) học sinh ít nhất phải 12 tuổi. Học 4 năm nữa mới thi Thành Chung thì học sinh phải ít nhất 16 tuổi.

Trừ Thạch Lam, tất cả năm anh em trai còn lại của ông Nhất Linh đều là cựu học sinh trường Bưởi nhưng đều là những học sinh bỏ nửa chừng để ở nhà tự học thi nhẩy lớp.

Hai anh đầu là Tường Thụy và Tường Cẩm đều học ba năm đỗ bằng Cao Tiểu (Sách của Nguên Ngu Í trang 20) Ông anh cả Nguyễn Tường Thụy sinh năm 1903, em kế Nguyễn Tường Cẩm sinh 1904. Nếu theo đúng tuổi thì 16 sẽ đỗ Thành Chung. Nhưng cả hai ông chỉ học ở trường Bưởi có một năm rưỡi rồi ở nhà tự học thêm một năm, thi băng lớp lấy bằng Thành Chung.

Hồi ký của bà Thế trang 62 viết “Anh Cả, anh Hai đỗ xong Thành Chung nhưng vì kém tuổi nên không được vào Cao đẳng. Sở sĩ kém tuổi là vì ở năm thứ Hai trường Bưởi, bà tôi thấy các anh ấy gầy yếu mới mua cao ban long cho ăn. Ăn xong bổ quá các anh bị phá lở mụn đầy người. Trường cho nghỉ về nhà chữa hẹn khi nào khỏi hẳn lên học lại. Bất đồ về chữa đến hai tháng mới khỏi, lên trường họ xóa tên không cho học nữa…Các anh tức lắm về bàn với mẹ tôi gửi mua bên Pháp đủ các thứ sách đem về học gấp. Năm sau đổi tuổi đi thi đậu, thành ra đỡ được hai năm, đỡ tốn bao nhiêu công lao và tiền bạc. Anh Cả, anh Hai bắt đầu đi dậy học.

-Hoàng Đạo thi vào trường Bưởi nhưng chỉ học ở đó một năm, sau đó ở nhà tự học một năm nữa để thi bằng Thành Chung. Trang 38 Hồi Ký của bà Thế ghi, “Vì anh Tư tôi (Hoàng Đạo) không đủ tuổi đi thi anh mới đổi là Long.” Nếu đúng tuổi đỗ Thành Chung là 16 tuổi thì Hoàng Đạo phải đỗ Thành Chung vào năm 1923 (1907 + 16 tuổi= 1923). Nhưng ở trang 20 sách của Nguien Ngu Í, Nhất Linh cho biết Hoàng Đạo thi nhẩy 2 lớp. Như vậy ta biết là Hoàng Đạo đỗ Thành Chung năm 1921; khi đó tuổi thật của Hoàng Đạo mới 14.

-Thạch Lam sinh 1910 bắt chước 3 anh, phá kỷ lục chỉ học một năm đã đỗ Cao Tiểu (Nguên Ngu Í trang 20). Trang 39 Hồi Ký của bà Thế ghi, “Riêng em Sáu tôi (Thạch Lam) phải đổi tuổi tới hai lần. Lần thứ nhất đổi là Vinh, cũng vì lý do để đủ tuổi đi thi bằng Thành Chung.” Cũng lý luận như với Hoàng Đạo, nếu đỗ Thành Chung lúc 16 tuổi thì Thạch Lam sẽ phải đỗ vào năm 1926 (1910 + 16 tuổi = 1926). Nhưng ở trang 20 sách của Nguien Ngu Í, Nhất Linh cho biết Thạch Lam thi nhẩy ba lớp, do đó Thạch Lam phải đỗ Thành Chung vào năm 1923, trước Nhất Linh.

Như vậy, sau khi đỗ Tiểu học, Thạch Lam đã không thi vào trường Bưởi mà tự học ở nhà một năm và sửa tuổi để năm sau thi băng ba lớp đỗ bằng Thành Chung luôn. Thạch Lam đỗ Thành Chung lúc mới 13 tuổi. Đây là một kỷ lục trong lịch sử thi cử trung tiểu học Việt Nam chưa nghe tới. Việc một “cậu bé” 12 tuổi mới học xong bậc tiểu học mà đã quyết định năm sau thi Thành Chung, chương trình phải mất 4 năm, kể ra là một sự lạ khó tin. Tôi tự hỏi sự hiểu biết ra sao ở tuổi 12 đã khiến Thạch Lam tự tin làm một điều có thể nói là “không tưởng” như vậy? Nhưng ông đã thành công một cách ngoạn mục vào năm 1923, khiến năm sau 1924, khi Tú Mỡ quen Nhất Linh ở sở Tài Chánh, nghe chuyện, Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu) đã có thơ mừng Thạch Lam như sau:

Gửi lời mừng bác Nguyễn Tường Vinh

Đáng bậc thần đồng bọn học sinh

Năm trước vừa ăn kỳ tốt nghiệp

Năm sau liền đỗ bậc Chung Thành

Văn hay phúc ấm nhờ tiên tổ

Cũng bởi công phu gắng học hành

(Hồi Ký Nguyễn Thị Thế trang 40)

-Mặc dù cũng học giỏi, nhưng ông Nhất Linh là người đỗ Thành Chung sau cùng trong mấy anh em, đồng thời ông cũng đỗ Thành Chung muộn màng, lúc đó ông chỉ kém 2 tháng đủ 18 tuổi. Ông sinh ngày 25/7/1906. Năm 1918 thân phụ mất, nhà nghèo, ông phải nghỉ học mất ba năm. Năm 1921 ông mới thi vào đệ nhất niên trường Bưởi. Sau hai niên khóa (1921-1923), thấy bốn người anh em của ông đều đã bỏ trường Bưởi, ở nhà tự học để thi nhẩy lớp đỗ bằng Thành Chung, ông cũng bỏ luôn học bổng của trường, ở nhà tự học một năm rồi 1924, ông đỗ bằng Thành Chung.

-Lý do mấy anh em ông Nhất Linh có thể đổi giấy khai sinh, sửa tên tuổi dễ dàng là nhờ cái triện của ông Lý trưởng Ấp Phiên Đình.

Hồi ký của bà Thế trang 72 ghi “Thỉnh thoảng chúng tôi lại sang chơi bên ấp Phiên Đình là ấp có ông Lý Trưởng đã đưa cả triện lý trưởng cho mẹ tôi muốn đóng vào đâu thì đóng. Chắc hẳn ông không thể ngờ được cái triện đó đã giúp cho mấy nhà văn nổi tiếng trong văn học sau này.”

-Thời trước 1930, danh sách các thí sinh đỗ bằng Thành Chung được đăng trên báo.

Chủ nhật, 30 Tháng 5 2021 04:36

Dac San CVA 2011

Đặc San Chu Văn An 2011

 

Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh

Chu Văn An Bắc California 

 * * *

Lời Cảm Tạ

 

         Toàn thể ban Chấp Hành Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Chu Văn An Bắc Cali và ban Biên Tập Đặc San Chu Văn An xin chân thành cảm ơn qúy bạn, qúy thân hữu đã đóng góp bài vở và qúy thày, qúy bạn đã ủng hộ tài chánh để thực hiện cuốn đặc san này:


BAN CỐ VẤN:

Nguyễn Hoàng Hải,

Phạm Hữu Độ,

Lại Quốc Ấn,

Nguyễn Thanh Giản,

Phạm Huy Thịnh,

Phạm Nguyên Khôi,

Lưu Văn Vịnh

Lâm Hữu Trãi

BAN CHẤP HÀNH:                                              

Hội Trưởng: Lê Duy San,

Phó HT: Nguyễn Đ. Khôi

Tổng TK: Vũ Văn Tới

Phó TTK: Đoàn Đ. Quý

Thủ Qũy: Nguyễn V. Mão.

TB Báo Chí: Lê Duy San,

TB Văn Nghệ: Lê Q. Tấn

PB Văn Nghệ: Bảo Ngọc



Đặc San CHU VĂN AN 2011

 

Chủ Trương:

Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Chu Văn An Bắc Cali

Ban biên tập:

Nguyễn Đức An, Nguyễn Công Bắc, Nguyễn Hữu Khánh, Nguyễn Đăng Khôi, Nguyễn Đình Phương, Trần Bích Sa, Lê Duy San, Vũ Văn Tới, Nguyễn Ngọc Tùng, Lưu Văn Vịnh.

Với sự cộng tác của:

Lâm Văn Bé, Nguyễn Quốc Chánh, Phạm Gia Đại, Trần Khánh Hồng, Lê Mạnh Hùng, Trần Khải, Đoàn Văn Khanh, Đoàn Thanh Liêm, Nguyễn Bá Liệu, Lê Nhân, Lương Nhân, Phạm Tín An Ninh, Phi Oanh, Đàm Trung Pháp, Huy Phương, Phùng Ngọc Sa, Trần Cao Sạ, Hương-Saigon, Nguyễn Văn Sâm, Lê Phục Thủy, Hồ Vĩnh Thủy

Trình bày: Nguyễn Văn Mão

Bìa: Đền thờ Cụ Chu Văn An ở Hải Dương.

Địa Chỉ Liên Lạc:

Hội Chu Văn An

2855 The Villages Pkwy # 3109, San Jose, CA 95131

Điện thọai: (408) 531-9409

Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it." style="color: rgb(0, 0, 128);">

 * * *

MỤC LỤC

01 Lá thư tòa soạn………………...                                   Ban biên tập……….       4

02 Nền GDVN thời Pháp thuộc…..                              Trần Bích San……..            8

03 Tản mạn về giáo dục…………..Lưu Văn Vịnh….…34

04 Giáo dục và thi cử thời VNCH..   Lê Duy San……….47

05 Đất Mẹ Thân Yêu (thơ)………..                                 Trần Cao Sạ………          76

06 Nghĩ về nền GDVN trước 75….                                 Vũ Văn Tới…….… 77

07 Đại Học XHCN Việt Nam…….                                 Lâm Văn Bé……....          84

08 Giáo Dục Bi Hài……………….                                Trần Khải…….….  108 09 Nền phản giáo dục của CSVN..                                                         LN sưu tầm……...115

10 Vài nhận xét về nền GDCS……                                Lê Nhân……….....122

11 Vài đề nghị về dậy dỗ con cái...Nguyễn Bá Liệu….        132

12 Làm thế nào để thành BSYK….   Hương Saigon…....     137

13 Giới thiệu các Đại Học ở Cali…                              HS sưu tầm….…..   .           149

14 Bác Sĩ, mà không là gì khác!.....Huy Phương……...       161

15 Thất Trảm Sớ………………….BBT sưu tầm….....166

16 Giáo sư Nguyễn Gia Tường…..Lê Duy San……....        170

17 Tình Thu (thơ)...……………….Phùng Ngọc Sa…..175

18 Chuyện xưa chuyện nay….……                                Đoàn Th. Liêm…..189

19 Phiếm luận về thi cử…………..Phi Oanh………...  194

20 Năm Mẹo, Xin đừng cứ mãi…..Đoàn V. Khanh.....200

21 Tinh thân Chu Văn An (thơ)…..   Trần Khánh Hồng..     214

22 Thằng Khùng………………….Đỗ Khắc sưu tầm..215

23 Về Miền Nắng Ấm…………….                                Phạm Gia Đại…...  228

24 Quê Hương và Chủ Nghĩa (thơ).Ng. Quốc Chánh    251

25 Tiểu Thư………………………  Phạm T. An Ninh..254

26 Ngôi chùa trong tâm tưởng……                                Nguyễn Văn Sâm..269 27 Kỷ Niệm Chu Văn An…….…..                                                         Nguyễn Đức An....281

28 Lời Ngỏ (thơ)…...……………..                                Hồ Vĩnh Thủy……            287

29 Nỗi nhớ khôn nguôi…………    Ng. Đ.Phương……    297

30 CVA và Sinh Hoạt Văn Hoá….Ng. Hữu Khánh….305

31Nội Quy Hội CVA Bắc Cali ….……………………312

* * *

Lá Thư Tòa Soạn

Kính thưa quí thày và qúy đồng môn,

Ý kiến cho rằng Bộ Quốc Gia Giáo Dục của hai nền đệ nhất và đệ nhị VNCH đứng ngoài cuộc chiến chống Cộng, và rằng đã không đóng góp vào công cuộc đấu tranh của quân dân miền Nam chống Cộng Sản Bắc Việt xâm lược, xem ra có ý đổ lỗi cho những người có trách nhiệm trong nền giáo dục của VNCH. Tôi e rằng ý kiến này phiến diện, thiếu bề sâu và không biết đến sự khác biệt căn bản giữa hai nền giáo dục của người quốc gia và người Cộng Sản.

Từ sau 1945 chương trình giáo dục của Pháp dành cho người bản xứ (Enseignement Franco-Indigène) bị hủy bỏ và được thay thế bằng chương trình Hoàng Xuân Hãn do hoàng đế Bảo Đại ban hành bằng dụ số 67 ngày 03/06/1945. Đây là chương trình giáo dục VN đầu tiên được áp dụng trên toàn quốc niên khóa 1945-1946. Bốn tháng sau, Bộ Trưởng Giáo Dục Vũ Đình Hoè trong Chính Phủ Liên Hiệp cho thành lập Hội Đồng Cải Cách Chương Trình Giáo Dục với phương châm “Dân Chủ, Dân Tộc, Khoa Học” theo tôn chỉ “Phục Vụ Lý Tưởng QuốcGia”. Chương trình Hoàng Xuân Hãn sau cuộc cải cách được gọi là “Chương Trình Hoàng Xuân Hãn Canh Tân”.

Người quốc gia đã sử dụng chương trình này từ 1945 đến ngày 30/04/1975 khi miền Nam VN mất vào tay Bắc Cộng. Tuy có vài thay đổi dưới thời các vị tổng, bộ trưởng giáo dục như Vũ Đình Hòe, Nguyễn Thành Giung, Phan Huy Quát, Vương Quang Nhường, Nguyễn Dương Đôn, Trần Hữu Thế, Nguyễn Quang Trình, Nguyễn Lưu Viên, Trần Ngọc Ninh, Ngô Khắc Tỉnh, nhưng nền móng căn bản vẫn là chương trình Hoàng Xuân Hãn nguyên thủy. Một cách chính xác, chương trình Hoàng Xuân Hãn đã được dùng làm căn bản và tiêu chuẩn cho mọi cải cách. Ở mỗi thời điểm sửa đổi, Hội Đồng Giáo Dục được thành lập để làm công việc bổ xung, cập nhật cho phù hợp với trình độ học sinh và đà tiến hoá của giáo dục, khoa học đương thời. Các khuyến cáo của tổ chức văn hoá, khoa học, giáo dục UNESCO thuộc Liên Hiệp Quốc đã được dùng để tham khảo trong việc sửa đổi.

Chương trình Hoàng Xuân Hãn được hoàn thành bởi những người yêu nước, các nhà trí thức trẻ tốt nghiệp từ các đại học danh tiếng của Pháp, và các nhà cựu học uyên thâm đầy tâm huyết như Hoàng Cơ Nghị, Nguyễn Dương Đôn, Phạm Đình Ái, Nguyễn Thúc Hào, Nguyễn Xiển, Đặng Phục Thông, Nguyễn Đình Thụ, Nguyễn Duy Thanh, Lê Văn Căn, Nguyễn Hữu Quán. Những người đóng góp trong việc cải cách ban chuyên khoa văn, sử địa có Tạ Quang Bửu, Đào Duy Anh, Nguyễn Huy Báo, Đoàn Nồng, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Thúc Hào, Phạm Đình Ái, Nguyễn Dương Đôn. Đây là một chương trình giáo dục dân tộc và nhân bản. Một chương trình giáo dục có tính cách vô tư, tương tự như các chương trình giáo dục tiến bộ của các nước Tây phương tự do dân chủ, coi giáo dục là một hiện tượng tự nhiên, giáo dục không phải là một hiện tượng xã hội.

Về phía Cộng Sản, vì hoàn cảnh cấp bách, Việt Minh (Cộng Sản VN trá hình) sau khi cướp được chính quyền, trong thời gian đầu đành phải tạm dùng chương trình Hoàng Xuân Hãn Canh Tân cho đến niên khóa 1949-1950. Khi đã có trường ốc và giáo chức tương đối ổn định, Việt Minh đã cải tổ giáo dục lần thứ nhất vào tháng 07, 1950 nhằm mục đích xóa bỏ tính cách vô tư của nền giáo dục. Hai quyển Giáo Dục Dân Chủ MớiNhững Vấn Đề Giáo Dục của Nguyễn Khánh Toàn, thứ trưởng Giáo Dục Việt Minh, được dùng làm căn bản cho việc cải tổ. Hai quyển này trình bày có hệ thống các quan điểm và tư tưởng giáo dục dựa trên lý thuyết của chủ nghĩa Marx-Lénin. Các giáo chức phải quan niệm giáo dục là một hiện tượng xã hội chứ không phải là một hiện tượng tự nhiên. Giáo dục và chính trị không phải là hai vấn đề riêng biệt mà giáo dục phải phục vụ cho mục tiêu chính trị. Nền giáo dục của Cộng Sản kết hợp chuyên môn với chính trị, lấy chủ nghĩa Marx-Lénin làm nền tảng nhằm phục vụ cho mục tiêu chính trị và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Giáo dục bị đặt dưới sự lãnh đạo chuyên chế tuyệt đối của đảng Cộng Sản. Tóm lại, đây là một hệ thống giáo dục phi dân tộc, phi nhân bản.

Lần cải tổ giáo dục thứ hai của chính quyền Cộng Sản Bắc Việt vào tháng 06, 1956 nhằm chuẩn bị tiến lên xã hội chủ nghĩa và xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn chi viện cho cuộc xâm chiếm miền Nam. Tóm lại, hai lần cải tổ giáo dục của Cộng Sản Việt đều nhằm sử dụng giáo dục như phương tiện để phục vụ cho các mục đích chính trị. Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy khả năng yếu kém của học sinh, sinh viên miền Bắc so với sinh viên miền Nam về mọi môn, mọi phương diện. Nhồi nhét những điều sai lạc vào đầu óc non trẻ như yêu nước là yêu bác, yêu đảng Cộng Sản, yêu xã hội chủ nghĩa, v.v.

Chiến tranh tâm lý vạch rõ sự vô nhân, tàn ác, dã man của Cộng Sản, đề cao hy sinh to lớn của quân cán chính trong việc bảo quốc, an dân là nhiệm vụ của chính phủ VNCH, là trách nhiệm của bộ Dân Vận, Bộ Thông Tin, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị (mà cựu Trung Tướng Trần Văn Trung là Tổng Cục Trưởng). Dùng hệ thống giáo dục đào tạo con người thành công cụ chống Cộng là thiển cận. Người quốc gia không thể bắt chước Cộng Sản. Chính nền giáo dục Cộng sản đã hủy hoại bao thế hệ tuổi trẻ. Chúng ta, người quốc gia, khác người Cộng Sản. Nền giáo dục của VNCH không phục vụ cho mục tiêu chính trị ngắn hạn, mà nhằm một mục đích rộng lớn hơn, lâu dài hơn, đó là: đào tạo con người với phẩm chất Việt cao, với lòng yêu nước, thương nòi.

Chương trình giáo dục của VNCH hướng vào mục đích dân tộc và nhân bản. Đâu cần phải biến học đường thành nơi hò hét chống Cộng, đâu cần học sinh xuống đường đả đảo Cộng Sản. Không cần phải làm thế nhưng chúng ta có biết bao người tự nguyện nhập ngũ chống Cộng Sản xâm lược, biết bao anh hùng có danh và vô danh hy sinh cho chính nghĩa dân tộc? Đó chính là kết quả của nền giáo dục VNCH. Những bài học từ lớp 1 đến lớp 12 đã tạo cho miền Nam những con người không những có kiến thức cao mà còn có phẩm chất cao, biết lễ nghĩa liêm sỉ, kính già yêu trẻ, giúp người hoạn nạn, cô thế, yêu tổ quốc, yêu đồng bào,v.v. Chính những con người đó khi vào đời, tự họ sẽ ý thức được việc chống Cộng, bảo vệ đất nước.

Trân trọng,

Ban biên tập

* * *

Nền Giáo Dục Việt Nam

Thời Pháp Thuộc

 

Trần Bich San, CVA60

LTS. Trần Bích San là bút hiệu của anh Trần Gia Thái, cựu học sinh CVA 57-60, du học tại Hoa Kỳ và tốt nghiệp Ph.D về quản trị Y Tế tại Đại Học Tulane. Hiện anh là Giám Đốc của Clinical Engineering Department, Touro Medical Center ở New Orleans, Louisiana.

Năm Nhâm Tuất 1862 Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ gồm 3 tỉnh Gia Định, Định Tường và Biên Hòa.  Năm Đinh Mão 1867 Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.  Hòa Ước năm Giáp Tuất 1874 công nhận chủ quyền của Pháp trên toàn thể lãnh thổ Nam Kỳ. Nam Kỳ chính thức trở thành thuộc địa (colonie) của Pháp. 

Hai hòa ước năm Quí Mùi 1883 và năm Giáp Thân 1884 (thường được gọi là Hòa Ước Patenôtre) công nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ.  Bắc Kỳ và Trung Kỳ trở thành đất bảo hộ (protectorat) của Pháp.  Ở miền Bắc, trên danh nghĩa, triều đình Huế còn quyền hành nhưng trên thực tế mọi việc do người Pháp điều khiển. Trung Kỳ do triều đình Huế cai trị nhưng được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Pháp (01).

Khi đô hộ Việt Nam, nhu cầu cấp bách của người Pháp là phải hủy diệt nền Nho học và thay thế bằng một hệ thống giáo dục phục vụ cho guồng máy cai trị.  Do đó, chiếm được Nam Kỳ xong là người Pháp lập tức khai tử nền giáo dục Nho học.  Năm 1864 là kỳ thi Hương cuối cùng ở Nam Kỳ (tổ chức ở ba tỉnh miền Tây trước khi bị Pháp chiếm). Từ 1878 chữ Hán trong giấy tờ công văn các cơ quan hành chánh được thay thế bằng chữ Pháp và chữ quốc ngữ. 

Ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, dưới quy chế bảo hộ, sự thay đổi về giáo dục chậm hơn.  Kỳ thi Hương cuối cùng ở ngoài Bắc vào năm Ất Mão 1915, và ở Huế, năm Mậu Ngọ 1918.  Chế độ giáo dục và khoa cử Nho học thực sự cáo chung với khoa thi Hội chót năm Kỷ Mùi 1919 ở Huế.  Tuy vậy mãi đến năm 1932 bộ máy quan lại của triều đình Huế mới bỏ việc dùng chữ Hán và thay thế bằng chữ Pháp hay chữ quốc ngữ.

Mục đích nền giáo dục của ngưới Pháp ở Việt Nam.

Nhìn thấy quá khứ của ta nặng về Hán học, chủ tâm của người Pháp là muốn cắt đứt liên lạc văn hóa giữa người Việt Nam với người Trung Hoa.  Để đạt mục đích hướng tinh thần người Việt về với Pháp, chữ Hán cũng như chữ Nôm cần phải triệt bỏ (02)và thay thế bằng chữ Pháp, còn văn tự cho tiếng nói người bản xứ nếu cần đã có chữ quốc ngữ cùng một họ mẫu tự La Tinh (03).

Năm 1865 soái phủ Sài Gòn cho ra đời tờ Gia Định Báo là tờ Công Báo đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ (04).  Trong tinh thần ấy, trước tiên người Pháp dựng lên những cơ sở văn hóa để truyền bá chữ Pháp và chữ quốc ngữ.  Để đáp ứng nhu cầu cấp bách trong thời gian đầu Pháp thiết lập các trường đào tạo thông ngôn.  Ngày 08/05/1861 Đô Đốc Charner ký nghị định thành lập trường Collège d’Adran để đào tạo thông ngôn người Việt và cho cả người Pháp muốn học tiếng Việt(05). Trường Thông Ngôn (Collège des Interprètes) được thiết lập ở Sài Gòn năm 1864, ở Hà Nội năm 1905.  Pháp còn thiết lập các Trường Hậu Bổ (chuẩn bị bổ ra làm quan, Apprenti Mandarin) ở Hà Nội năm 1903 và ở Huế năm 1911.  Đây là những bước đầu trong việc thiết lập một nền giáo dục của Pháp. 

Trường Bưởi (Lyceé du Protectorat)

Khi xây dựng nền giáo dục thay thế Nho giáo, người Pháp có ba mục đích:

1/ Mục đích quan trọng nhất nhằm đào tạo lớp người thừa hành chính sách của Pháp là cai trị và khai thác ở Việt Nam và cả Đông Dương. Tầng lớp này bao gồm các viên chức trong các ngành hành chánh, giáo dục, y tế và xây dựng.

2/ Thứ hai là truyền bá tư tưởng Pháp, lòng biết ơn sự khai hóa của Pháp và sự trung thành với Pháp. 

3/ Cuối cùng với mục đích mị dân, làm người Việt tin rằng hệ thống giáo dục của Pháp ở Việt Nam là văn minh và tiến bộ. Hai mục đích đầu là căn bản, mục đích thứ ba chỉ dùng để đối phó với sự đòi hỏi một nền giáo dục tiến bộ của người Việt trong tương lai mà thôi.

Hệ thống giáo dục của chính quốc đã được người Pháp ở Việt Nam điều chỉnh và thêm bớt cho phù hợp với ba mục đích trên cũng như để thích hợp với thực tế tại Việt Nam.  Đây là hệ thống “Giáo Dục Pháp Cho Người Bản Xứ” (Enseignement Franco-Indigène), thường được gọi là Giáo Dục Pháp-Việt.  Trong nền giáo dục này tiếng Pháp là chuyển ngữ tức tiếng Pháp được dùng để trao đổi trong lớp học (giảng bài, làm bài, sách giáo khoa viết bằng tiếng Pháp).  Riêng ba lớp Tiểu Học đầu là được dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ, sau đó tiếng Việt được học như một ngoại ngữ.  Ngoại ngữ thứ hai thường là tiếng Anh ở bậc Tú Tài. Chữ Hán được học theo tự nguyện, một tuần một giờ ở các lớp trên của bậc Tiểu Học nếu có thày dạy.

Để điều hành, Pháp thiết lập tại mỗi kỳ một Sở Giáo Dục Cho Người Bản Xứ (Service de L’Enseignement Local) do một Chánh Sở (Chef de Service) người Pháp đứng đầu.  Các cơ sở giáo dục này đặt trực thuộc tòa Khâm Sứ.  Mọi sự bổ nhiệm, thuyên chuyển, thăng thưởng, kỷ luật các giáo chức từ bậc Tiểu Học trở lên đều phải do vị Khâm Sứ quyết định. 

Khi Pháp thành lập liên bang Đông Dương (gồm Bắc, Trung, Nam Kỳ, Cao Miên và Lào), một số việc phải được Toàn Quyền Đông Dương (Gouverneur de l’Indochine) chuẩn y.  Nha Học Chính Đông Pháp (Direction de l’Instruction Publique de l’Indochine) ra đời do một Giám Đốc người Pháp chỉ đạo trực tiếp 5 sở giáo dục của liên bang Đông Dương.  Năm 1933, Phạm Quỳnh được Bảo Đại bổ nhiệm làm Thượng Thư Bộ Học.  Nhờ sự đòi hỏi quyết liệt của họ Phạm, Pháp phải nhượng bộ cho Việt Nam quyền quản lý các trường tiểu học ở Trung Kỳ nhưng dưới sự kiểm soát của tòa Khâm Sứ Pháp. 

Hệ thống giáo dục Pháp-Việt gồm 2 phần: giáo dục phổ thông và giáo dục cao đẳng chuyên nghiệp, đại học.

A. GIÁO DỤC PHỔ THÔNG PHÁP-VIỆT 

1. Tổ chức của hệ thống giáo dục phổ thông Pháp-Việt.

Trong thời kỳ phôi thai, Pháp thiết lập vài trường để làm nòng cốt cho hệ thống giáo dục phổ thông là các trường trung học Le Myre de Vilers ở Mỹ Tho (1879) (06), trường Quốc Học Huế (1896), trường trung học Bảo Hộ (Collège du Protectorat) tức trường Bưởi Hà Nội (1908)(07).  Ba trường này khi mới mở chỉ có bậc Tiểu Học, mấy chục năm sau mới giảng dạy đến các bậc cao hơn.  Riêng chỉ có 2 trường Quốc Học Huế và trường Bưởi sau này có đến bậc Tú Tài.  Từ 1910 đến 1930 là thời kỳ hình thành hệ thống giáo dục có tính cách hệ thống. Từ 1930 đến 1945 là thời kỳ tổ chức hệ thống giáo dục cho người bản xứ của Pháp ở Việt Nam đã được hoàn chỉnh.

Một trường Tiểu Học ở một tỉnh lỵ ở Nam Kỳ.

Song song với hệ thống giáo dục phổ thông Pháp-Việt, Pháp thiết lập 3 trường hoàn toàn như ở Pháp dành riêng cho con cái người Pháp ở Việt Nam và con cái những người Việt thân Pháp.  Đó là các trường Chasseloup Laubat (08) ở Sài Gòn (1874), trường Albert Sarraut ở Hà Nội (1918) và trường Yersin ở Đà Lạt (1935).  Cả 3 trường này lúc đầu cũng được hình thành từ bậc Tiểu Học trước rồi sau mới có đến bậc Tú Tài. 

2. Kiến trúc của nền giáo dục phổ thông Pháp-Việt.

Tới khi hình thành đầy đủ, hệ thống giáo dục phổ thông Pháp-Việt có 3 bậc với học trình là 13 năm:

2.1 Bậc Tiểu Học:

Lớp Đồng Ấu (Cours Enfantin).

Lớp Dự Bị (Cours Préparatoire)

Lớp Sơ Đẳng (Cours Élémentaire)

Lớp Nhì năm thứ nhất (Cours Moyen 1ère année)

Lớp Nhì năm thứ hai (Cours Moyen 2è année) (09)

Lớp Nhất (Cours Supérieur).

Giờ địa lý trong 1 lớp tiểu học

Bậc Tiểu học có học trình là 6 năm. Ba lớp đầu còn được gọi là bậc sơ học. Học xong lớp Sơ Đẳng học sinh thi lấy bằng Sơ Học Yếu Lược (Primaire Élémentaire)  Những học sinh được tuyển thẳng lên lớp Nhì năm thứ nhất không bắt buộc phải thi Sơ Học Yếu Lược.  Học hết lớp Nhất học sinh được thi bằng Tiểu Học Yếu Lược hay Sơ Đẳng Tiểu Học (Certificat d’Études Primaire Franco-Indigène, viết tắt là CEPFI), phải có bằng này mới được dự tuyển học lên lớp trên thuộc bậc Cao Đẳng tiểu Học.

  1. 2.2Bậc Cao Đẳng Tiểu Học

Các trường dạy bậc Cao Đẳng Tiểu Học được gọi là Collège, học trình 4 năm. Khi học xong 4 năm được thi lấy bằng Cao Đẳng Tiểu Học (Diplôme d’Étude Primaire Supérieurs Franco-Indigène) còn gọi là bằng Thành Chung.  Phải có bằng Thành Chung mới được dự thi lên bậc Trung Học tức bậc Tú Tài. 

2.3 Bậc Trung Học (Enseignement Secondaire):

Bậc Trung Học còn được gọi là bậc Tú Tài Pháp-Việt, học trình gồm 3 năm.  Học xong 2 năm đầu được thi lấy bằng Tú Tài phần thứ nhất (Baccalauréat, 1ère partie).  Đậu bằng này được học tiếp năm thứ ba không phải thi tuyển.  Năm thứ 3 được chia làm 2 ban: ban Triết và ban Toán.  Hai ban có những môn học hoàn toàn giống nhau như Sử. Địa, Ngoại Ngữ. Có những môn giống nhau nhưng số giờ học khác nhau như Đại Số, Thiên Văn.  Có những môn chỉ học ở ban này mà ban kia không có như ban Triết học Tâm Lý Học, Siêu Hình Học, ban Toán học Hình Học, Cơ Học, Số Học.

Từ niên học 1937-1938 trên toàn cõi Việt Nam đều áp dụng chương trình Pháp-Việt đủ 3 ban: Toán, Khoa Học, Triết.

Ngoài ban mình học, học sinh được phép thi tốt nghiệp các ban khác nhưng phải tự học thêm những môn mà ở ban mình theo học không có.  Học sinh cũng được phép thi bằng Tú Tài Pháp. Học xong năm thứ 3 trung học được thi lấy bằng Tú Tài Toàn Phần (Certificat de Fin d’Études Secondaire Franco-Indigènes).  Học sinh tốt nghiệp 2 hoặc 3 ban hoặc thêm bằng Tú Tài Pháp (10) được ưu tiên khi thi vào các trường Đại Học có thi tuyển như các trường Grandes Écoles ở Pháp hoặc các trường Cao Đẳng Chuyên Nghiệp ở Hà Nội lúc đó.

Từ niên học 1926-1927 Pháp thiết lập thêm chế độ Tú Tài Bản Xứ (Baccalauréat Local) học thêm các môn về văn chương Việt Nam, lịch sử, triết học Đông Phương và Cận Đông (Ấn Độ, Trung Hoa, Do Thái). Chương trình rất nặng, bị chỉ trích và ta thán rất nhiều nên đã bị hủy bỏ từ niên học 1937-1938. 

3. Các đặc điểm của nền giáo dục phổ thông Pháp-Việt.

Một đặc điểm của nền giáo dục phổ thông Pháp-Việt là hễ có bằng Tú Tài Toàn Phần thì đương nhiên được vào học các trường Đại Học (Université), nhưng muốn vào các trường Cao Đẳng thì phải qua một kỳ thi tuyển rất khó.

Trước 1945, Việt Nam chỉ có một trường Đại Học và vài trường Cao Đẳng Chuyên Nghiệp ở Hà Nội như Sư Phạm, Canh Nông, Thú Y, Công Chánh và Mỹ Thuật.

Một đặc điểm khác nữa là chương trình học do nhà nước quy định có tính cách bắt buộc trong việc giảng dạy, nhưng sách giáo khoa lại hoàn toàn do các nhà xuất bản mời người biên soạn và các sách này chỉ được dùng để tham khảo mà thôi.  Tất nhiên những sách giáo khoa do các nhà giáo có kinh nghiệm và uy tín được sử dụng nhiều hơn. 

Riêng ở bậc Tiểu Học sách giáo khoa do Nha Học Chính Đông Pháp chủ trì việc biên soạn và xuất bản, bán rẻ cho học sinh. Từ bậc Cao Đẳng Tiểu Học trở lên thì dùng sách giáo khoa xuất bản ở Pháp (trừ vài quyển về Lịch Sử Việt Nam, Địa Lý Đông Dương, Văn Học Việt Nam do các giáo chức người Pháp hay người Việt soạn và xuất bản ở Hà Nội. 

4. Giáo chức của nền giáo dục phổ thông Pháp-Việt.

Các giáo chức giảng dạy tại các trường thuộc hệ thống giáo dục phổ thông Pháp-Việt đa số là người Việt Nam.  Ở các lớp thuộc bậc Cao Đẳng Tiểu Học và nhất là ở bậc Tú Tài cũng có một số giáo chức người Pháp.  Trái lại, tại các trường hoàn toàn Pháp như Albert Sarraut, Chasseloup Laubat các giáo chức chủ yếu là người Pháp. 

Dạy bậc Sơ Học giáo chức phải tốt nghiệp Tiểu Học và học thêm một năm lớp  Sư Phạm (Cours de Pédagogie).  Giáo chức dạy bậc Tiểu Học phải tốt nghiệp bằng Cao Đẳng Tiểu Học và được bổ túc về khoa Sư Phạm. 

Nhằm đào tạo các giáo viên Tiểu Học, có các lớp sư phạm (Section Normal) vừa học sư phạm vừa học chương trình Cao Đẳng Tiểu Học. Các giáo chức bậc Cao Đẳng Tiểu Học thì phải tốt nghiệp trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội.  Muốn dạy bậc Tú Tài thì phải tốt nghiệp Cử nhân ở Pháp về hoặc phải có bằng cao hơn Cử Nhân như học vị Thạc Sĩ (Agrégé) (11).

5. Trường ốc hệ thống giáo dục phổ thông Việt- Pháp

Các trường phổ thông công lập Pháp-Việt là những nhà gạch, mái ngói kiên cố và có phòng thí nghiệm. Xét vào thời điểm 1940-1945 thì trường ốc như thế thuộc loại tốt.

Ở các huyện lỵ có trường Sơ Học. Ở tỉnh lỵ và một vài huyện lỵ lớn có trường Tiểu Học.  Các tỉnh lỵ lớn có trường Sơ Học hay Tiểu Học dành riêng cho nữ sinh. Trung bình một tỉnh có khoảng từ 2 đến 4 trường Tiểu Học, mỗi trường có từ trên 100 đến vài trăm học sinh. 

Chỉ tại các thành phố lớn mới có trường Cao Đẳng Tiểu Học. Bắc Kỳ: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Lạng Sơn, Trung Kỳ: Thanh Hóa, Nghệ An (Vinh), Huế, Quy Nhơn, Nam Kỳ: Sài Gòn, Cần Thơ, Mỹ Tho.  Các trường Cao Đẳng Tiểu Học dành riêng cho nữ sinh chỉ có ở Hà Nội (trường Đồng Khánh), Huế (trường Đồng Khánh), Sài Gòn (trường Gia Long còn gọi là trường Áo Tím). 

Bậc Trung Học (bậc Tú Tài) chỉ có ở Hà Nội (trường Bưởi), Huế (trường Khải Định), Sài Gòn (trường Pétrus Ký).  Mỗi trường có khoảng từ 100 đến 200 học sinh.  Bậc Tú Tài cũng có ở các trường hoàn toàn Pháp tại Hà Nội (trường Lycée Albert Sarraut), Sài Gòn (trường Lycée Chasseloup Laubat), ĐàLạt (Lycée Yersin).  

Lycée Yersin, Đàlạt

Ngoài hệ thống trường công còn có các trường tư phần lớn do giáo hội Thiên Chúa Giáo xây dựng ngay từ những ngày đầu Pháp chiếm Việt Nam.  Hai trường của Thiên Chúa Giáo có tiếng là trường Pellerin ở Huế và trường Taberd ở Sài Gòn.  Sau năm 1930 có một số tư thục do tư nhân mở ra ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn và ở một vài tỉnh lỵ lớn đa số là các trường bậc Tiểu Học. 

Tư thục bậc Cao Đẳng Tiểu Học chỉ có ở Hà Nội, Huế và Sài gòn.  Riêng tư thục bậc Tú Tài chỉ có ở Hà Nội và Sài Gòn, nhưng cũng chỉ có lớp cho 2 năm đầu vì học sinh đậu Tú Tài phần thứ nhất rồi thì đương nhiên được thu nhận vào trường công.

Hệ thống giáo dục phổ thông Pháp-Việt do Pháp thiết lập rất nhỏ. Trước nhất vì đó là một chương trình giáo dục chỉ nhằm đào tạo một số người thừa hành cho mục tiêu cai trị và khai thác của Pháp.  Thứ nữa, vì dân số nước ta lúc đó không nhiều, chỉ có khoảng 20 triệu người(12).

Sau khi Nhật đảo chánh Pháp ở Đông Dương chương trình giáo dục phổ thông Pháp-Việt bị bãi bỏ ở Bắc và Trung Kỳ năm 1945 và được thay thế bằng chương trình Hoàng Xuân Hãn.  Riêng miền Nam mãi đến khi quốc trưởng Bảo Đại thành lập chính quyền quôc gia mới chấm dứt áp dụng chương trình giáo dục Pháp-Việt vào năm 1949.

B. GIÁO DỤC CAO ĐẲNG VÀ ĐẠI HỌC PHÁP-VIỆT

1. Khác biệt giữa trường Cao Đẳng và Đại Học.

Hệ thống giáo dục Pháp-Việt (Enseignement Franco-Indigène) áp dụng ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc đã rập khuôn theo chế độ và tổ chức giáo dục của chính quốc nhưng được điều chỉnh, thêm bớt cho phù hợp với thực tế ở Đông Dương và chủ yếu là để đạt mục đích khai thác thuộc địa. Vì thế, học chế áp dụng tại Đông Dương cho bậc học cao nhất, hình thức tương tự như ở Pháp (lúc đầu không có thực chất, sau đuợc cải tiến vì lý do chính trị), gồm có hai loại trường là Cao Đẳng và Đại học

Trường Cao Đẳng (École Supérieure): là loại trường chuyên nghiệp, nhập học phải hội đủ điều kiện văn bằng đòi hỏi và qua một kỳ thi tuyển (concours). Trúng tuyển được cấp học bổng ăn học suốt học trình. Tốt nghiệp phải làm việc cho chính quyền (trong lãnh vực chuyên nghiệp do trường đào tạo) một thời gian ấn định (13), nếu không, theo nguyên tắc, phải bồi thường tiền học bổng. Các trường Cao Đẳng, chương trình học có qui củ và kỷ luật chặt chẽ, đào tạo các chuyên viên có nghề nghiệp nhất định như bác sĩ, kỹ sư, công chức, giáo sư.

Trường Đại Học (Université): muốn nhập học các trường Đại Học chỉ cần đủ điều kiện về văn bằng đòi hỏi mà không phải qua một kỳ thi tuyển. Việc thu nhận sinh viên không hạn định tuổi tác và số lượng.  Chương trình học chú trọng đào tạo một căn bản vững chãi cho tri thức chuyên ngành nào đó nhưng không nhất thiết đóng khung trong một lãnh vực nhất định, và cũng không mang tính chất nghề nghiệp bắt buộc như các trường Cao Đẳng chuyên nghiệp. Sinh viên phải tự túc về học phí (ngoại trừ những sinh viên xuất sắc được học bổng).  Khi tốt nghiệp chính quyền không có nhiệm vụ cung cấp việc làm, cá nhân phải tự tìm kiếm.

2. Các trường Cao Đẳng và Đại Học Đông Dương.

Ngoại trừ trường Y Dược và Công Chánh được thành lập từ đầu thế kỷ thứ 20, các trường Cao Đẳng và Đại học đã được thành lập vào khoảng cuối đệ nhất thế chiến (trong khoảng từ năm 1917 đến 1924).  Ngày 21/12/1917 toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut ra nghị định ban hành Học Chánh Tổng Qui ở Đông Dương (Règlement Général de l’Instruction Publique en Indochine) nhằm mục đích thực hiện một cách qui mô chính sách của Pháp đối với các nước ở Đông Dương. Sau đó, Qui Chế Tổng Quát về Giáo Dục Cao Đẳng ở Đông Dương (Règlement Général de l’Enseignement Supérieur en Indochine) được toàn quyền Đông Dương ban hành bằng nghị định ngày 25/12/1918. 

Lúc đầu, điều kiện để được theo học các trường thuộc hệ thống Cao Đẳng và Đại Học là phải có bằng Cao Đẳng Tiểu Học (tức bằng Thành Chung). Về sau điều kiện về văn bằng là Tú Tài Toàn Phần. Tất cả các trường được xếp vào hệ thống trường Cao Đẳng và Đại Học đều ở Hà Nội (14)và thuộc Viện Đại Học Đông Dương (Université Indochinoise) (15), gồm có:

2.1 Trường Y Khoa Đông Dương (École de Médecine de l’Indochine): 

Nghị định ngày 08/01/1902 thành lập một cơ sở đào tạo nhân viên y tế của Đông Dương do bác sĩ Yersin làm hiệu trưởng (16).  Ngày 27/02/1902 khóa đầu tiên với 29 học viên đã khai giảng tại cơ sở tạm thời ở làng Nam Đông (tức Thái Hà Ấp).  Đến cuối năm 1902 trường chuyển về cơ sở chính thức tức là trường Đại Học Y Khoa Hà Nội bây giờ. Do nghị định ngày 25/10/1904 trường mang tên là Trường Y Khoa Đông Dương nhằm đào tạo các phụ tá cho Bác Sĩ và Dược Sĩ (Médecine et Pharmacian Auxiliaire) với học trình 4 năm cho Y Khoa và 3 năm cho Dược Khoa.

Từ năm 1906 có thêm ban Thú Y. Trường còn có một lớp Nữ Hộ Sinh Bản Sứ (Sage Femme Indigène) học trình 2 năm, điều kiện nhập học chỉ cần có bằng Tiểu Học.  Do nghị định ngày 29/12/1913 trường được cải tổ và đổi tên thành Trường Y Dược Đông Dương (École de Médecine et de Pharmacie de l’Indochine). 

Từ năm 1919 có thêm môn Nhãn Khoa. 

Đến năm 1923 sắc lệnh ngày 30/08/1923 nâng trường lên bậc Cao Đẳng (école supérieure) nhằm đào tạo Bác Sĩ và Y Sĩ Đông Dương.  Trường Kiêm Bị Y Dược (École de Plein Exercise de Médecine et de Pharmacie) đào tạo Bác Sĩ với chương trình học 6 năm, 4 năm tại Hà Nội, 2 năm cuối học và trình luận án tại Pháp.  Section de Médecine et Pharmaciens Indochinois đào tạo Y Sĩ Đông Dương với chương trình học 4 năm ở Hà nội.  Năm 1930, Trường Y Dược Đông Dương trở thành một khoa (faculté) của Viện  Đại Học Hà Nội (Faculté de Médecine et de Pharmacie de l’Université de Hanoi).  Năm 1935 đánh dấu khóa Bác Sĩ tốt nghiệp đầu tiên ở trong nước do các giáo sư từ trường Đại Học Y Khoa Paris sang giảng dạy và chấm thi (17).

2.2 Trường Cao Đẳng Thú Y Đông Dương (École Supérieure Vétérinaire de l’Indochine

Ban Thú Y của Trường Y Dược được tách ra thành trường này do nghị định ngày 05/09/1917, trực thuộc Sở Thú Y Bắc kỳ, nhằm đào tạo Phụ Tá Thú Y Sĩ với học trình 4 năm.  Từ 1918 đến 1925, điều kiện phải có bằng Cao Đẳng Tiểu Học.  Trường nhận học viên không qua kỳ thi tuyển, tốt nghiệp thành Y Sĩ Thú Y. 

Từ 1925 đến 1935 phải có bằng Cao Đẳng Tiểu Học hoặc bằng Tú Tài và phải qua kỳ thi tuyển. 

Từ 1935 đến 1940 trường đóng cửa vì thiếu ngân sách. 

Từ 1941 trường mở cửa lại, phải có bằng Tú Tài và khám sức khỏe mới được dự kỳ thi tuyển.  Tốt nghiệp với văn bằng Bác Sĩ Thú Y.  Từ năm này trường được đặt dưới sự giám sát của Tổng Thanh Tra Canh Nông và Chăn Nuôi (18).

2.3 Trường Pháp Chính (École de Droit et d’Administration):

Thành lập ngày 15/10/1917 (19), lúc đầu nhằm đào tạo quan lại “ngạch Tây” phục vụ cho guồng máy cai trị của Pháp về hành chánh, tài chánh, tư pháp, học trình 3 năm, riêng ban tài chánh học 2 năm.  Tốt nghiệp được bổ dụng làm Tham Biện ở các công sở (còn gọi là Tham tá), hoặc đi làm Tri Phủ, tri huyện ở các tỉnh.  Trường được đổi thành Cao Đẳng Học Viện Đông Dương (École des Hautes Étude Indochinoises) do nghị định ngày 18/09/1924 với mục đích đào tạo ở bậc Cao học về luật pháp, chính trị, lịch sử và triết học. 

Muốn nhập học phải có bằng Tú Tài Bản Xứ hay Tú Tài Pháp, chương trình học 3 năm.  Ngày 11/09/1931 theo sắc lệnh của Tổng Thống Pháp đổi thành Trường Cao Đẳng Luật Khoa Đông Dương (École Supérieure de Droit de l’Indochine) (20).  Năm 1941 đổi thành Trường Đại Học Luật Khoa (Faculté de Droit).

2.4 Trường Cao Đẳng Sư Phạm (École Supérieure de Pédagogie):

Toàn quyền Albert Sarraut ký nghị định thành lập ngày 15/10/1917, nhằm đào tạo giáo chức cho các trường Sư Phạm Sơ Cấp và các trường Cao Đẳng Tiểu Học, học trình 3 năm.  Từ sau năm 1920 thí sinh dự tuyển phải có bằng Tú Tài Toàn Phần. 

Trường có 2 ban : 1. Ban Văn Chương (Section des Lettres) : gồm các môn học về văn chương, lịch sử, địa lý và triết học. 2.  Ban Khoa Học (Section des Sciences): gồm các môn học về toán, vật lý, hóa học và vạn vật học.

2.5 Trường Cao Đẳng Nông Lâm (École Supérieure d’Agriculture et de Sylviculture):

Thành lập do nghị định ngày 21/03/1918 đào tạo Phụ Tá Kỹ Sư Nông Nghiệp và Lâm Nghiệp, học trình 3 năm. 

Năm 1935 trường đóng cửa.  Ngày 15/08/1938 toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập Trường Chuyên Nghiệp Nông Lâm Đông Dương (École Spécial d’Agriculture et de Sylviculture) đào tạo Kỹ Sư Nông Nghiệp và Lâm Nghiệp, học trình học 3 năm.

2.6 Trường Công Chánh (École des Travaux Publics):

Thành lập bởi nghị định của toàn quyền Đông Dương ngày 22/02/1902 để đào tạo Cán Sự Chuyên Môn (agent technique) cho các sở Công Chánh, Địa Chánh và Địa Dư với học trình 2 năm, hạn tuổi từ 18 đến 25. 

Lúc đầu, điều kiện phải có bằng Tiểu Học.  Từ năm 1913 nếu có bằng Thành chung thì được miễn thi (21).  Năm 1944 đổi thành Trường Cao Đẳng Công Chánh (École Supérieur de Traveaux Publics) đào tạo Kỹ Sư và Phó Kỹ Sư Công Chánh.   

2.7 Trường Thương Mại Đông Dương (École de Commerce de l’Indochine):

Được thành lập do nghị định ngày 02/11/1920, học trình 2 năm.  Để bổ túc cho những người tốt nghiệp trường này ở Hà Nội, Trường Thương Mại Thực Hành (École d’Application Commerciale) được thành lập ở Sài Gòn năm 1922 để nâng cao kiến thức về nội và ngoại thương bằng những công tác thực tế.  Đến năm 1924 trường Thương Mại Thực Hành được sát nhập vào Trường Thương Mại Đông Dương ở Hà Nội và nghị dịnh ngày 25/08/1925 chương trình thực hành được áp dụng với học trình tổng cộng 3 năm. 

Nghị định ngày 28/09/1928 nâng lên thành Trường Cao Đẳng Thương Mại Đông Dương.  Nghị định ngày 07/04/1926 mở thêm Khoa Bưu Chính và Điện Báo (Section des Postes et Télégraphes) đào tạo Chuyên Viên Tiếp Nhận Điện Báo (Receveur) cho ngành Bưu Điện. Cũng nghị định này thành lập thêm Khoa Điện Báo Vô Tuyến (Section Radiotélégraphiques) nhằm cung cấp Chuyên Viên Kỹ Thuật cao cấp cho Sở Vô tuyến Điện (Service Radiotélégraphie) (22).

2.8 Trường Cao Đẳng Văn Khoa (École Supérieure de Lettres):

Thành lập năm 1923 nhưng đến năm 1924 bị bãi bỏ và sát nhập với Trường Pháp Chính để thành Trường Cao Học Đông Dương.

2.9 Trường Khoa Học Thực Hành (École des Sciences Appliquées):

Thành lập năm 1923 nhưng vì thiếu giáo sư và học cụ nên chỉ được một thời gian ngắn rồi bị bãi bỏ.

2.10 Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (École des Beaux-Arts de l’Indochine):

Nghị định thành lập do toàn quyền Merlin ký ngày 27/10/1924, chương trình học 3 năm do Sở Học Chánh quản trị.  Giám đốc đầu tiên là họa sư Victor Tardieu (23). Từ 1926 chương trình đổi thành 5 năm.  Năm 1927 thêm ngành Kiến Trúc.  Năm 1928 thêm Nghệ Thuật Sơn Mài.  Năm 1932 thêm ngành Khắc Chạm Kim Loại (Ciselure).  Năm 1937 Jonchère thay Tardieur làm giám đốc thêm ngành Đồ Gốm và Đồ Sứ.  Năm 1938 đổi thành Trường Mỹ Thuật và Mỹ Thuật Thực Hành Đông Dương (École des Beaux-Arts et des Arts Appliqués) bằng nghị định ngày 21/05/1938 của toàn quyền Brévié.  Nghị định ngày 22/10/1942 đặt trường trực thuộc Viện Đại Học Đông Dương (Université Indochinoise).   

3. Chủ trương của Pháp trong việc thiết lậpcác trường Cao Đẳng và Đại Học.

Năm 1907, trước cao trào thanh niên tìm cách xuất dương du học, người Pháp muốn kìm hãm và ngăn chận phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng, nên tuy việc xây dựng hệ thống giáo dục bậc trung học chưa hoàn tất, toàn quyền Paul Beau (nhiệm kỳ 1902-1907) đã ra nghị định ngày 10/11/1907 thành lập Trường Đại Học Hà Nội gồm 5 trường Cao Đẳng là Luật và Pháp Chính, Khoa Học, Y Khoa, Xây Dựng, Văn Chương (24)

Năm sau, 1908, toàn quyền Klobukowski (nhiệm kỳ 1908-1911) bãi bỏ việc thành lập này, nhưng đến năm 1918 toàn quyền Albert Sarraut tổ chức lại và giải thích : “Mở các lớp Cao Đẳmh của Trường Đại Học Hà Nội cho người An Nam để không ai có quyền ra khỏi Đông Dương…”(25).  Tuy mang tên trường Cao Đẳng và Đại Học nhưng trong thời gian từ 1902 đến 1924 thực chất chỉ là các trường chuyên nghiệp trung cấp. 

Những phê bình và chỉ trích về thực chất các trường Cao Đẳng và Đại Học của giới trí thức và báo chí Việt Nam đã áp lực người Pháp đưa đến cuộc cải cách giáo dục năm 1924-1925.  Nội dung cải cách nhằm sửa đổi qui chế các trường hiện hữu để thực sự có tính chất Cao Đẳng, cụ thể là:

-  Nâng cao trình độ tuyển sinh: ngoài điều kiện có bằng Cao Đẳng Tiểu Học (Thành Chung) phải có giấy chứng nhận đã học hết 2 năm Trung Học.  Được miễn thi nếu tốt nghiệp 3 năm Trung Học (tức có bằng Tú Tài Toàn Phần).

-  Nâng cao học trình: trung bình thêm 1 năm so với trước (cũng có trường không tăng).

-  Nâng cao nội dung giảng dạy: sửa đổi để có tính chất Cao Đẳng.

Ngoài các biện pháp trên còn dự tính tăng số giáo chức giảng huấn có học vị cao nhưng thực tế không có gì thay đổi đáng kể. Cơ sở vật chất cũng không có gì thêm.

Ngày 26/06/1940 Pháp thua trận ở chính quốc, tiếp đó Pháp đầu hàng Nhật ở Đông Dương ngày 23/09/1940.  Pháp tiếp tục cai trị dưới quyền kiểm soát của Nhật. Trong bối cảnh lịch sử đó Pháp sửa đổi chính sách giáo dục nhằm 2 mục đích :

-  Mua lòng người Việt để tranh giành ảnh hưởng trên lãnh vực văn hóa với Nhật: nhằm giữ thanh niên Việt Nam trong quỹ đạo của Pháp, người dân thuộc địa hết lòng hết sức với mẫu quốc (26).

-  Bảo đảm việc giáo dục cho các con em của người Pháp: vì tình hình chiến tranh không thể về Pháp, các con em của những người Pháp làm việc ở Đông Dương vẫn tiếp tục việc học được.

Với mục đích trên Pháp thực hiện một số thay đổi về các trường Cao Đẳng và Đại học trong năm 1941:

-  Đổi tên Trường Kiêm Bị Y Dược (École de Plein Exercise de Médecine et de Pharmacie) thành Trường Đại Học Hỗn Hợp Y Duợc (Faculté Mixte de Médecine et de Pharmacie), đổi tên Trường Cao Đẳng Luật Khoa (École Supérieure de Droit) thành Trường Đại Học Luật Khoa (Faculté de Droit) (27), mở lại Trường Cao Đẳng Thú Y và nâng cao qui chế để đào tạo Bác Sĩ Thú Y, thiết lập Trường Cao Đẳng Khoa Học (École Supérieure des Sciences) ở Hà Nội theo mô hình Trường Đại Học Khoa Học (Faculté des Sciences) ở Pháp nhằm đào tạo sinh viên về các chứng chỉ cử nhân khoa học.

-  Năm 1944 Trường Công Chánh (École des Traveaux Publics) đổi thành Trường Cao Đẳng Công Chánh (École Supérieure des Traveaux Publics) để đào tạo Kỹ Sư và Phó Kỹ Sư Công Chánh (Ingénieur et Ingénieur Adjoint Indochinois des Traveaux Publics).

Đến giai đoạn này nếu xét về mặt qui chế thì các trường Cao Đẳng và Đại học mới thực sự có tính chất một nền giáo dục Cao Đẳng và Đại Học hiện đại nếu so sánh với những trường tương đương lúc đó ở Pháp. 

Xét về thành phần giáo chức thì hầu hết do người Pháp đảm nhận, người Việt chỉ đóng vai trò trợ giảng mà thôi.  Về phương diện vật chất thiết bị thì các trường Đông Dương ở vị trí thấp nhất. Tuy nhiên, từ năm 1935 việc tuyển lựa, thi cử  rất gắt gao, kỷ luật học tập chặt chẽ.  Sinh viên Việt Nam vốn thông minh và chăm học nên phần lớn phẩm chất sinh viên tốt nghiệp đạt mục tiêu đào tạo về mặt khoa học và chuyên môn. 

KẾT LUẬN

Sau khi chiếm được toàn bộ Đông Dương người Pháp chuẩn bị và bắt tay ngay vào việc khai thác thuộc địa.  Tài lực và vật lực của Đông Dương đã đóng góp một phần đáng kể cho nhu cầu của mẫu quốc, nhất là qua hai cuộc thế chiến (28)

Việc thiết lập các trường Cao Đẳng và Đại Học nằm trong chính sách quan trọng của Pháp chủ yếu là cung cấp các cán sự phụ tá cho những người Pháp (được đào tạo ở Pháp sang), để việc khai thác tài nguyên và nhân công của thuộc địa Đông Dương trở thành qui mô và hữu hiệu hơn. 

Việc nâng các trường Cao Đẳng chuyên nghiệp và Đại Học cho các trường này có thực chất vào giai đoạn cuối của nền đô hộ không nằm trong chủ trương của người Pháp.  Chính hoàn cảnh chính trị trong giai đoạn này đã đưa đến công cuộc cải tổ có lợi về phương diện giáo dục cho dân tộc Việt Nam. 

Chú thích

(1).  Ở Huế có tòa Khâm Sứ, mỗi tỉnh có tòa Công Sứ. Mọi việc lớn nhỏ ở tỉnh phải báo cáo cho tòa Công Sứ, triều đình nhà Nguyễn phải báo cáo cho tòa Khâm Sứ ở Huế.

(2). Thư của Paulin Vial, Giám Đốc Nội Vụ, Soái Phủ Nam Kỳ gửi Quan Bố Sài Gòn ngày 15 tháng 1 năm 1866:

Dès les premiers jours, on a reconnu que la langue Chinois était une barrière de plus entre nous et les indigènes; l'ins - truction donné par le moyen de caractères iéroglyphiques nous échappait complètement; cette écriture ne permet que difficilement de transmetre à la population les notions diver - ses qui lui sont nécessaires au niveau de leur nouvelle situation politique et commercial. Nous sommes obligés en conséquence de suivre les traditions de notre propre ensei - gnement; c'est le seul qui puisse nous rapprocher des An - namites de la colonie en leur inculquant les principes de la civilisation européenne et en les isolant des influences hostiles de nos voisins

(3). Người Pháp đã phải chấp nhận sự hiện hữu của Chữ Quốc Ngữ một cách bất đắc dĩ. Việc truyền bá Chữ Quốc Ngữ ở Nam Kỳ thực ra không phải là không gặp nhiều chống đối. Báo Le Saigonnais ra ngày 10 tháng 12 năm 1885 có đăng một kiến nghị của thân hào nhân sĩ xin Hội Đồng Thuộc Địa can thiệp để triệt bỏ Chữ Quốc Ngữ, coi như một thứ chữ vô giá trị. Chữ Quốc Ngữ do các giáo sĩ Bồ Đào Nha chế tạo ra theo lối ghép vần của Bồ ngữ. Người Việt biết chữ quốc ngữ không thể dùng để học chữ Pháp. Người Pháp nếu đọc chữ quốc ngữ theo vần Pháp thì đọc sai, nhất là đối với các nhân danh và địa danh. Do đó giới người Pháp cũng không ngớt chê bai Chữ Quốc Ngữ là thứ chữ vô tích sự vì đã không giúp ích gì trong việc truyền bá chữ Pháp.

(4). Đến năm 1868 tờ Gia Định Báo được giao cho Trương Vĩnh Ký trông coi.

(5). Trường Collège d'Adran do Linh Mục Croc là thông ngôn của Đô Đốc Charner làm Quản Đốc. Từ 1866 đến 1868 Trương Vĩnh Ký trông coi trường này.

(6). Tên vị Thống Đốc Nam Kỳ, tiền thân của trường Nguyễn Đình Chiểu.

(7). Bưởi là tên làng Thụy Khê gần Hà Nội, trường Bưởi là tiền thân của trường Chu Văn An ngày nay.

(8).  Dưới thời Đệ Nhất VNCH đổi thành J. J. Rousseau, nay là trường Lê Quý Đôn.

(9). Lớp Nhì năm thứ 2 (Cours Moyen 2ème année) đến niên học 1927-1928 mới áp dụng. Như vậy từ năm 1900 đến 1927 học sinh Tiểu Học chỉ học 5 năm (nghị định ngày 18/09/1924 của Toàn Quyền Merlin ký sửa đổi một phần Học Chánh Tổng Quy của Toàn Quyền Albert Sarraut ký ngày 21/12/1917).

(10). Bằng Tú Tài Pháp-Việt hoặc Tú Tài Bản Xứ có giá trị như bằng Tú Tài Pháp (sắc lệnh của Toàn Quyền Đông Dương ký ngày 12/10/1930) nhung nhờ chương trình học của Tú Tài Pháp-Việt và Tú Tài Bản Xứ nặng hơn chương trình học của Tú Tài Pháp nên có nhiều học sinh trường Bưởi và Pétrus Ký một năm đỗ 2 hoặc 3 bằng Tú Tài như các ông Nguyễn Quang Xước (Luật Sư), Nguyễn Hữu (Thạc Sĩ Y Khoa), Hoàng Cơ Thuỵ (Bác Sĩ), Phạm Biểu Tâm (Thạc Sĩ Y Khoa), Vũ Văn Mẫu (Thạc Sĩ Luật), Chương Văn Vĩnh (Dược Sĩ), v.v.

(11).  Học vị Thạc Sĩ (Agrégé) tương đương với Cao Học (Master), cao hơn Cử Nhân, dưới Tiến Sĩ.

(12).  Theo V. Thompson trong French Indochina, London, 1967 thì tính đến năm1939 ở Việt Nam có:

   - Bậc Trung Học: 4 trường, 553 học sinh

   - Cao Đẳng Tiểu Học: 19 trường, 5,637 học sinh

   - Sơ Đẳng Tiểu Học: 447 trường, 149,805 học sinh

   - Sơ Học: 3,521 trường, 236,720 học sinh

   -        Các loại giáo huấn khác: 3,143 trường, 132,212 học sinh (theo Nguyễn Thế Anh dẫn trong Việt Nam  

Dưới thời Pháp Đô Hộ, nxb Lửa Thiêng, Sài Gòn, (1970)

(13). Theo Qui Chế Tổng Quát về Giáo Dục Cao Đẳng ở Đông Dương (Règlement Général de l'Enseignement Supérieur en Indochine) do toàn quyền Đông Dương ban hành nghị định ngày 25/12/1918 thì khi ra trường phải phục vụ chính phủ ít nhất 10 năm.

(14). Chỉ có một trường Cao Đẳng duy nhất được thiết lập ở Sài Gòn là Trường Thương Mại Thực Hành nhưng đến năm 1924 sát nhập vào trường Thương Mại Hà Nội.

(15). Theo Contrilention à l'Histoire du Viet Nam của Chesneau thì niên khóa 1937-1938 các trường chuyên nghiệp có 2,051 sinh viên, đại học Hà Nội có 547 sinh viên Việt Nam, trường Luật 335 sinh viên, trường Thuốc 176 sinh viên, trường Mỹ Thuật 33 sinh viên. Năm 1944 Trường Đại Học Hà Nội có 1,500 sinh viên trong số đó 77% là người bản xứ.

(16). Alexandre Jean Émile Yersin (22/09/1863-18/04/1943): thường gọi là Bác Sĩ Yersin, người góp công lớn trong việc thành lập Trường Y Dược và là hiệu trưởng đầu tiên của trường. Bác sĩ Yersin đã khám phá ra cao nguyên Lâm Viên cùng thành phố Đà Lạt. Ông cũng là người sáng lập ra Viện Pasteur Nha Trang.

(17).  Cho đến niên khóa 1943-1944 giáo sư Việt Nam đầu tiên được nhận giảng dạy chính thức là giáo sư Hồ Đắc Di (1901-1986).  Sau năm 1947 giáo sư Di là hiệu trưởng Trường Đại Học Y Dược Việt Nam ở Việt Bắc, rồi khoa trưởng Đại Học Y Khoa Hà Nội từ 1955 đến khi về hưu. Tính tới 1945 trường đào tạo được 51 Bác Sĩ, 152 Y Sĩ Đông Dương và một số Dược Sĩ.

(18).  Từ 1918 đến 1925 trường Cao Đẳng Thú Y đào tạo được 83 Y Sĩ Thú Y. Từ 1925 đến 1935, trường có 60 người tốt nghiệp. Niên khóa 1943 số sinh viên năm thứ nhất có 14 người (Bắc Kỳ: 5, Trung Kỳ: 3, Nam Kỳ: 2, Cao Miên: 4), năm thứ 2 có 8 người (Bắc Kỳ: 5, Trung Kỳ: 2, Nam Kỳ: 1), năm thứ 3 có 5 người (Bắc Kỳ: 4, Nam Kỳ: 1).

(19).  Trường Pháp Chính (École de Droit et d'Administration) là hậu thân của Trường Hậu Bổ (École d'Apprentis Mandarins). Trường Hậu Bổ được thành lập ở Hà Nội do nghị định của toàn quyền Đông Dương ngày 20/06/1903. Nghị định ngày 18/04/1912 đổi tên trường Hậu Bổ thành Trường Sĩ hoạn (École des Mandarins).

(20).  Đến ngày 01/01/1953 một bộ phận của trường Đại Học Luật Khoa Hà Nội được tách ra và thành lập tại Đà Lạt với tên là Trường Quốc Gia Hành Chánh Đà Lạt, trực thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục ở Sài Gòn, nhằm đào tạo cán bộ hành chánh cao cấp. Đến năm 1954 trường được cải tổ sâu rộng, trực thuộc Phủ Thủ Tướng. Năm 1955 trường chuyển về Sài gòn và dổi thành Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.

(21).  Tính tới năm 1913 Trường Công Chánh đào tạo được 22 nhân viên kỹ thuật. Niên khóa 1913-1914 tổng số học sinh là 58 người (Bắc Kỳ: 25, Trung Kỳ: 6, Nam Kỳ: 23, Cao Miên: 4)

(22).  Đến năm 1926 trường Cao Đẳng Thương Mại Đông Dương có tất cả 3 khoa. Niên khóa 1929-1930 trường có 53 sinh viên trong đó 30 người theo học khoa thương mại.

(23).  Victor Tardieu: họa sư, sinh ngày 30/04/1870 tại Lyon, Pháp, mất ngày 12/06/1937 tại Hà Nội, Việt Nam.

(24).  Nam Phong Tạp Chí số tháng 05, 1922: “Trung Học dự bị chưa có mà đã đặt Đại Học như thế thì cũng trái ngược thật!”.

(25).  Năm 1924, Reynaud, Bộ Trưởng Thuộc Địa Pháp sang thăm Đông Dương, khi đi qua cửa Trường Đại Học Hà Nội đã khen: “Ồ, cái bề mặt đẹp quá !” (O, la belle facade !). Báo chí thời đó nhắc đến câu khen có hàm ý này để phê bình thực chất của danh hiệu Đại Học và việc làm hình thức của người Pháp ở Việt Nam.

(26).  Toàn quyền Decoux thực hiện một số cải cách để mua lòng người Việt. Danh từ Đông Dương thuộc Pháp (Indochine Francaise) được đổi thành Liên Bang Đông Dương (Fédération Indochinoise) mang ý nghĩa nước Pháp giữ vai trò điều hòa quyền lợi của các xứ chứ không dự vào việc nội trị (trừ Nam Kỳ trực thuộc Pháp).  Để thanh niên không bị lung lạc tinh thần trước thời cuộc và hướng sinh lực giới trẻ vào lãnh vực vô hại cho Pháp, Decoux lập ra Sở Thanh Niên và Thể Thao và tạo nên phong trào thể thao sôi nổi một thời.

(27).  Chữ “Faculté” thường được dịch là “khoa”. Nhưng trong tổ chức đại học (Université) của Pháp thì faculté thực sự là một trường đại học, còn université là viện đại học. Trong qui chế đại học Pháp “faculté” cao hơn “école supérieure” (trường cao đẳng) vì faculté đào tạo và cấp được tới học vị tiến sĩ (Docteur).

(28).  Có hơn 100,000 người Việt đi lính, làm thợ trong cuộc chiến Pháp Đức 1914-1918 (Phan Khoang, Việt Nam Pháp Thuộc Sử, trang 414).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Chương Trình Trung Học, Nhóm Cựu Học Sinh Trường Bưởi xuất bản, Hà Nội, 1945.

- Đặng Thái Mai, Nguyên Tắc Cơ Bản của Nền Giáo Dục Việt Nam Ngày Nay, Giáo Dục Tân San, 01/1946, Hà Nội, 1946.

- Lê Văn Giạng: Lịch Sử Giản Lược, Hơn 1000 Năm Nền Giáo Dục Việt Nam, nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2003.

- Lê Văn Giạng, Nguyễn Được, Nguyễn Tùy, Nguyễn Hoặc: Lịch Sử Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp Việt Nam, nxb Viện Nghiên Cứu Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1985.

- Nguyễn Q. Thắng: Khoa Cử và Giáo Dục Việt Nam, nxb Văn Hóa, Hà Nội 1998.

- Nguyễn Q. Thắng, Từ Điển Tác Gia Việt Nam, nxb Văn Hóa, Sài Gòn, 1999.

- Nguyễn Thế Anh: Việt Nam Dưới Thời Pháp Đô Hộ, nxb Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1970.

- P. de la Brosse: Une Année de Réforme dans l'Enseignement Public en Indochine 1924-1925.

- Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, quyển 3, nxb Quốc Học Tùng Thư, Sài Gòn, 1963.

- Phan Khoang: Việt Nam Pháp Thuộc Sử (1884-1945), nxb Phủ Quốc Vụ khanh Đặc Trách Văn Hóa, Sài Gòn, 1971, nxb Sống Mới tái bản, Hoa Kỳ.

- Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, quyển 2, nxb Trung Tâm Học Liệu, Bộ Giáo Dục, Sài Gòn 1971.

- Vũ Ngọc Khánh: Tìm Hiểu Nền Giáo Dục Việt Nam Trước 1945, nxb Giáo Dục, Hà Nội 1985.

* * *

GIÁO DỤC VIỆT NAM

Nhân bản - Khai phóng - Khoa học

 Lưu Văn Vịnh, CVA 57-60 ban C

Triết Lý Giáo Dục

Cổ nhân dùng từ Giáo-Dục mang ý nghĩa giáo hoá chuyển đổi Dục-tức phần căn bản của sinh vật người, dục tính, nhằm thoát khỏi trạng thái tự nhiên của tạo vật sinh ra ( Đào Duy Anh-Hán Việt Từ Điển), định nghĩa giáo dục của Tây phương cũng không khác: từ Education gốc La tinh, ducere-conduire, là dẫn dắt một đứa trẻ thành người lớn, là phát triển mọi tiềm năng (facultes) trí tuệ, tâm lý, đạo đức (khác với từ Instruction, nghiêng về trí dục).

Quan niệm về giáo dục thay đổi tuỳ thời : 25 thế kỷ trước, Socrate và Đức Phật đều dậy môn sinh tự mình thắp đuốc lên mà đi, tự mình suy ngẫm, người thầy, sư, chỉ mặt trăng nhưng ngón tay không phải là mặt trăng, Socrate dùng phương pháp “đỡ đẻ” tinh thần, giúp thanh thiếu niên bật ra thiên tư sẵn chứa trong lòng, thức tỉnh lương tri. Sau này phương pháp giáo dục trẻ em của Dr. Maria Montessori (người Ý-1870-1952) cũng bắt nguồn từ triết lý giáo dục ấy, tôn trọng thiên tư, cho trẻ em tự do, tự học, người thầy chỉ hướng dẫn cách dùng các trợ huấn cụ.

Vạn thế sư biểu Khổng Tử cho rằng nên tạo sung túc trước rồi mới giáo hoá : Phú chi giáo chi và ngài cũng cho rằng “trong các loài, thì loài người đáng sợ nhất”, may thay, nhân chi sơ tính bản thiện, nên mới có thể giáo hoá con người từ ác sang thiện! Sau này Vương Dương Minh (đời Minh 1472-1528) đề cao Trí lương triTri Hành hợp nhất làm hướng đi cho Nho học. Môn đệ ông, Chu Di Du có sang VN đời chúa Nguyễn thuyết phục nhưng không được các nho sĩ Việt hưởng ứng nên ông bỏ sang Nhật và thành công ở đây.

Các tư tưởng gia Pháp như Rabelais tk 16, muốn đổ đầy óc học sinh (une tête bien pleine), Montaigne lại muốn một đầu óc được đào luyện tốt (une tête bien faite), Rousseau tk 18 chủ trương cần thiên nhiên (nature) làm khởi điểm cho Đạo đức, Auguste Comte tk 19 nhấn mạnh yếu tố xã hội tạo nên nhân cách và mang lại lương tri ( former et réformer l’esprit dans le bon sens) .

Nói chung một nền giáo dục đầy đủ phải bao gồm Trí dục, Đức dục, Thể dục, tổng quát thì thời xưa giáo dục nghiêng về Đức dục mà thiếu Trí dục, ngày nay lại nghiêng nhiều về Trí dục mà thiếu Đức dục. Đức dục chỉ còn trông cậy vào Tôn giáo và gia đình, công dân giáo dục giao cho luật pháp điều lệ chỉ dẫn !

Truyền Thống Giáo Dục của Văn Hoá Việt

Mỗi nền văn hóa đều kết tinh nên một loại người gương mẫu (role model, idol, hay Pháp ngữ : homme type), mẫu người Quân tử của Nho giáo, mẫu người Lịch sự quý phái-gentleman của Anh quốc, người hiệp sĩ (chevaliers) thời Trung cổ, mẫu người Võ sĩ Samurais của Nhật bản, mẫu người đạo sĩ-yogi của Ấn độ, Tiên ông tiên nữ của Lão Trang, trượng phu và thiện trí thức của Phật.. mẫu người xả thân vì giáo vụ như nhà truyền giáo Thiên chúa giáo (missionnaires)..chưa kể các mẫu người khác như người công dân tốt - bon citoyen của Pháp, mẫu người kinh doanh quản trị của xã hội kinh thương mới-businessman, entrepreneur, hoặc mẫu người do ý thức hệ tạo ra như siêu nhân của Nietzsche (1).

Xã hội Việt Nam, cả hai nghìn năm thấm nhuần văn hóa Tam giáo, cả ba nghìn năm đặt căn bản trên làng xã lũy tre xanh, hẳn cũng kết tinh một mẫu người lý tưởng bình dân thuần túy dân tộc : đấy là mẫu người HIỀN LÀNH.

Thật vậy, trong ngôn ngữ Việt, phẩm từ HIỀN được dùng nhiều nhất để chỉ định một người TỐT : Mẹ hiền, vợ hiền, cha hiền, anh hiền, chị hiền, vua hiền, tôi hiền..hiền như Bụt, ở Hiền gặp lành.. hay hiền như ma soeur.!

Ta nói Ở hiền gặp lành, thì cũng như nói làm Phước thì có Đức, ngược lại với câu “Đời cha ăn mặn đời con khát nước”, đó là lối bình dân diễn ý nhân quả,..một cách thiết thực nôm na. Người hiền lành chính là người lương thiện, có đức, có độ lượng..là đối cực của ác, bất lương, hung dữ.

HIỀN trong tiềm thức Việt bao gồm ý nghĩa : hiền lành, hiền lương, hiền đức, hiền hòa..hơn là hiền tài, hiền triết, hiền giả, mặc dầu nội dung của HIỀN nôm na và HIỀN nho bao bọc nhau, hiền thê hay vợ hiền cũng cùng một ý.

Khi nói ông Tô Hiến Thành là bậc tôi hiền thì không có nghĩa là hiền như cục đất, hay hiền triết cao xa, mà chỉ có nghĩa là người lương thiện, có tài năng đức độ chăm lo việc nước, hiền hòa với mọi người.

Người Hiền là người gương mẫu của dân Việt, được mọi người ngưỡng mộ, khi ở cấp quốc gia, như vua Hùng gặp giặc Ân phải đi cầu hiền đánh giặc, triều Trần xây gác Tập Hiền (1280) trong thành Thăng Long để quy tụ các người hiền trong dân gian theo truyền thống vua dân một lòng của hội nghị Diên Hồng..Chúa Nguyễn trọng dụng người hiền Đào Duy Từ, vua Quang Trung vời người hiền La sơn phu tử..ra giúp nước v..v..

Cũng có thể nói mẫu người HIỀN LÀNH Việt Nam là kết tinh của văn hóa hiếu hòa dân tộc, bao dung nhân bản, đồng tôn mọi đạo giáo, chủng tộc, là ước mơ của người dân được sống yên lành, là mục tiêu của giáo dục lễ giáo, lấy LỄ NGHĨA hun đúc con người, tước bỏ thú tính hung ác, bồi đắp nhân tính, Hiền từ bên trong, Lành ra bên ngoài, tạo dựng một xã hội văn hóa HỮU LỄ, tránh sát phạt nhau, tránh tiêu diệt nhau, tránh bạo động..Mẫu người Hiền Lành Việt là kết tinh của đức từ bi nhẫn nhục, đức vô vi nhân ái thương người như thể thương thân, mà người dân tôn sùng kính trọng, là lý tưởng giáo huấn của cổ nhân nhằm xây dựng một xã hội trên thuận dưới hòa với bậc thang giá trị tinh thần sĩ, nông, công, thương, hoặc như mong ước của người mẹ có dâu hiền rể thảo.

Lễ phép hiền hòa là đầu mối của một xã hội nhân bản, làm sao có làng xóm yên vui nếu không giữ lễ phép với nhau? Bỏ lễ phép, cá mè một lứa, xã hội gẫy đổ tán loạn, dân chủ bình đẳng hiểu lệch lạc dẫn tới độc tài phong kiến mới, do bè nhóm bất lương, bất thiện, cặn bã đầu đường xó chợ, hay tư bản gian tham, lôi kéo lương dân vào địa ngục thù hận giai cấp đấu tranh chèn ép nhau.

Mẫu người Hiền Lành quả là kết tinh cần thiết để thực hiện một xã hội thanh bình, ổn định, dân chúng cần người hiền hơn là cần người tài, như Nguyễn Du cho biết :

            Có tài mà cậy chi tài

            Chữ tài liền với chữ tai một vần

Tài dễ mang đến tai họa cho người và cho mình, hiền mang đến sự lành cho tất cả, nhiều người tài đưa tới tranh chấp, nhiều người hiền mang tới an lạc ..cho nên cổ nhân có tôn trọng kẻ sĩ, có tài, có học, thì cũng không bao giờ quên “chiêu hiền đãi sĩ”, nghĩa là người Hiền tiêu biểu cho đức độ, luôn luôn được đề cao bên cạnh kẻ sĩ, tiêu biểu cho trí óc. Nhưng, dường như cổ nhân đặt hiền trước sĩ, hiền là con người từ thứ dân đến thiên tử đều kính trọng, còn sĩ vẫn là người xuất thân cửa Khổng sân Trình, vẫn còn vướng vào khoa bảng sách vở, vẫn là người được Tiến Cử lên vua..hiền có thể xuất thân bình dân, có thể không khoa bảng, lấy đức độ khoan dung làm cách xử thế tiếp vật, vua cầu hiền chứ hiền không quỵ lụy vua..Hiền vượt trên danh lợi tham sân si, hiền ở đẳng cấp giai tầng nào cũng là người lành, người tốt, cảm hóa được quần chúng..Tài giỏi là một phẩm tính, hiền lành là một đức tính, khi cổ nhân đặt tiến trình giáo dục nhân cách tu, tề, trị, bình, thì tu, tề nghiêng về đức tính HIỀN, trị, bình nghiêng về phẩm tính TÀI, hiền là gốc, tài là ngọn, có đủ hai, HIỀN TÀI, thì càng hay, còn không thì phải giữ lấy cái gốc HIỀN trước, bàn dân thiên hạ không phải ai cũng có tài năng, nhưng nếu mọi người đều hiền lành thì xã hội mới trở thành an lạc thanh bình, một thiên đường dưới thế vậy.

Một sai lầm trầm trọng của nền giáo dục từ chương, và nhất là nền giáo dục Tây phương hiện tại, là chú trọng tới việc rèn luyện Tài năng, chồng chất kiến thức, mà lơ là hoặc bỏ quên gốc giáo dục tôi luyện tính Hiền Lành..Mục đích của giáo dục đúng nghĩa là tước bỏ thú tính của con người, rèn luyện tu tập thành mẫu người văn vẻ (civilized), chẳng khác gì luyện mãnh thú, hoang thú, thành hiền hòa ngoan ngoãn, sống cạnh nhau, tôn trọng nhau, biết kính biết nhường, ý thức nhân vị nhân tính.

Trong thời đại văn minh kỹ thuật, bên cạnh việc giáo dục trọng kỹ thuật, ta còn cần phát huy gốc giáo dục trọng LỄ của cổ nhân, nói như Nã Phá Luân, phải giáo dục con em từ 30 năm trước khi ra đời, nghĩa là giáo dục chính cha mẹ, thày cô ở học đường.

Văn hóa Việt Nam cốt tủy là văn hóa HỮU LỄ qua cách xưng hô theo gia tộc cô dì chú bác anh em ông cụ..hậu thế con cháu cần bồi đắp văn hóa gốc nguồn này bằng một nền giáo dục nhắm đào tạo mẫu người HIỀN LÀNH, kết tinh của văn hóa Bách Việt Hữu Lễ, chính là lý tưởng sâu rễ bền gốc của giống nòi Việt vậy.

----------------------------------------------------------------------

(1)Mẫu người văn hoá thường là kết tinh tự nhiên của đạo đức cộng đồng, thành một tấm gương cho quần chúng noi theo ( thí dụ người hiền lành, người lịch thiệp )- Khác với mẫu người do ý thức hệ hay phe nhóm đặt ra như cái khuôn gò ép, mẫu người giả tạo này có thể đưa tới hệ quả tiêu cực ( thí dụ Siêu nhân, Cán bộ… )

Toàn ban Sở Học Chính Bắc Việt trước khi di cư vào Nam 1954.

Nguyễn Hoàng Trừng (Thanh Tra Tiểu Học) Nguyễn Đình Phú (Phó Giám Đốc), Phạm Xuân Độ (Giám Đốc), Lưu Văn Minh (Thanh Tra Trung Học-Văn Chương), Nguyễn Hữu Tài ( Thanh Tra Trung Học-Khoa Học), Đặng Quang Chúc ( Thanh Tra Tiểu Học).

Các cụ đều là cựu học sinh Bưởi CVA khoảng 1915, cụ Nguyễn Hữu Tài niên trưởng (du học Pháp), nguyên giáo sư Bưởi trước 1945. GS Phú, Độ, Minh, đều tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm Đông Dương khoảng 1927. ( ảnh do bạn Đặng Quang Long, CVA 57-60, trưởng nam cụ Đặng Quang Chúc cung cấp).

Mô hình Giáo dục đời thịnh trị LÝ-TRẦN thế kỷ 11-14

Không phải tự nhiên Trời cho mà hai đời Lý Trần sản sinh vô kể

lương tướng tôi hiền như vậy. Suốt 400 năm hai đời Lý Trần đã

thành công vì giữ được ba cơ sở tinh thần dân tộc sau đây:

1-Cơ sở tinh thần dân bản Hùng Vương.

Tuy bị Tàn đô hộ gần ngàn năm, tinh thần dân bản Văn Lang

vẫn kiên thủ ở làng xã và tới Đinh, Lê, Lý, Trần tinh thần này lại có dịp

vươn lên. Các vua quan thời Lý, Trần rất gần gũi với dân, vua Lý

lấy áo đắp cho người già yếu. Vua Trần và hoàng thích “gá chân

nhau nằm ngủ”. Tướng sĩ coi nhau như cha con anh em (đặc biệt là

Phạm Ngũ Lão), lúc quốc biến thì Vua cẩn trọng hội ý bô lão toàn

quốc (trọng lễ), lúc tuyển tướng chọn quân thì dựa trên đức

độ hiền tài (trọng hiền). Nên những người áo vải dân đen như

Phạm Ngũ Lão ngồi đan sọt, Trần Khánh Dư bán than, Nguyễn Khoái,

Yết Kiêu, Dã Tượng... đều có dịp lập công với nước. Tinh thần dân

bản này đã huy động được toàn dân từ làng xóm thôn quê, từ tận

“đáy” dân tộc, nên Lý Thường Kiệt mới phá Tống Bình Chiêm,

Hưng Đạo mới ba lần đại phá Mông Cổ, bằng tự lực tự cường không

có ngoại bang nào trợ giúp đằng sau.

2-Cơ sở giáo dục văn ôn vũ luyện

Lối học của đời Lý Trần là đạo học làm người, quân bình văn và võ,

không chuộng hư văn khoa bảng, nên đời Lý mới xuất ra những bậc

văn võ toàn tài như Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành, Lý Đạo

Thành... đời Trần như Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão... Các vua

đời Lý, Trần có đạo lý và dũng lược, lúc

quốc sự đều thân chính đi đẹp giặc, vào sinh ra tử với quan quân,

không ngồi hưởng ngai vàng ngâm hoa vịnh nguyệt như các đời

sau. Đức Trần Hưng Đạo từ sáu tuổi đã được rèn luyện trong cửa chùa chẳng khác chi truyền thống huấn luyện Samurais nơi cổng Thiền !

Truyền thống văn ôn vũ luyện đúng là truyền thống giáo dục

thích hợp với xã hội Việt-Nam, luôn luôn tao loạn và toàn dân

phải thường trực phòng vệ tổ quốc. Truyền thống này, song song

với bao chiến công hiển hách, hiển nhiên là cơ sở giáo dục đúng

nhất cho con người Việt-Nam. Thời loạn, nó cung ứng cho dân tộc những

chiến sĩ thao lược, thời bình nó hun đúc tinh thần thượng

võ, ngay thẳng và quả cảm, có thể ngăn ngừa được kẻ gian ác độc

tài hại dân hại nước. Một xã hội trọng văn, một lớp sĩ “trói

gà không chặt”, khó chống được giặc trong thời loạn, khó cản được

tà trong thời bình”.

Tiếc thay truyền thống giáo dục cao đẹp này từ thế kỷ XV trở đi

(sau Nguyễn Trãi) bắt đầu bị khoa cử hư văn làm lu mờ dần bằng

tiêu chuẩn giáo dục “Tiên học lễ hậu học văn”.

3- Cơ sở tinh thần dung hóa khai phóng.

Bốn trăm năm thịnh trị Lý, Trần đã nhào nặn đúc kết một nền văn

hóa bền vững, nằm trong đại khối văn hóa Đông phương nhưng vẫn

mang sắc thái đặc biệt dân tộc. Phật giáo được xiển dương theo

hướng “Phật tại tâm” của Thiền môn Vạn Hạnh, Trúc Lâm, Nho

giáo được phát huy theo tinh thần “cùng lý chính tâm” của

Chu Văn An, Lão giáo phối hợp với nội đạo Thần Tiên và cùng với

Phật, Nho, bổ túc cho đạo sống quân bình xuất xử, tình và             lý,

thiên nhiên và tâm linh.

Nhà Trần đã kết tạo được một “cốt cách” văn hiến, một

bản lãnh trí thức cho kẻ sĩ Việt, một phong độ hiệp sĩ trượng phu bền chặt đến nỗi trải bao

thăng trầm thử thách, nó vẫn tiềm tàng trong một Nguyễn Trường Tộ

theo mới mà không bỏ gốc, trong một Phan Chu Trinh sâu rễ bền gốc

để thâu hóa tân trào, một Nguyễn Thái Học “không thành công thì

thành nhân” phản ảnh rõ rệt bản lãnh truyền thống Đại Việt mà

nhà Trần đã trao truyền lại.

Mô hình GIÁO DỤC TRONG THỜI ĐẠI KỸ THUẬT

Kỹ thuật, kỹ thuật và kỹ thuật

Kỹ thuật là chìa khóa của văn minh và là bảo đảm cho sinh tồn nòi giống.

Những cao điểm của văn minh Việt đều gắn liền với cao điểm kỹ thuật: văn minh trống đồng, kỹ thuật nỏ thần mũi tên đồng gần 3000 năm trước, đời nhà Trần kháng được quân Mông nhờ kỹ thuật chế tạo vũ khí (tại trung tâm Vạn Kiếp), thuật đóng cọc xuống lòng sông, hố bẫy ngựa... nhà Hồ chú trọng tới thực học, nhà Mạc coi trọng công thương... các nhà khác từ Hậu Lê chỉ thiên về từ chương nên Việt Nam cả ngàn năm kỹ thuật vẫn ở mức “con trâu kéo cầy”, máy móc không có, dụng cụ nghèo nàn. Nguyễn Ánh không có tàu chiến của người Tây giúp thì không đánh bại được Tây Sơn, súng Cao Thắng không cản được quân Pháp, trận Điện Biên không thể thắng nếu thiếu 200 cỗ pháo đặt quanh núi.

Viện Kỹ Nghệ, Kinh Tế và Thương Mại Đại Hàn (KIET) đưa ra con số sau đây: cứ 100,000 người Đại Hàn thì có 80 kỹ sư, ở Nhật là 41/100,000 ( thời 1980). Nhờ khối kỹ sư đông đảo, Đại Hàn đã đủ nhân lực để vận chuyển guồng máy đại kỹ nghệ ngang hàng với các cường quốc kinh tế khác.

Nhưng ở Việt Nam vì tinh thần từ chương đã bén rễ quá lâu nên cần có cuộc Cách Mạng Giáo Dục mới mong chuyển hóa được xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp. Cuộc Cách Mạng Giáo Dục có thể bắt đầu bằng cách chuyển ít nhất 50% các trường tiểu học và trung học thành trường tiểu học và trung học kỹ thuật. Số học sinh khổng lồ này học lên thành kỹ sư các ngành, bỏ ra đi làm có nghề trung cấp trong các ngành công kỹ nghệ. Trong khoảng hai mươi năm, không những có đủ số kỹ sư, số thợ, số cai thợ, mà còn chuyển hướng xã hội về công kỹ nghệ là hướng tất yếu để tồn tại và cạnh tranh trong thế giới kỹ thuật tràn ngập đời sống hàng ngày, từ thành thị đến thôn quê.

Số trường còn lại 50%, cũng phải được chuyển sang thực học, khoa học nhân văn hoặc khoa học thực nghiệm với chủ hướng huấn nghiệp hơn là cung cấp kiến thức tổng quát trên trời dưới đất. Giáo dục thực tiễn này sẽ đào tạo ra một lớp trí thức thực tế, trọng lao động, những “con ong thợ”, những con kiến xây dựng, hơn là những trí thức sa lông, viển vông tranh cãi, dễ đưa xã hội tới loạn động hoặc bất động vì nghĩ mình là “ong chúa” trong tháp ngà.

Ảnh hưởng từ chương của Tàu, ảnh hưởng trí thức Pháp, đã không giúp Việt Nam tiến bộ. Ngược lại ảnh hưởng Anh, Mỹ đã giúp nhiều nước thoát cảnh chậm tiến, nguyên do là nền giáo dục Anh Mỹ trọng làm hơn nói, trọng lao động, đó là nền giáo dục cộng đồng đại chúng uyển chuyển theo nhu cầu thời đại và địa phương. Xã hội ổn định, an cư lạc nghiệp làm sự ghen ghét sân hận giai cấp được giảm thiểu tối đa, tầng lớp trung lưu chuyên nghiệp (professionals, middle class) càng lớn thì xã hội càng bớt xáo trộn, tầng lớp trí thức không tưởng và chính trị gia chuyên nghiệp càng ít thì xã hội càng bớt phiêu lưu.

Những xáo trộn của chính trường Pháp, Ý.. trong những năm 1960-1970 đã bớt dần dần từ thập niên 1980 chính là nhờ ở sự chuyển hướng xã hội sang nền kinh tế đại thị trường với kỹ thuật điện tử, tạo ra một lớp chuyên viên và trung lưu đông đảo. Tân Gia Ba, Mã Lai, Nam Dương, Phi, Đại Hàn, Đài Loan, Thái Lan... đã và đang đi theo chiều hướng này. (Tầng lớp trung lưu ở Mỹ, Tây Âu được ước lượng là 80% dân số, ở Viễn Đông và Nam Á là 8 - 11%).

Để chuyển hướng xã hội chậm tiến Việt Nam

Sức mạnh của xã hội Việt phụ thuộc vào sức mạnh thể xác và tinh thần của người dân, vì thế trọng tâm đại kế kiến quốc phải là:

  1. Quốc sách Dưỡng Sinh và Giáo dục Võ Thuật.

Bồi dưỡng cơ thể thiếu dinh dưỡng, chú trọng tới dinh dưỡng mẫu nhi để bảo đảm sức khỏe cho thế hệ tương lai. Nâng cao y tế đại chúng, vệ sinh thành thị và nông thôn, diệt trừ ô nhiễm môi sinh.

Thể dục và Võ thuật cần trở thành môn học bắt buộc từ lớp 1 tới lớp 12. Chính tinh thần thể thao và tinh thần võ đạo là chìa khóa lành mạnh hóa xã hội, là động cơ chuyển vận con người về hướng thiện, thẳng thắn, trung thực, khác hẳn với tinh thần “cạo giấy, mọt sách, mưu mô thủ đoạn...” Thể xác lành mạnh tạo trí lực lành mạnh, nâng cao năng suất làm việc... Xã hội trọng võ thuật đời Lý, Trần, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ (thể thao)... có thể minh chứng cho lập luận trên.

  1. Quốc sách Giáo dục kỹ thuật

Chuyển 50% các trường tiểu học và trung học (từ lớp 1 đến lớp 10) thành trường Kỹ Thuật, 50% còn lại thành trường Huấn nghiệp Cộng đồng dựa trên nhu cầu địa phương. Kiến thức tổng quát được giảng dạy song song nhưng phần áp dụng thực tế phải là trọng điểm sư phạm.

Lớp 11, 12 dành cho các môn nhiệm ý dự bị Đại Học, nhờ thế chương trình Đại Học có thể rút ngắn và tập trung vào các môn chuyên nghiệp. Một số trường có thể dành riêng cho các học sinh có năng khiếu đặc biệt.

                                 *

Các cuộc cách mạng xã hội xưa nay trong lịch sử phần nhiều là các đột biến tranh giành phe phái, thay chúa đổi ngôi hơn là hoán cải gốc rễ xã hội. Nước Anh không cần hủy bỏ quân chủ mà vẫn có dân chủ trước nước Pháp, nước Nga thay thế phong kiến này bằng loại phong kiến khác, nước Tàu cách mạng văn hóa để thụt lùi...

Xét ra cách mạng giáo dục kỹ thuật mới có cơ tạo được lớp người mới, xã hội mới, vừa hợp với trào lưu thế giới, vừa hợp với khung cảnh phức tạp của chính trị nước nhà. Cuộc cách mạng này là cuộc chuyển hoán trường kỳ, tự nhiên, thúc đẩy mọi xu hướng, toàn dân vào lề lối sinh hoạt mới trong vòng 20 năm. Đây không phải là xu hướng tôn thờ máy móc cơ tâm, đây là trào lưu thế giới giúp con người thoát ly bệnh mọt sách, tôn thờ giáo điều, tôn thờ lãnh tụ. Càng hướng về “làm” bao nhiêu, óc khoa bảng và không tưởng càng bớt đi bấy nhiêu; càng hướng về “kỹ thuật” bao nhiêu, tri thức càng bén nhậy và chính xác bấy nhiêu. Đạt tới mức xã hội kinh tế phát triển, kỹ thuật tân tiến, những căn bệnh chậm tiến tự nó sẽ bớt dần và xã hội sẽ có cơ ổn định lâu dài.

  1. 3.Việc Thi cử :

Tránh tối đa việc biến sĩ tử thành nạn nhân của giám khảo, của thiên kiến chủ quan, việc chấm điểm cả trăm ngàn bài thi không những sai lầm mà còn vô lý vì tiêu chuẩn không thể giống nhau giữa các giám khảo, cho nên lối thi trắc nghiệm điện tử phải được áp dụng triệt để, ngoại trừ một số đề luận văn.

Việc dân chủ hoá học đường phải được thanh sát kỹ lưỡng: học sinh không phải nô lệ vào chủ quan tính của thày cô, và thày cô cũng cần thường xuyên tham dự các buổi tu nghiệp cả về sư phạm, nhân cách lẫn kiến thức.

TÓM TẮT :

Mẫu người Văn Hoá Hữu Lễ VN là Người Hiền. .Đời Lý Trần thịnh trị nhờ vua hiền, tôi hiền, sư hiền, nhờ tinh thần tôn giáo Đồng tôn, dân tộc Đồng quy, xã hội Đồng tiến.

Giáo dục hiện đại cần chú trọng tới việc đào tạo người hiền nhằm phục hưng văn hoá hữu lễ, song song với việc huấn nghệ chuyên môn kỹ thuật.

This essay aims at analyzing the urgent need for personality education together with technology training.

Personality education should be based on our role model, crystalized in the ideal person by our culture : the PEACEFUL SAGE, NGƯỜI HIỀN LÀNH, who playdowns violence, respects human dignity, lives peacefully with the others and tolerate all beings.

This ideal person, the PEACEFUL SAGE, NGƯỜI HIỀN LÀNH, appears and reappears throughout VN history, it is the norm for all classes in the society, including the poor. Our culture, focused on spiritual values and family happiness, could neutralize materialist ideology and create therefore a more balanced society in today new world.

                

* * *

TỔ CHỨC GIÁO DỤC

và THI CỬ dưới CHẾ ĐỘ

VIỆT NAM CỘNG HOÀ

Lê Duy San, CVA59

Sau khi Nhật đảo chánh Pháp ở Đông Dương và trao trả quyền độc lập cho Việt Nam vào năm 1945, Học Giả Trần Trọng Kim được Hoàng Đế Bảo Đại triệu vào Huế yết kiến và trao trọng trách thành lập chính phủ. Ngày 17 tháng 4 năm 1945, Học Giả Trần Trọng Kim đã đệ trình một danh sách cán nhân vật trong nội các của ông trong đó có Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn (1)đảm trách chức vụ Bộ Trưởng Giáo Dục và Mỹ Nghệ. Mặc dầu thời gian làm Bộ Trưởng Giáo Dục và Mỹ Nghệ thật ngắn ngủi, từ 17/4/1945 đến 19/8/1945 là ngày Việt Minh cướp chính quyền của chính phủ Trần trong Kim, nhưng ông cũng đã có công soạn thảo và ban hành một chương trình giáo dục từ bậc tiểu học đến trung học hoàn toàn Việt Nam và đã được áp dụng suốt 30 năm, từ 1945-1975 (2).

I/ Bậc Tiểu Học và Trung Học.

1/ Bậc Mẫu Giáo và Tiểu Học.

a/ Bậc Mẫu Giáo

Bậc Mẫu Giáo dành cho trẻ em đến tuổi đi học tức từ 5 tuổi. Chương trình chỉ có 1 năm. Mục đích của bậc mẫu giáo chỉ cốt là để cho các em làm quen với lớp học và biết đọc, biết viết để sửa soạn vào bậc Tiểu Học.

b/ Bậc Tiểu Học

Bậc Tiểu Học dành cho các trẻ em đã qua bậc Mẫu Giáo và từ 6 tuổi trở lên. Bậc Tiểu học có tất cả 5 lớp: Lớp Năm, Lớp Tư, Lớp Ba, Lớp Nhì và Lớp Nhất, sau này được đổi lại và gọi là Lớp 1, Lớp 2, Lớp 3, Lớp 4 và Lớp 5.

Chương trình Tiểu Học gồm có các môm chính như: Đức dục, Tập làm văn, Học thuộc long, Ngữ vựng, Chánh tả, Văn phạm, Toán, Hình học, Khoa Học thường thức, Sử ký, Địa lý, Vẽ, Viết tập, Thủ công, Thể dục, Hạnh kiểm v.v... Sau khi học xong Lớp Nhất phải thi lấy bằng tốt nghiệp, gọi là bằng Tiểu Học.

Mặc dầu chỉ là bằng Tiểu Học, nhưng thi cũng rất khó và không những thi viết mà còn thi cả vấn đáp. Thi viết gồm một bài Chính Tả, một bài Luận và một bài Toán. Nếu đậu sẽ được vào thi vấn đáp. Thi vấn đáp rất dễ, thường thì chỉ phải đọc thuộc lòng một bài thơ hoặc hát một bài hát.

Có bằng Tiểu Học mới được ghi tên dự thi tuyển vào lớp Đệ Thất bậc Trung Học. Bằng Tiểu Học được bãi bỏ vào năm 1955 (?). Người lớn tuổi có bằng Tiểu Học có thể xin làm công chức ngạch Tùy Phái hay Thư Ký đánh máy nếu có thêm bằng đánh máy.

2/  Bậc Trung Học.

Bậc Trung Học được chia ra làm 2: Trung Học Phổ Thông và Tú Tài.

a/ Trung Học Phổ Thông hay Trung Học Đệ Nhất Cấp.

Bậc Trung Học Phổ Thông gồm 4 lớp học trong 4 năm: Từ Đệ Thất đến Đệ Tứ. Ngoại ngữ Anh, Pháp và Hán Văn cũng bắt đầu được dậy ngay từ lớp Đệ Thất bậc Trung Học Phổ Thông. Sau này Hán Văn được bãi bỏ, chỉ còn Anh văn và Pháp văn. Lúc đầu học sinh phải học cả 2 ngoại ngữ Anh văn và Pháp văn, sau chỉ còn học một ngoại ngữ.

Chương trình học suốt từ năm Đệ Thất đến năm Đệ Tứ gồm có các môn chính như Quốc văn (Việt Văn), Công Dân Giáo Dục, Sử Điạ, Tóan, Lý Hoá, Vạn Vật, Anh Văn, Pháp Văn, Vẽ, Nhạc, Thể dục và Hạnh Kiểm v.v….

Trường Bưởi (Lyceé du Protectorat)

  

Thông Tín Bạ Lớp Đệ Tứ niên khoá 55-56 Nguyễn Trãi

Ở bậc phổ thông chưa có chia Ban A (Vạn Vật), B (Toán) hay C (Sinh Ngữ).

Sau khi học xong lớp Đệ Tứ, học sinh sẽ thi tốt nghiệp để lấy bằng Trung Học Phổ Thông còn được gọi là Trung Học Đệ Nhất Cấp. Môn thi gồm có Việt Văn, Toán, Lý Hoá, Pháp Văn, Anh Văn. Thí sinh thi đậu viết còn phải thi vấn đáp đủ các môn. Thí sinh thi trượt vấn đáp kỳ 1 được giữ điểm đậu thi viết để thi lại phần vấn đáp trong kỳ 2. Thí sinh có đậu vấn đáp mới được coi là tốt nghiệp. Sau này thi vấn đáp được bãi bỏ, chỉ còn thi viết.

  

Người có bằng Trung Học Phổ Thông có thể xin làm công chức hạng C, ngạch Thư Ký Hành Chánh hoặc thi vào Quốc Gia Sư Phạm, Quốc Gia Thương Mại hoặc ghi tên học các trường Cán Sự như Cán Sự Kiến Trúc, Cán Sự Y Tế, Cán Sự Công Chánh, Điạ Chánh v.v…. hoặc muốn theo đời binh nghiệp thì vào trường Bộ Binh Thủ Đức.

b/ Bậc Tú Tài hay Trung Học Đệ Nhị Cấp.

Bậc Tú Tài phải học 3 lớp trong 3 năm: Đệ Tam, Đệ Nhị và Đệ Nhất và được chia Ban A, B hay C ngay từ Đệ Tam và học cả 2 ngoại ngữ Anh và Pháp.

Các môn học cũng giống như ở cấp Phổ Thông gồm có Toán, Lý Hoá, Anh Pháp Văn, Công Dân, Sử Điạ, Vạn Vật, Thể dục và Hạnh kiểm. Việt Văn chỉ dậy ở 2 lớp Đệ Tam, Đệ Nhị,

Thông Tín Bạ lớp Đệ Nhị B, niên khóa 57-58 Chu Văn An

Lên Đệ Nhất bỏ môn Thể dục và môn Việt văn được thay thế bằng môn Triết học.

Muốn được nhận vào lớp Đệ Tam học sinh phải đủ điểm trung bình qua hai kỳ thi đệ nhất và đệ nhị lục cá nguyệt ở lớp Đệ Tứ để lên lớp Đệ Tam, nếu là học sinh trường công. Nếu là học sinh trường tư, phải đậu Trung Học Phổ Thông và phải qua một kỳ thi tuyển vì số chỗ có hạn.

  

Thông Tín Bạ lớp Đệ Nhất B niên khoá 58-59 Chu Văn An

Muốn được vào học lớp Đệ Nhất, học sinh lớp Đệ Nhị phải đậu bằng Tú Tài I. Sau này, bằng Tú Tài I được bãi bỏ thì phải đủ điểm lên lớp qua 2 kỳ thi đệ I và đệ II lục cá nguyệt. Sau khi học xong lớp Đệ Nhất, học sinh phải trải qua một kỳ thi tốt nghiệp để lấy bằng Tú Tài 2 còn gọi là Tú Tài Toàn Phần. Tùy theo Ban mình lưạ chọn khi ghi danh thi bằng tốt nghiệp sẽ được gọi là ban Khoa Học Thực Nghiêm (ban A), ban Khoa Học Toán (ban B) hay ban Văn Chương (ban C).

Thể lệ thi cũng giống như kỳ thi lấy bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp. Riêng sinh ngữ thì phải làm một bài nghị luận luân lý (discertation morale) cho môn sinh ngữ chính thay vì bài dịch như ở kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp.

Ở cấp Tú Tài I, thí sinh nếu có thêm bằng Thể Thao khi thi bằng Tú Tài I sẽ được thêm 1 điểm trong kỳ thi Viết. Kỳ thi Tú Tài I rất khó, nhiều thí sinh thiếu nửa điểm cũng trượt. Nên nếu có Bằng Thể dục để được thêm 1 điểm rất là qúy.

Có bằng Tú Tài Tòan Phần có thể ghi danh các trường Đại Học như Khoa Học, Luật Khoa hay Văn Khoa hoặc các trường Đại Học Y, Nha, Dược, trước năm 1963 (?) hoặc thi vào các trường chuyên nghiệp như Cao Đẳng Sư Phạm, sau này là Đại Học Sư Phạm, Cao Đẳng Công Chánh tức kỹ sư Công Chánh, Cao Đẳng Điện Học tức kỹ sư Điện, Cao Đẳng Hoá Học tức kỹ sư Hoá Học, Cao Đẳng Nông Lâm Súc, Quốc Gia Hành Chánh hoặc xin làm công chức hạng B, ngạch Tham sự. Hoặc nếu muốn theo đường binh nghiệp thì có thể thi vào các trường Võ Bị Đà Lạt, Haỉ Quân, Không Quân.

Chương trình giáo dục Trung và Tiểu Học Việt Nam do Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn soạn thảo dựa theo trương trình giáo dục của Pháp, tuy nặng về từ chương, thiếu tính cách thực dụng, nhưng có trình độ khá cao. Bất cứ một học sinh nào, sau khi qua được bậc Tú Tài (Trung Học Đệ Nhị Cấp) đều có đủ trình độ và khả năng để theo bậc đại học không những ở trong nước mà cả ở các nước tiền tiến như Anh, Pháp hoặc Hoa Kỳ, Gia Nã Đại v.v…

II/ Bậc Đại Học

Nếu chương trình Tiểu Học và Trung Học VN còn gọi là Chương Trình Hoàng Xuân Hãn được áp dụng ngay từ năm 1945 thì mãi tới năm 1955, năm Thủ Tướng Ngô Đình Diệm được dân miền Nam bầu làm Tổng Thống và nền Đệ Nhất Cộng Hoà được ra đời thì chương trình Đại Học Việt Nam mới bắt đầu được dần dần thay đổi. Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã cử Giáo Sư Nguyễn Quang Trình, Tiến Sĩ Hóa Học tại Paris, thay thế ông De Lassus làm Viện Trưởng đầu tiên của Viện Đại Học Saigon dưới quyền quản trị của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. Ngoài Viện Đại Học Saigon, sau còn có Viện Đại Học Huế, Viên Đại Học Đà Lạt và Viện Đại Học Cần Thơ v.v…

Viện Đại Học Saigon

A/ Tiền thân của Viện Đại Học Saigon.

Tiền thân của Viện Đại Học Saigon là Viện Đại Học Đông Dương (Université Indochinoise) do chính quyền thuộc địa Pháp thành lập vào năm 1906 (?) và trụ sở đặt tại Hà Nội. Sau đệ nhị thế chiến, Viện Đại Học Đông Dương được đổi thành Viện Đại Học Hà Nôi. Sau Hiệp Định Genève 1954 chia đôi đất nước, Viện Đại Học Hà Nội di chuyển vào Nam và trở thành Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam. Vào năm 1957, Viện Đại Học Huế được thành lập, Viện Đại Học Quốc Gia Việt Nam trở thành Viện Đại Học Saigon, trụ sở đặt tại số 3 Công Trường Chiến Sĩ.

Viện Đại Học Saigon có 2 ký túc xá: một là Đại Học Xá Minh Mạng ở Ngã Sáu Chợ Lớn dành cho nam sinh viên và một Đaị Học Xá Trần Qúy Cáp ở đường Trần Qúy Cáp, thuộc quận Nhất, dành cho nữ sinh viên.

B/ Các phân khoa thuộc Viện Đại Học Saigon.

Các phân khoa thuộc Viện Đại Học Saigon gồm có:

1/ Đại Học Văn Khoa, trụ sở lúc đầu ỏ đường Nguyễn Trung Trực, quận Nhất, sau di chuyển về đương Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận Nhất.

2/ Đại Học Luật Khoa, trụ sở ở đương Duy Tân, quận Nhất.

3/ Đại Học Khoa Học, trụ sở ở đường Cộng Hoà, quận Năm.

4/ Đại Học Sư Phạm, trụ sở đăt tại đường Cộng Hoà, quận Năm.

5/  Đại Học Kiến Trúc, trụ sở tại đường Pasteur, quân Ba.

6/  Đại Học Y Khoa, trụ sở lúc đầu ở đương Trần Qúy Cáp, quân Ba, sau di chuyển về Đại Lộ Hồng Bàng, quân Năm.

7/ Đại Học Dược Khoa, trụ sở lúc đầu ở đường Trần Qúy Cáp , quân Ba, sau di chuyển về đường Công Lý (góc Hiền Vương), quận Ba.

8/  Đại Học Nha Khoa, trụ sở ở đường Nguyễn Trãi, quận Năm.

Lúc đầu trường Đại Học cũng còn tiếp tục giảng dạy bằng tiếng Pháp vì chưa đủ giáo sư người Việt. Cho đến khi số Giáo sư người Việt đầy đủ, tất cả các Giáo sư người Pháp rút lui vào khoảng năm 1964 và cũng kể từ năm này, toàn thể các Giáo sư người Việt lãnh trách nhiệm giảng dạy cho toàn thể các trường Đại Học ở miền Nam Việt Nam.

Ngoài Viện Đại Học Saigon , sau này còn có Viện Đại Học Huế, Viện Đại Học Đà Lạt, Viện Đại Học Cần Thơ v.v… chương trình giảng dậy cũng tương tự, nhưng không đầy đủ các phân khoa như Viện Đại Học Saigon và thành phần giáo sư cũng không được chọn lọc kỹ như Viện Đại Học Saigon.

Viện Đại Học Saigon tuy là là Viện Đại Học của miền Nam Việt Nam, nhưng phải nói là một Viện Đại Học uy tín nhất Việt Nam gồm toàn các giáo sư Thạc Sĩ, Tiến Sĩ phần lớn đều tốt nghiệp ở các trường Đại Học danh tiếng ở ngoại quốc về nước giảng dậy và cũng là nơi đào tạo ra không biết bao nhân tài cho đất nước.

1/ Trường Đại Học Luật Khoa.

Trường Đại Học Luật Khoa được chính quyền bảo hộ Pháp thành lập vào đầu thập niên 1920. Lúc đầu có tên là Trường Cao Đẳng Pháp Chánh Đông Dương (École Supérieure d’ Administration Indochinoise) (3), trụ sở đặt tại Hà Nội. Năm 1933 trường được đổi thành trường Cao Đẳng Luật Học (École Supérieure de Droit). Tới năm 1938, trường được nâng lên hàng phân khoa (Faculté) và được gọi là Luật Khoa Đại Học Đường (Faculté de Droit).

Từ năm 1955 trở đi, trường Đại Học Luật Khoa bắt đầu giảng dạy bằng tiếng Việt vì trong giai đoạn này, trường Luật Khoa có rất nhiều Giáo sư Việt Nam với đầy đủ các cấp bằng Thạc Sĩ, Tiến Sĩ tốt nghiệp tại Phápnhư: Giáo sư Vũ Văn Mẫu, Giáo sư Vũ Quốc Thúc, Giáo sư Vũ Quốc Thông, Giáo sư Nguyễn Cao Hách v.v …

Ngoài trường Đại Học Luật Khoa Saigon, sau này chính quyền Việt Nam Cộng Hoà còn cho mở thêm trường Đại Học Luật Khoa Huế vào năm 1957 và trường Đại Học Luật Khoa Cần Thơ vào năm 1966.

a/ Cấp Cử Nhân.

Trường Đại Học Luật Khoa lúc đầu chỉ có 3 năm giống như chương trình Cử Nhân Luật của Pháp. Vì nước nhà đã độc lập nên chương trình học loại bỏ môn Dân Luật của Pháp và được thay bằng Dân Luật Việt Nam. Thời gian học vẫn là 3 năm. Mỗi năm đều có thi tốt nghiệp và có cấp phát bằng tốt nghiệp gọi là Bằng Cử Nhân I, II hoặc III và văn bằng này được thay thế cho Văn Bằng Cử Nhân Luật Khoa thực sự trong khi chờ đợi Văn Vằng Cử Nhân Luật Khoa thực sự được cấp phát. Việc ghi danh cũng như theo học trường Luật tương đối dễ hơn những trường khác, sinh viên có thểchỉ cần mua sách hoặc những bài in Ronéo của Giáo sư đem về nhà học, nên số sinh viên ghi danh rất đông. Tuy nhiên tỉ số đậu lại rất thấp. Nếu tính tỷ lệ theo số sinh viên ghi danh năm thứ nhất với số sinh viên tốt nghiệp năm cuối cùng thì chỉ khoảng 5%.

Tới đến năm 1963 trường Luật theo học trình của trường Đại Học Khoa Học và Văn Khoa, đổi thời gian học lên đến 4 năm thay vì 3 năm. Sinh viên học năm nào phải thi tốt nghiệp năm ấy. Mỗi năm có 2 kỳ thi vào tháng 6 và tháng 9. Sinh viên năm thứ nhất cuối năm có đậu mới được lên năm thứ hai. Chương trình thi bao gồm hai phần: thi Viết và thi Vấn đáp.

Trước ngày thi, giáo sư bốc thăm 2 môn trong số 7 môn đã học. Hai môn này sẽ được chọn làm đề thi Viết với thời gian 2 giờ. Năm môn còn lại, dành cho thi Vấn đáp. Muốn vào thi Vấn đáp, thí sinh phải đậu phần thi Viết. Nếu rớt Vấn đáp, thí sinh sẽ đuợc giữ điểm thi Viết cho kỳ 2 cùng năm và chỉ thi lại Vấn đáp mà thôi.

Lên năm thứ ba, sinh viên sẽ chọn ngành: Tư Pháp (tốt nghiệp làm Thanh Tra hoặc Luật sư Tập sự), Công Pháp (tốt nghiệp thường làm ở Quốc Hội), Kinh Tế (tốt nghiệp làm ở Ngân Hàng)…và thi tốt nghiệp Cử Nhân Luật của ngành đã chọn vào cuối năm thứ tư.

Chương trình học gồm có hai phần: Phần kiến thức tổng quát và phần chuyên môn.

Phần kiến thức tổng quát gồm có các môn: Kinh tế, Bang Giao quốc tế, Các Tổ Chức Quốc Tế, Các Học Thuyết Chính Trị, Tài Chánh, Pháp Chế Sử, Luật Báo Chí, Phạm Tội Học, Luật Đối Chiếu v.v…

Phần chuyên môn gồm có các môn luật thuần túy như Luật Dân Sự, Dân Sự Tố Tụng, luật Tài Sản, Luật Hình Sự, Hình Sự Tố Tụng, Luật Hiến Pháp, Luật Thương Mại, Luật Hành Chánh, Tố Tụng Hành Chánh, Luật Bảo Hiểm, Luật Lao Động, Luật Ngân Hàng, Luật Hàng Hải, Quốc Tế Công Pháp, Quốc Tế Tư Pháp v.v…

Người có bằng Cử Nhân có thể xin vào làm công chức hạng A tại các bộ hoặc thi vào các ngạch chuyên môn như gạch Thẩm Phán, ngạch Tham Vụ Ngoại Giao, ngạch Thanh Tra Lao Đông, Thanh Tra Ngân Hàng, Thanh Tra Quan Thuế v.v…hoặc xin vào Luật Sư Đoàn tập sự để hành nghề Luật Sư.

b/ Cấp Tiến Sĩ.

Sau khi tốt nghiệp Cử Nhân, nếu muốn tiếp tục học để lấy bằng Tiến Sĩ Luật, sinh viên phải học thêm 2 năm nữa để lấy thêm hai bằng Cao Học của ngành mình lựa chọn hoặc Công Pháp hoặc Tư Pháp.

Chương trình ban Cao Học được chia làm 2 cấp: Cấp I và cấp II. Sau khi đậu cấp I gọi là Cao Học I, sinh viên mới được ghi danh học cấp II. Chương trình mỗi cấp gồm có 2 phần: Phần tổng quát ôn lại và phần thâm cứu những môn chính đã học ở cấp Cử Nhân.

Sau khi có được 2 bằng cao học, sinh viên phải tìm một ông thày đỡ đầu để làm luận án Tiến Sĩ. Thời gian có thể là 1 năm hay nhiều năm, tùy theo ông thày đỡ đầu xét xem luận án có đạt được đầy đủ những tiêu chuẩn mà ông ta mong muốn hay chưa. Vì thế nhiều sinh viên mặc dầu đã có 2 bằng cao học, nhiều khi cả năm bẩy năm sau vẫn chưa được trình luận án để lấy bằng Tiến Sĩ.

2/ Trường Đại Học Văn Khoa.

Tiền thân của Trường Đại học Văn khoa Saigon là Trường Đại học Văn khoa Hà Nội do Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Phan Huy Quát cho thành lập vào năm 1949 thời Quốc gia Việt Nam. Hoạt động của Trường trong những năm kế tiếp bị gián đoạn vì tình hình chính trị. Mãi đến năm 1955, thời Đệ nhất Cộng hòa, Trường Đại học Văn khoa Saigon mới được ưu tiên phát triển. Lúc đầu Trường Đại học Văn khoa cấp bằng cử nhân văn chương Pháp và Anh nhưng và phải đến năm học 1957-1958 thì chương trình cử nhân giáo khoa văn chương Việt Nam mới được hoàn thiện. Cũng năm đó chương trình cử nhân giáo khoa triết học cũng được xây dựng hoàn tất.

Tương tự như trước năm 1954, cách tổ chức và chương trình của trường không có gì thay đổi. Giáo sư phụ trách giảng dạy của trường gồm các giáo sư sau: Giáo sư Nghiêm Toản dạy môn Văn Chương Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Đăng Thục, Kỹ sư Hóa Học tại Pháp, chuyên về Triết Học Đông Phương, Giáo sư Bùi Xuân Bào, Tiến Sĩ Văn Chương Pháp, dạy Pháp Văn, Giáo sư Lê Trung Nhiên, Tiến Sĩ Văn Chương Pháp tại Đại Học Sorbonne, dạy môn Pháp Văn, Giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, Tiến Sĩ Văn Chương Pháp tại Đại Học Sorbonne, giảng dạy môn Pháp Văn và môn Văn Minh Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Đình Hòa, Ph D, dạy môn Anh Văn…

Các Giáo sư phụ trách môn Việt Hán thường là các thầy dạy Việt Văn từ Trung học hoặc là một vài Giáo sư dạy chữ Hán có bằng Cử Nhân hoặc Tiến Sĩ Hán Học. Các vị Giáo sư Việt Văn và Triết Học, Sử Địa thường không có bằng Tiến Sĩ cho nên họ chỉ là Giảng Sư của trường nhưng sau năm 1972 vì công lao to lớn của các vị này đào tạo nhiều Giáo sư Trung Học dạy các môn Việt Văn, Sử Địa v..v…cho nên chính phủ đặc cách một số vị không có bằng Tiến Sĩ, làm Giáo Sư Đại Học. Ta cũng nên kể một vài vị có bằng Tiến Sĩ từ Pháp hay Mỹ giảng dạy nhưng không quá 5 vị trong số này. Trường Văn Khoa cấp phát được một số bằng Cao Học môn Địa Lý và Sử Học, Anh và Pháp nhưng chưa cấp phát được một bằng Tiến Sĩ nào cả.

Ngoại trừ các môn Hán Văn, Anh Văn và Pháp Văn, các môn khác nhưViệt Văn, Ngôn Ngữ và Văn Chương, Văn Phạm Việt Nam, Sử Ký, Địa Lý Việt Nam và Quốc Tế đều dậy bằng Việt Ngữ.

Cũng như các đại học khác, muốn theo học Đại Học Văn Khoa, sinh viên phải có bằng Tú Tài Toàn Phần.

Trường Đại Học Văn Khoa học theo Chứng Chỉ. Năm đầu, sinh viên chỉ dược học 1 chứng chỉ duy nhất đo là chứng chỉ Dự Bị Văn Khoa. Chứng chỉ này có nhiều loại khác nhau, tùy sinh viên lựa chọn cho hợp với văn bằng Cử Nhân mà mình lưạ chọn. Sau khi đậu được chứng chỉ Dự Bị Văn Khoa, mỗi năm sinh viên có thể ghi học 2 chứng chỉ. Nhưng thực tế rất ít sinh viên đậu được 2 chứng chỉ trong một năm.

Ngoài Chứng Chỉ Dự Bị, Sinh viên nào có thêm được 4 chứng chỉ đòi hỏi cho văn bằng Cử Nhân của mình thì được cấp văn bằng Cử Nhân Giáo Khoa. Còn nếu một trong 4 chứng chỉ đó không đúng thì bằng Cử Nhân đó không được gọi là bằng Cử Nhân Giáo Khoa mà gọi là Cử Nhân Văn Khoa thường thôi. Thí dụ:

- Cử Nhân Giáo Khoa Việt Hán, ngoài chứng chỉ Dự Bị còn phài có 4 chứng chỉ sau: Văn Chương Việt Nam, Ngôn Ngữ và Văn Minh Việt Nam, Hán văn và Chứng chỉ Sử Việt Nam hoặc Địa Lý Điạ Phương.

-  Cử Nhân Sử Địa, ngoài chứng chỉ Dự Bị còn phải có 4 chứng chỉ Sử Việt Nam, Sử Thế Giới, Địa lý Điạ Phương và Chứng chỉ Địa Chất Học (Geology).

-  Cử Nhân Anh Văn ngoài chứng chỉ Dự Bị (Anh Văn) còn phải có 4 chứng chỉ sau: Văn Chương Việt Nam, Văn Chương Anh, Ngôn Ngữ và Văn Minh Anh và một chứng chỉ nhiệm ý như Pháp văn hoặc, Chứng chỉ Sử (hoặc Địa).

- Cử Nhân Pháp Văn, ngoài chứng chỉ Dự Bị (Pháp Văn) còn phải có 4 chứng chỉ sau: Văn Chương Pháp, Ngôn Ngữ và Văn Minh Pháp, Việt Văn và Chứng Chỉ Anh Văn hoặc, Chứng chỉ Sử (hoặc Địa).

- Cử Nhân Triết Học có 2 loại: Cử Nhân Triết Học Tây Phương và Cử Nhân Triết Học Đông Phương.

Muốn lấy Cử Nhân Triết Học Tây Phương, ngoài chứng chỉ Dự Bị, sinh viên phải có chứng chỉ Tâm Lý, Đạo Đức, Xã Hội, Chứng Chỉ Luận Lý, Chứng Chỉ Siêu Hình và Chứng Chỉ Lịch Sử Triết Tây.

Muốn lấy Cử Nhân Triết Học Đông Phương ngoài chứng chỉ Dự Bị, sinh viên còn phải có chứng chỉ Triết Học Trung Hoa, chứng chỉ Triết Học Á Đông, chứng chỉ Đạo Đức Đông Phương, chứng chỉ Lịch Sử Triết Đông Phương.

Người có bằng Cử Nhân có thể xin tuyển làm giáo sư dậy trung học hoặc thi vào ngạch Tham Vụ Ngoại Giao.

3/ Trường Đại Học Khoa Học.

Tiền thân của trường Đại Học Khoa Học Saigon là trường Đại Học Hà Nội. Năm 1954, Hiệp Định Genève ký kết chia đôi Việt Nam thành hai miền Nam Bắc, trường Đại Học Khoa Học Hà Nội được di chuyển vào Nam và đổi tên là trường Đại Học Khoa Học Saigon.

Lúc đầu chương trình được giảng dậy hoàn toàn bằng tiếng Pháp và có rất nhiều giáo sư người Pháp giảng dậy. Chương trình được Việt hoá dần dần. Tới năm 1970 thì chương trình được giảng dậy hoàn toàn bằng tiếng Việt.

Cho tới năm 1975, trường Đại Học Khoa Học Saigon cũng chỉ mới có cấp Cử Nhân, chưa có cấp Tiến Sĩ. Những sinh viên tốt nghiệp Cử Nhân, muốn học thêm để lấy bằng Tiến Sĩ phải xin đi du học ở ngoại quốc.

Chương trình học Cử Nhân là 4 năm. Một sinh viên xuất sắc có thể hoàn tất Cử Nhân trong 3 năm. Nhưng nhiều sinh viên phải học tới 5, 6 năm mới hoàn tất.

Năm đầu, sinh viên chỉ có thể học một trong ba chứng chỉ sau:

MG (Mathematics Générale),

MPC (Mathematics. Physics, Chemistry).

SPCN (Science, Physics, Chemistry, Natural).

Sang năm thứ hai, sinh viên có thể học 2 chứng chỉ.

Nhưng thường rất ít sinh viên có thể đậu được 2 chứng chỉ trong một năm.

a/ Cử Nhân Khoa Học Toán.

Ngoài chứng chỉ Dự Bị MG, sinh viên còn phải có 3 chứng chỉ sau:

-  Calculus Diffirenciale.  

-  Mechanics Rationale.

-  Physic Generale.

b/ Cử Nhân Khoa Học Vật Lý.

Ngoài chứng chỉ Dự Bị MPC, sinh viên còn phải có 3 chứng chỉ sau:

-  Physic Generale.

-  Chemistry General.

-  Mechanics Rationale.

c/ Cử Nhân Khoa Học Tự Nhiên.

Ngoài chứng chỉ Dự Bị SPCN, sinh viên còn phải có 3 chứng chỉ sau:

-  Biology Animale.

-  Physiology Vegetable

-  Geophysics.

Những sinh viên mặc dù đã có đũ 4 chứng chỉ, nhưng không đúng theo theo luật đòi hỏi thì không được gọi là Cử Nhân Giáo Khoa Khoa Học mà chỉ được gọi là Cử Nhân Khoa Học thôi.

Vì các chứng chỉ trên rất khó, nên số sinh viên tốt nghiệp Cử Nhân hàng năm rất hiếm, không đử để cung cấp cho nhu cầu nên sau này, nhiều chứng chỉ đã được chia ra làm hai hoặc ba chứng chỉ để sinh viên theo học cho dễ dàng. Thí dụ chứng chỉ Vật Lý Đại Cương (Physic Generale) được chia làm 2 chứng chỉ Quang Học , Điện Học và Nhiệt Học. Vì thế các sinh viên sau này thường phải có tới tám, chín cái chứng chỉ mới hoàn tất xong bằng Cử Nhân Khoa Học.

4/ Đại Học Sư Phạm.

Trường Đại học Sư Phạm Saigon là hậu thân của trường Cao Đẳng Sư Phạm Saigon. Niên khoá 1958-1959 trường Cao Đẳng Sư Phạm Saigon được đổi thành trường Đại Học Sư Phạm Saigon. Thời gian học vẫn giữ nguyên là 3 năm, sau thời gian tăng lên 4 năm và trong thời gian học có học bổng $1500 / một tháng, sau tăng lên $2000 / một tháng.

Trường có 2 chương trình. Chương trình 2 năm để đào tạo giáo sư trung học Đệ Nhất Cấp và chương trình 4 năm để đào tạo giáo sư Trung Học Đệ Nhị Cấp.

Muốn được nhận vào học, sinh viên phải có bằng Tú Tài Toàn Phần và phải qua một kỳ thi tuyển. Những sinh viên có chứng chỉ Dự Bị Văn Khoa được miễn thi và vào học ngay năm thứ 2, nếu muôn học các ban Việt Hán, Sử Địa, Pháp Văn hay Anh Văn. Những sinh viên có chứng chỉ Dự Bị Khoa Học như MG, MPC hay SPCN đựơc miễn thi và vào học ngay năm thứ 2 nếu muốn học các ban Toán, Lý Hoà và Vạn Vật.

Chương trình gồm có hai phần: Phần tổng quát chung cho các Ban và phần chuyên môn riêng cho từng Ban. Phần chuyên môn của các Ban Việt Hán, Sử Địa, Anh Văn và Pháp Văn gần giống như chương trinh Cử Nhân Việt Hán, Cử Nhân Sử Địa, Cử nhân Anh Văn và Cử Nhân Pháp Văn của trường Đại Học Văn Khoa Saigon và phần chuyên môn của các Ban Toán, Lý Hoá, Vạn Vật gần giống như chương trình Cử Nhân Toán, Cử Nhân Lý Hoá và Cử Nhân Vạn Vật của trường Đại Học Khoa Học. Vì thế những sinh viên xuất sắc, sau khi tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm cũng tốt nghiệp luôn Cử Nhân Văn Khoa hoặc Cử Nhân Khoa Học.

Suốt 17 năm, từ 1958 đến 1975, trường Đại học Sư Phạm Saigon đã đào tạo hàng ngàn giáo sư trung học đệ nhất và đệ nhị cấp về kiến thức chuyên môn cũng như về tư cách, đạo đức và luân lý chức nghiệp.

Năm 1975 miền Nam Việt nam sụp đổ, với thể chế mới, hầu như mọi thứ đều bị thay đổi từ tên gọi cho đến các cơ cấu tổ chức cũng như chương trình giảng dậy.

5/ Đại Học Kiến Trúc.

Kể từ năm 1954, trưởng Cao Đẳng Kiến Trúc Saigon thuộc Viện Đại Học Saigon được đổi tên thành trường Đại Học Kiến Trúc Saigon. Trường có 2 chương trình: Chương trình 2 năm cho Ban Cán Sự Kiến Trúc và chương trình 6 năm cho ban Kiến Trức Sư. Tuy nhiên muốn được ra trường, sinh viên phải có một luận án thi tốt nghiệp và luận án này phải được Hội Đồng Thi chấm đậu.

Sinh viên muốn vào học Ban Cán Sự phải có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp và muốn vào học bán Kiến Trúc Sư phải có bằng Trung Học Đệ Nhị Cấp tức bằng Tú Tài Toàn Phần.

a/ Ban giảng huấn.

Ban giảng huấn của trường phần lớn là các Kiến Trúc Sư tốt nghiệp Pháp như Trần Văn Tải, Kiến trúc sư Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris, Bùi Quang Hanh, Kiến trúc sư Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris, Phạm Văn Thâng, Kiến trúc sư Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris, Louis Pineau, Kiến trúc sư Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris, Văn bằng Thiết kế Đô thị, Nguyễn Quang Nhạc, Kiến trúc sư Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris, Huỳnh Kim Mãng, Kiến trúc sư Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris, Tô Công Văn, Kiến trúc sư Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris, Lê Văn Lắm, Kiến Trúc Sư Kiến Trúc và Kiến thiết Đô Thị Beaux Arts Paris, Trần Phi Hùng, Kiến Trúc Sư Đại Học Saigon và Thiết Kế Đô Thị Đại Học Cornell, USA, Lê Trọng Kha, Kiến Trúc Sư Beaux Arts Paris, Võ Doãn Giáp, Họa sư tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Nguyễn Bá Lãng,Kiến trúc sư DPLG, Paris, Ngô Khắc Trâm, Kiến trúc sư tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Nguyễn Hữu Thiện, Kiến trúc sư tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Một số các Kỹ Sư tốt nghiệp tại Pháp hay ngoại quốc cũng được mời làm giảng viênnhư Trần Văn Bạch, Kỹ sư Dân sự Kiều lộ Trường Quốc gia Kiều lộ Paris, Phan Đính Tăng, Kỹ sư Dân sự Kiều lộ Trường Quốc gia Kiều lộ Paris, Lê Kim Đính, Cử nhân Toán, Chứng chỉ Cao học Thiên văn Thẩm cứu (Certificat d'étude supérieures d'Astronomie approfondie), Nguyễn Đình Hải, Tốt nghiệp Viện Anh ngữ của Đại học Michigan, Hoa Kỳ (English Language Institute, University of Michigan), Lê Văn Hợi, Kỹ sư trường Cao đẳng Công chánh Eyrolles Paris, Nguyện Văn Kiết, Cử nhân Văn khoa và Văn chương Cao học, Trịnh Hữu Định, Trang trí gia tốt nghiệp Truờng Quốc gia Cao đẳng Trang trí Paris, V õ Đức Diễn, Kỹ sư Trường Bách khoa Montréal, Phạm Minh Cảnh, Kỹ sư tốt nghiệp Viện Kỹ thuật Normandie, Mai Hiệp Thành, Kỹ sư Công chánh.

b/ Chương trình ban Kiến Trúc Sư:

Năm thứ 1.

-  Kiến trúc nhập môn, Kiến trúc sáng tạo học, Cổ điển họa và nặn hình.

-  Toán học, Hình học họa hình.

-  Lịch sử tổng quát kiến trúc;

-  Phép Thiết thể và Vật liệu Kiến tạo.

-  Pháp văn, Anh văn.

Năm thứ 2

-    Kiến trúc sáng tạo học, Cổ điển họa và nặn hình.

-    Toán học đại cương, Hình học họa hình.

-    Lý thuyết Kiến trúc.

-    Phép Thiết thể và Vật liệu Kiến tạo.

Năm thứ 3

-    Kiến trúc sáng tạo học, Cổ điển họa và nặn hình.

-    Kiến tạo đại cương: Lý thuyết.

-    Vật lý, Địa chất học áp dụng vào khoa Kiến trúc.

-    Phép phối cảnh, Lý thuyết Kiến trúc.

-    Sức chịu đựng của vật liệu.

Năm thứ 4

-          Kiến trúc sáng tạo học, Kiến tạo đại cương: Lý thuyết và đồ án

-    Bê tông cốt sắt.

-    Ước lượng vật liệu và kiểm điểm.

-    Lịch sử tổng quát Kiến trúc, Lý thuyết Kiến trúc.

-    Luật nhà phố.

Năm thứ 5.

-    Kiến trúc sáng tạo học, Kiến tạo áp dụng

-    Luật nhà phố.

-    Tổ chức nghề nghiệp, Lý thuyết Kiến trúc.

-    Địa thể học áp dụng kiến trúc;

-    Kiến tạo đại cương: Đồ án và kỹ thuật.

Năm thứ 6

-    Kiến trúc sáng tạo học.

-    Bê tông cốt sắt thực hành.

-    Đồ án trang trí nhà cửa.

Luận án thi tốt nghiệp (3 tháng cuối niên học), thường là một dự án vẽ kiểu nhà hoặc cao ốc (Building) rồi phải trình Hội Đồng Giáo Sư để được tốt nghiệp. Khi tốt nghiệp được cấp bằng Kiến Trúc Sư.

6/ Trường Đại Học Y Khoa:

Trường Đại Học Y Khoa Saigon là hậu thân của trường Y Dược Khoa Đông Dương thuộc Viện Đại Học Đông Dương (Université de l’Indochine) trụ sở đặt tại Hà Nội. Năm 1954, Hiệp định Genève ký kết chia đôi Việt Nam, trường di chuyển vào Nam, trụ sở nằm trên đường Testard sau đổi là đường Trần Qúy Cáp và có tên mới là Đaị Học Y Khoa và Dược Khoa Saigon.

Cách tổ chức của trường Y Khoa vẫn tương tự trước năm 1954.

Tới năm 1961, trường tách đôi ra thành 2 trường riêng biệt là Đại Học Y Khoa và Đại Học Dược Khoa và cũng trong năm này, các giáo sư người Pháp lần lượt được giải nhiệm và ban giảng huấn Việt Nam được hoàn toàn thay thế. Năm 1966, trường được dọn tới địa điểm mới là Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa vưà hoàn tất năm trên Đại Lộ Hồng Bàng, Chợ Lớn.

Ban giảng huấn gồm có một số giáo sư Thạc Sĩ rất tài giỏi như Giáo sư Nguyễn Hữu, Giáo sư Phạm Biểu Tâm, chuyên về giải phẫu, Giáo sư Trần Ngọc Ninh, chuyên về xương, Giáo sư Ngô Gia Hy, chuyên về nội thương, đặc biệt về thận, Giáo sư Trần Anh, chuyên về giải phẫu, trưởng khu Cơ Thể Học và từng giữ chức vụ Viện Trưởng Viện Đại Học Sài Gòn, v.v…

Thời gian học là 7 năm. 5 năm lý thuyết và 2 năm nội trú, ngoài ra còn phải trình một luận án mới được cấp bằng Bác Sĩ Y Khoa.

Năm đầu là năm Dự Bị được học bên Đại Học Khoa Học để lấy chứng chỉ PCB (Phisique, Chimie, Biologie). Về sau muốn vào học Y khoa phải qua một kỳ thi tuyển, nhưng vẫn phải sang Đại Học Khoa Học học đê lấy chứng chỉ PCB. Năm thứ nhất có một kỳ thi về Cốt Học (Osteologie) ngay sau 2 tháng nhập học. Sinh viên có qua được kỳ thi này mới được tiếp tục học .

Năm thứ 2 là năm khó nhất. Sinh viên nào có bằng PCB thì được vào học ngay năm thứ hai. Ở năm thứ 2,nếu sinh viên thi 4 lần liên tiếp (mỗi năm 2 kỳ), tức 2 năm liền mà vẫn chưa lên được năm thứ 3 thì bị đuổi ra (sortie laterale). Vì thế có người sau 3 kỳ liên tiếp mà không đậu, không dám thi kỳ thứ tư nữa mà phải để tới năm sau mới dám thi.

Năm thứ ba, ngoài những giờ học lý thuyết ở giảng đường, sinh viên bắt đầu đi thực tập ở các bệnh viện hoặc chia nhau đi canh gác tại các nhà thương chẳng hạn nhà thương chuyên bênh lao Hồng Bàng...

Đến năm thứ 4, sinh viên có thể dự kỳ thi tuyển nội trú. Sinh viên nào không dự kỳ thi này hoặc không đậu thì đến năm thứ 6 cũng được làm công việc của một nội trú viên tức là cũng được trực bệnh viện như các sinh viên nội trú nhưng mang một bảng tên riêng gọi là “stagiaire interne”. Loại sinh viên này ít quyền hạn và phải phụ thuộc vào sinh viện nội trú thực sư.

Mãi đến sau năm 1970, trường bắt đầu giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Việt nhưng bắt buộc sinh viên dùng tài liệu Y Khoa bằng tiếng Anh để tham khảo. Nhờ vậy, sau năm 1975, các vị Bác Sĩ này khi di tản sang Hoa Kỳ có đủ khả năng thi lại bằng Bác Sĩ tương đương.

7/ Trường Đại Học Dược Khoa

Trước năm 1961, trường Đại Học Dược Khoa được nhập chung với trường Đại Học Y khoa. Tới ngày 31/8/1961, trường Đại Học Dược Khoa tách ra và đượcgọi là Dược Khoa Đại Học Đường với vị Khoa Trưởng đầu tiên là GS Thạc Sĩ Dược Khoa Trương Văn Chôm. Trụ sở trường được đặt tại góc đường Cường Để và đại lộ Thống Nhất.

Ban giảng huấn gồm một số giáo sư danh tiếng như: Giáo sư Trương Văn Chôm, Thạc Sĩ Dược Khoa, Giáo sư Đặng Vũ Biền, Tiến Sĩ Dược Khoa tại Đại Học Sorbonne, Giáo sư Tô Đồng, Dược Khoa Tiến Sĩ tại Đại Học Sorbonne, Giáo sư Nguyễn Vĩnh Niên, Tiến Sĩ Dược Khoa tại Pháp, Giáo sư Đặng Vũ Biền v.v…Một số giáo sư tốt nghiệp tại Mỹ về như GS Trần Ngọc Tiếng, Ph.D., GS Thanh Thủy, Ph.D., GS Chu Phạm Ngọc Sơn, Ph.D, GS Lê Phục Thủy, Ph.D.

Chương trình học của trường Đại Học Dược Khoa cũng giống như trước năm 1954, phỏng theo chương trình của Pháp và phần lớn các môn đều dậy tuyền bằng tiếng Pháp, cho tới năm 1970 trường mới hoàn toàn dậy bằng tiếng Việt. Thời gian học cũng vẫn là 5 năm. Năm đầu tiên gọi là năm tập sự (stagiaire). Ngoài việc học ở trương còn phải được một Dược Phòng nhận cho tập sự.

Cuối mỗi năm đều có kỳ thi lên lớp.

Chương trình theo Pháp nên nặng về Hoá Học, Thực Vật và Dược Liệu Học, nhẹ về Động Dược Học và kỹ nghệ sản xuất thuốc cũng như khiá cạnh thương mại của Dược Khoa.

Thể lệ thi cử cũng khó khăn, nếu có một môn dưới điểm trung bình tức 9/20 là bị loại.

Mỗi kỳ gồm có 3 đợt: thực tập, thi viết và vấn đáp. Đợt 1 không đủ điểm trung bình không được thi đợt 2. Đợt 2 không đủ điểm trung bình không được thi đợt 3. Mỗi năm có 2 kỳ thi. Rớt 4 kỳ liên tiếp là bị đuổi.

Lúc đầu trường chỉ có cấp bằng Dược Sĩ Quốc Gia (Pharmacien d’État), mãi tới năm 1969, trường mới có thêm chương trình đào tạo Tiến Sĩ Dược Khoa Đệ Tam Cấp (Docteur du troisième cycle de Pharmacie), tương đương với bằng Pharmacy Doctor của Mỹ. Dược Sĩ Lý Công Tuấn là Tiến Sĩ Dược Khoa Đệ Tam Cấp đầu tiên được đào tạo tại VN.

8/ Trường Nha Khoa.

Cũng giống như trường Dược Khoa, trường Nha Khoa trước kia cũng chỉ là một ngành của trường Đại Học Y-Dược Hà Nội, sau là Đại Học Y-Dược Saigon. Đến ngày 12/8/1962, ngành Nha Khoa tách khỏi trường Y khoa trở thành Nha Khoa Đại Học Đường Saigon.

Chương trình trường Đại Học Nha Khoa là 5 năm và tốt nghiệp được cấp bằng Nha Sĩ. Ai muốn có bằng Tiến Sĩ Nha Khoa thì phải qua Pháp học.

Ban giảng huấn gồm một số các giáo sư tốt nghiệp tại Pháp như: Giáo sư Lê Trọng Phong, Tiến Sĩ Nha Khoa Đại Học Paris, Giáo sư Nguyễn Văn Thơ, Tiến Sĩ Nha Khoa Đại Học Paris….

Cũng như các đại học khác, muốn được nhập học phải có bằng Tú Tài 2 (Toàn Phần), không phân biệt là Tú Tài ban Khoa Học Toán hay ban Khoa Học Thực Nghiệm. Về sau, cũng như trường Y Khoa, phải có chứng chỉ Dự Bị khoa học như PCB hoặc SPCN và còn phải qua một kỳ thi tuyển.

Chương trình gồm có nhiều môn và mỗi môn đều có 2 phần: lý thuyết và thực hành. Mỗi phần đều có kỳ thi riêng.

Mỗi năm có 2 kỳ thi: đệ nhất và đệ nhị lục cá nguyệt. Số điểm của 2 kỳ cộng lại chia 2 thì có kết quả chung cho từng môn vào cuối năm. Dù chỉ một môn không đủ điểm trung bình là phải học đúp lại.

Ngoài các Viện Đại Học Saigon, Huế, Đà Lạt, và Cần Thơ còn có những Trung Tâm Giáo Dục và các Học Viện khác như:

-  Trung Tâm Bách Khoa Bình Dân thuộc Hội Văn Hoá Bình Dân Giáo Dục do ông Huỳnh Văn Lang thành lập để dậy văn hoá hoặc huấn nghệ cho các người lớn tuổi.

-  Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ đào tạo các kỹ sư cho 4 ngành Công Chánh, Điện Học, Hoá Học và Công Nghệ.

-  Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc để đào tạo Kỹ Sư Nông Nghiệp, Kỹ Sư Thủy Lâm và Kỹ Sư Thú Y,

-  Học Viện Quốc Gia Hành Chánh để đào tạo Đốc Sự Hành Chánh và Cao Học Hành Chánh và Cao Học Ngoại Giao.

v.v…

Chương trình giáo dục và thể lệ thi cử dưới thời Việt Nam Cộng Hoà còn được gọi là chương trình giáo dục Hoàng Xuân Hãn phỏng theo chương trình giáo dục của Pháp, tuy không được hoàn hảo nhưng có trình độ và thực chất. Đây là chương trình giáo dục nhân bản và khai phóng tôn trọng tự do dân chủ và nhân quyền nhằm phát triển toàn diện con người trong chiều hướng tốt cả về trí dục, đức dục và thể dục. Nền giáo dục thời VNCH không hề áp đặt một học thuyết hay một chủ nghĩa nào nhất là không đưa chính trị vào học đường bắt học sinh phải tuân theo như trong các thể chế độc tài đảng tri như Cộng Sản.

Chỉ trong vòng 2 thập niên, nền giáo dục thời VNCH đã đào tạo cả trăm ngàn chuyên viên và cán bộ các cấp có đầy đủ khả năng chuyên môn cũng như khả năng lãnh đạo cho miền Nam Việt Nam.

Chú thích

(1). Ngày 19/12/1946, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, giáo sư Dương Quảng Hàm tản cư ra hậu phương. Trên đường tản cư, khi qua sông, giáo sư không may bị trúng đạn từ máy bay Pháp bắn chết vào ngày 26/12/46. Nhưng cũng có nguồn tin cho rằng giáo sư đã bị Việt Minh bắn chết trên đường tản cư.

(2). Sau khi Việt Minh cướp chính quyền từ chính phù Trần Trọng Kim, chính phủ Liên Hiệp do Hồ Chí Minh làm Chủ Tịch được thành lập, giáo sư Hoàng Xuân Hãn được thay thế bởi ông Vũ Đình Hòe và chương trình được thay đổi đôi chút cho phù hợp với lý tưởng phục vụ quốc gia và dân tộc. Nhưng chương trình này đã bị Việt Minh bãi bỏ hoàn toàn sau khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ vào ngày 19/12/46 và chỉ được chính phủ quốc gia sử dụng sau khi được Pháp trao trả độc lập và sau này là chính phủ Việt Nam Cộng Hoà.

(3). Muốn theo học trường này chỉ cần có bằng Diplôme hoặc Brevet Élémentaire tức bằng Cao Đẳng Tiểu Học sau này gọi là bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp.


 * * *

Đất Mẹ Thân Yêu

Đến Muôn Đời

Tôi muốn tìm về những ngày xưa,

Của thời bé bỏng rất vô tư.

Vui chơi cùng với bao bè bạn,

Mái trường tiểu học tuổi ngây thơ.

Tôi muốn tìm về tuổi thiếu niên,

Tuổi mơ, tuổi mộng, tuổi hoa niên.

Tuôỉ của những phút giây hồi hộp,

Đứng đợi cổng trường-- bóng giáng em.

Tôi muốn tìm về tuổi đôi mươi,

Khi tôi thật sự bước vào đời.

Bao nhiêu hào khí, bao cao vọng.

Mắt sáng môi tươi đẹp nụ cười.

Tôi muốn tìm về thời dọc ngang,

Kiếp sống nổi trôi—rất ngang tàng.

Núi sông một gánh hai vai nặng

Trả nợ giống nòi, chẳng thở than!

Tôi muốn tìm về quê hương tôi,

Nơi tôi cất tiếng khóc chào đời.

Nơi tôi ôm ấp bao kỷ niệm,

Đất mẹ thân yêu đến muôn đời..

Trần Cao Sạ – CVA65.

* * *

NGHĨ VỀ NỀN GIÁO DỤC

VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Vũ-Văn-Tới, CVA60

Ngựơc dòng thời gian hơn nửa thế kỷ về trứơc, với tuổi đời ngoài thất thập mới nhìn lại nền giáo dục tại miền Nam Việt Nam-một việc mà mọi ngừơi đã nghĩ, đã làm-thì thật là quá muộn màng. Nhưng ngừơi viết chỉ muốn đóng góp một phần nhỏ suy nghỉ của mình vào Đặc San Chu Văn An 2011 có chủ đề về Gáo Dục. Ngừơi viết cũng không phải là nhà biên khảo hay phê bình mà chỉ viết lên những gì đã thấy và tự bản thân đã kinh qua.

I. Tính chất và ưu điểm của nền giáo dục tại miền Nam Việt Nam trước 1975

Có thể nói nền giáo dục tại miền Nam Việt Nam trứơc 1975 là một nền Giáo Dục Nhân Bản, tích cực, có chất lượng và đã thăng hoa nhiều kết quả tốt.

Nền giáo dục Nhân Bản vì mọi người dều có quyền lợi được giáo dục miễn phí đến hết bậc Trung Học và được giúp đỡ ở Đại Học và Trên Đại Học. Tuy thời kỳ trước 1975 miền nam cũng có nhiều trường tư nhưng chỉ dành cho các học sinh kém may mắn không vào được trường công.

Tính tích cực của nền giáo dục là luôn luôn được câp nhật những phương pháp giáo dục mới từ các nước phát triển. Các công cụ và phương tiện giảng dạy cũng được trang bị đầy đủ. Đội ngũ giảng dạy và quản lý giáo dục luôn luôn được tu nghiệp các kiến thức mới tân tiến. Chính các điểm này tạo cho nền giáo dục có chất lượng cao.

3/ Nền giáo dục ở Nam Việt Nam trước 1975 đã thăng hoa và tạo ra một đội ngũ Trí Thức, Chuyên Viên… hùng hậu. Xã hội miền nam Việt Nam trước 1975 là một xã hội có đạo đức vả phát triển, tuy dưới thời kỳ chiến tranh khốc liệt.

Một câu hỏi là tại sao Miền Nam Việt Nam, thời kỳ từ 1955-1975, là một ước mới được dộc lập, ngay tức khác lại lâm vào một cuộc chiến dai dẳng xuốt 20 năm, mà vẫn có một nền giáo dục có nhiều ưu điểm như vậy? Đây chính là do các yếu tố Ý Chí, Tư Tưởng và Tấm Lòng. Cả 3 yếu tố này đều có ở cả 2 phía: Chính Phủ và Nhân Dân.

Về Ý Chí: Chính phủ quyết tâm xây dựng một xã hội có tri thức, có đạo đức vì một xã hội như thế mới phát triển. Nhân dân nói chung, học sinh, sinh viên nói riêng thì cố gắng học hành chăm chỉ, luôn luôn muốn tạo cho mình một khả năng để giúp nhà, giúp nước.

Về tư tưởng: Nền giáo dục tại miền Nam Việt Nam trước 1975 là một nền giáo dục tự do, nhưng có kế hoạch, không mang sắc thái chính trị, nhồi sọ, hân thù. Tư tưởng của các học sinh, sinh viên cũng như thầy cô và các nhà quản lý giáo dục được tự do phát triển không   bị áp dặt. Kế hoạch thì được lập bởi chính các nhà giáo dục có trình độ và kinh nghiệm với các nền giáo dục tiên tiến.

Về tấm lòng: Đó là sự ưu ái cũa chính phủ đối với nền giáo dục được thể hiện như sau:

Ngay từ những ngày đầu thành lập nước, năm 1954-1955, tất cả học sinh, trong đó có người viết, chạy trốn Cộng Sản vào Miền Nam đã được chính phủ lo cho chỗ ăn ở tại Nhà Hát Thành Phố Saigon (sau là trụ sở Quóc Hội) một thời gian . Sau khi đã ổn đinh chỗ ăn ở, ai có thể tự tìm trường học theo ý muốn tại các trường miền nam thì nhập học ( Các trường nỗi tiếng ở miền nam lúc bấy giờ là Chasseloup Laubat, Marie Curie , Petrus Ký, Tabert. Gia Long…). Học sinh còn lại sẽ được phân bổ vào “các trường di cư” như Chu Văn An, Trưng Vương, Nguyễn Trãi, Trần Lục, Hồ Ngọc Cẩn…Chính phủ cũng lập ra các khu cư trú lâu dài cho các học sinh, sinh viên không có gia đình hoặc thân nhân ở miền Nam như tại đường Lê Lai và gần trường đua Phú Thọ.

Một trong những điểm son của chế độ giáo dục tại miền Nam là chính phủ đã lập ra các trung tâm Bách Khoa Bình Dân nhằm đáp ứng nhu cầu vừa dạy học vừa huấn nghệ ngắn hạn cho học sinh và nhân dân không có điều kiện học chương trình văn hoá chính quy. Các trung tâm này dạy ban đêm và học phí rất rẻ, đôi khi miễn phí nên rất thuận tiện cho những ai ban ngày phải đi làm việc kiếm sống.

*Các sinh viên ra trưởng ngành Sư Phạm có chỉ số lương khá cao, hơn cả kỹ sư (Sư Phạm : 470, Kỹ Sư : 430). Chính vì thế mà chất lượng giảng dạy rất cao. Các thầy cô giáo rất được kính trọng. Trong thời gian học ở đại học, sinh viên một số ngành như sư phạm, kỹ thuật (kỹ sư điện, công chánh. công nghệ, mỹ thuật...) cũng được tài trợ nếu đạt tiêu chuẩn thi tuyển. Học bổng đủ cho sinh hoạt ăn ở hàng tháng (VN$ 1500/tháng, thi tuyển 25 Sinh viên mỗi ngành). Chính phủ cũng có các kế hoạch tạo ra nhiều học bổng du học nước ngoài.

*Các thầy cô và các nhà giáo dục thường xuyên thay nhau được đi tu nghiệp tại các nước phát triển.

*Về cơ sở vật chất dành cho ngành giáo dục cũng được chính phủ đặc biệt quan tâm. Các viện, trường Đại Học, Trung Tiểu Học, các phòng thí nghiệm được xây dựng khắp nơi với đầy đủ trang bị, phương tiện hiện đại. Viện Đại Học Saigon, Trường Đại Học Y/Dược, Văn Khoa, Luât Khoa, Mỹ Thuật... Cả một Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ dành cho các ngành kỹ thuật như Điện, Công Chánh, Công Nghệ ...được hình thành. Trường Chu Văn An, Trưng Vương, Nguyễn Trãi cũng được xây dựng mới. Thư viên Quốc Gia là một công trình to lơn và hiện đại tương trưng cho một nền giáo dục có thực chất, đầy phương tiên nghiên cứu. Chính do ngành giáo dục được chính phủ quan tâm và ưu ái nên phát triển rất nhanh.

*Về phía học sinh, sinh viên, các nhà giáo thì đáp lại sự ưu ái của chính phủ, đã dốc tâm học hành, giảng dạy, nghiên cứu để đạt kết quả tốt nhất.

Ngành giáo dục tại miền Nam Việt Nam trước 1975 thật đã thăng hoa và mang lại nhiều kết quả cụ thể cho xã hội. Sau đây là một số kết quả điển hình:

*Một đội ngũ Trí thức, Kỹ Sư, Chuyên Viên, Cán Sự khá đông, có chất lượng, đạo đức, năng động và trong sáng được hình thành, mang lại cho xã hội Miền Nam nhiều đổi mới và phát triển.

*Từ năm 1960, chúng ta đã tiếp thu Công Ty CEE (Compangie des Eaux & d' Electricité ) mà lúc đầu các kỹ sư và chuyên viên Pháp nghĩ rằng chúng ta không thể quản lý được. Ngược lại, không những các kỹ sư, chuyên viên của chúng ta đã điều hành và quản lý tốt mà còn phát triển rất nhanh mạng lưới điện cho thủ đô Saigon và các tỉnh. Tiếp theo là điều hành nhà máy thủy điện Đa Nhim do Nhật Bản bàn giao. Nhà máy nhiệt điện Thủ Đức cũng do chính chúng ta xây dựng và điều hành. Ngành điện là một trong những ngành quan trọng cho sự phát triển kinh tế, bảo vệ an ninh, nâng cao đời sống xã hội, Các ngành khác như Cấp Nước, Xây Dựng cũng phát triển rất nhanh.

*Ngành Y, Dược cũng thăng hoa đáng kể, nhiều bác sĩ, dược sĩ đã được đào tạo, nhiều bệnh viện đã được phát triển hoặc xây mới. Ngành này cũng đã cung cấp cho chiến trường nhiều quân y, dược sĩ tài ba.

Khoa học sử lý thông tin ( IT ) vào thập niên 50-60 đối với các nước đang phát triển tại Đông Nam Á thật là khó khăn và mới lạ. Thế mà khoa học này đã được áp dụng tại miền Nam Việt Nam từ thập niên 50 và đã phát triển rất nhanh trong các năm kế tiếp. Chính phủ rất quan tâm đào tạo các chuyên viên và trang bị các hệ thống máy tính mới nhất trên thế giới thông qua Công ty máy tính IBM Pháp, Mỹ.

Năm 1964, một hệ thống Máy Tính Điện Tử IBM/1401 lần đầu tiên được trang bị tại Tổng Nha Ngân Sách & Ngoại Viện, Đồng thời một đội ngũ 7 Thảo Chương Viên (Computer Programmer) đầu tiên, trong đó có người viết, được đào tào bởi Cty IBM Pháp. Các năm kế tiếp, nhiều chuyên viên, cả dân sự lẫn quân đội dược đào tạo và một loạt các hệ thống máy tính thế hệ mới IBM360/20, 30, 40, 50 được trang bị tại các cơ quan chính phủ như Phủ Thủ Tướng, TN Ngân Sách Ngoại Viện, Cty Điện Lực, Cấp Nước, Thuế Vụ, Thống Kê, Bưu Điện, Tiếp Vận, Bộ Tổng Tham Mưu …

Trình độ và phạm vi áp dụng Tin Học vào quản lý kinh tế, tài chánh, xã hội kể cả trang thiết bị tại miền Nam Việt Nam được đánh giá cao hơn nhiều nước Đông Nam Á lúc bấy giờ, . Điều này được khẳng định tại hội nghị tổng kết khoá tu nghiệp và hội thảo về Ứng dụng Tin Học tại Nhật Bàn ( Plan Colombo) năm 1970,gồm các nước Đông Nam Á, người viết đại diện Việt Nam. Chính thủ tướng VC Phạm Văn Đồng, khi đến thăm 1 TT Điên Toán vào năm 1975 đã nói “ Các đồng chí cần bảo quản các thiết bị này cho tốt. Các thiết bị này tién bộ xa hơn Liên Xô hàng chục năm đấy” . Thật vậy , lúc đó ngành Tin Học Liên Xô còn dùng băng giấy đục lỗ để ghi thông tin, chúng ta dã dùng băng từ, đĩa từ.

Khi nền kinh tế cần phát triển theo hướng công nghiệp hoá, chúng ta cũng có đủ chuyên viên để lập ra Khu Chế Xuất Nhà Bè. Khi việc thăm dò dầu khí ở Vũng Tầu thành công, chúng ta cũng có đủ nhân tài về ngành công nghiệp mới mẻ này và đã lập ra Tổng Cục Dầu Hoả.

Tóm lại, nền giáo dục đã đóng góp rất nhiều cho sự phát triển kinh tế của miền Nam Việt Nam. Đội ngũ đông đảo Trí Thức, Kỹ Sư, Chuyên Viên...đã không phụ lòng ưu ái của chính phủ đem hết khả năng và tấm lòng phục vụ xã hội. Nhưng rất tiếc họ, những người thuộc thế hệ người viết (36 tuổi vào năm 1975) đã mất cơ hội phục vụ nhiều hơn nữa cho đất nước Tuy nhiên đội ngũ Trí Thức miền Nam Viêt Nam ra định cư tại nước ngoài cũng đã làm việc hăng say, đạt nhiều kết quả tốt và theo truyền thống cũng đã sản sinh ra các nhân tài thế hệ 2,3.

Nếu nói ngành giáo dục tại miền Nam Việt Nam trước đây thờ ơ hay đứng ngoài cuộc chiến tranh thì không đúng. Giáo dục, đúng nghĩa là chỉ đào tạo cho mọi người có tri thức, khả năng và đạo đức, không chính trị, không hận thù. Việc cổ vũ cho nghĩa vụ quân sự đã có các cơ quan khác đảm nhiệm. Hơn nữa chẳng phải ngành giáo dục đã cung cấp, thông qua các trường võ bị, nhiều sĩ quan can trường ưu tú cho cuôc chiến ? Hơn thế nữa, vào thập niên 60 phong trào “Quân sự học đường” cũng đã nở rộ. Khí thế “Võ Bị” cũng lên cao trong giới học sinh, sinh viên. Trường Chu Văn An cũng đã mời GS Nguễn Xuân Vinh, tư lệnh không quân lúc đó, đến nói chuyện với học sinh về binh chủng này. Học sinh Chu Văn An nhiều người cũng đã trở thành các sĩ quan ưu tú trong các binh chủng.    

Để kết luận, chúng ta có thể nói nền giáo dục tại miền Nam Việt Nam là môt điểm son của cả 2 nền Cộng Hoà 1 & 2. Điều này thể hiện qua sự phát triển của xã hội Miền Nam trước 1975, mặc dầu chúng ta phải trải qua một cuộc chiến tranh khốc liệt suốt 20 năm. Không ít người trong chúng ta hiên nay có một cuộc sống ổn định và sung túc trên khắp thế giới do đã hấp thụ được nền giáo dục đó.

 

 

*

*     *

Đại Học Việt Nam:

Lạc hậu và yếu kém

Lâm Văn Bé

Cái tựa của bài viết không phải là của «bọn Việt kiều phản động» bôi bác chế độ. Đó là cái tựa của Việt Báo, cơ quan ngôn luận của nhà nước Cộng Sản. Và từ nhiều tháng nay, không phải chỉ có Việt Báo mà nhiều tờ báo khác, giáo sư và sinh viên, thậm chí cả Quốc hội cũng đồng thanh lên tiếng là nền giáo dục Việt Nam, đặc biệt là giáo dục đại học đang bị khủng hoảng trầm trọng. Tháng 6 vừa qua, bộ trưởng giáo dục Nguyễn Thiện Nhân bị thay thế, chỉ còn giữ lại chức Phó thủ Tướng, điều ít thấy trong hàng ngũ lãnh đạo Cộng Sản.  

Trong bài viết sau đây, chúng tôi xin nêu lên những yếu tố quan trọng của tình trạng lạc hậu và yếu kém của đại học Việt Nam hiện nay.

Đại học lạm phát

Trên thế giới, không  một quốc gia nào có số đại học mới thành lập chiếm kỷ lục trong một thời gian rất ngắn như ở Việt Nam (VN).

Năm 1998, VN có 123  trường đại học và cao đẳng, năm 2008, VN có 369 trường, không kể 71 Viện nghiên cứu có đào tạo sinh viên hậu đại học. Chỉ trong 10 năm, VN tăng thêm 317 cơ sở giáo dục và nghiên cứu đại học, chiếm tỷ lệ 257%. Ngoài ra, còn phải kể thêm 120 trường cao đẳng nghề trung cấp (tên gọi «chết người» cao đẳng mà trung cấp) trực thuộc Bộ Thương Binh Xã hội và Lao Động (nguồn : Bộ Giáo Dục Đào Tạo- Số liệu thống kê Giáo Dục Đại Học 2008- 2009)

Trong số 270 trường mới thành lập, thực sự chỉ có 94 trường tân lập hoàn toàn (theo Nguyễn Thiện Nhân phát biểu trước Quốc Hội ngày 7/6/2010), số còn lại là trường nâng cấp từ trường thấp hơn (trung cấp, cao đẳng, học viện trở thành đại học), trường đại học tư thục, đại học bán công.

Tham nhũng và bè phái, bản chất căn bản của chế độ là nguyên nhân của việc lạm phát đại học. Tham nhũng đã làm băng hoại giáo dục, đặc biệt giáo dục đại học là thành trì kiến tạo quốc gia, bởi lẽ các phe nhóm đã cấu kết nhau để lợi dụng việc lập trường đại học hầu tìm lợi nhuận, tạo thế lực.

Tổ chức các đại học đặt dưới quyền quản lý chồng chéo của nhiều cơ quan lãnh đạo khác nhau, thí dụ trường Đại học Kinh Tế Thái Nguyên phải chịu sự quản lý của Bộ Giáo Dục và  Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Thái Nguyên, trường Đại học quân sự phải theo lệnh của Bộ Quốc Phòng và Bộ Giáo Dục. Các địa phương tranh nhau mở trường, nhiều chương trình đào tạo giống nhau, các trường tranh chấp nhau, nhiều ngành học không xứng danh đặt trong học trình đại học, hay phát triển một cách đại qui mô ở khắp các địa phương.  Có ít nhất 21 đại học quân sự, 4 đại học công an,  không kể các học viện có qui chế như trường cao đẳng.

Trên 63 tỉnh và thành phố của cả nước chỉ có 3 tỉnh chưa có đại học, tỉnh Bắc Kạn có dân số ít nhất cũng có một trường cao đẳng. Nhiều loại đại học có tên ngộ nghĩnh : đại học Dân lập, đại học Mở, đại học FPT, Viện Đào Tạo Răng-Hàm-Mặt, đại học Phòng cháy chửa cháy, đại học Công an nhân dân…. Riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và một số tỉnh lớn có tổng cộng 15 đại học gọi là đại học Trọng điểm trong đó có 2 đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh và Hànội mà người đứng đầu được gọi là giám đốc, còn người chỉ huy các loại đại học khác được gọi là hiệu trưởng.

Hãy đọc định nghĩa của vài đại học Cộng Sản. Đại học Mở là cơ sở đào tạo từ xa, đào tạo tại chỗ, đào tạo tại các điểm vệ tinh, còn đại học tư thục gọi là đại học dân lập theo chủ trương xã hội hóa giáo dục của đảng và nhà nước VN.

Thông thường, thành lập một đại học là một biến cố giáo dục quan trọng, đem lại niềm tự hào cho một quốc gia. Nhưng với VN, mở thêm một đại học là tạo thêm một tập đoàn kinh doanh, mở rộng thêm một vết rạn nứt của ngôi nhà đại học cổ lỗ rêu phong và đến nay ngôi nhà đã đến hồi sụp đổ. Đại học VN hôm nay  chỉ còn xếp ngang hàng với Miên và Lào, là một mối nhục lớn cho một quốc gia có 85 triệu dân, đã có một lịch sử giáo dục và văn hóa tốt đẹp trước khi Cộng Sản thống nhứt sự trì trệ  từ Bắc vô Nam.

Trên thế giới, không có quốc gia nào lập trường đại học mà chưa có cơ sở và giáo sư cơ hữu như VN. Trước tình trạng nguy kịch của đại học, Quốc Hội đã phải thành lập một Ủy Ban Điều Tra và trong báo cáo hồi tháng 12 năm 2009 cho biết là 20% số trường mới mở chưa xây dựng trường sở, phải thuê mướn cơ sở thiếu tiện nghi và các trang bị cần thiết cho việc học tập và giảng dạy.

Sau đây là một đoạn văn trong  báo Tuổi Trẻ online ngày 10 tháng 7 năm 2010 liên quan đến trường đại học dân lập Hồng Bàng.

Một cơ sở của Trường ĐH dân lập Hồng Bàng nằm trong Công ty cổ phần Bao bì dược trên đường Nguyễn Đình Chiểu, Q.Phú Nhuận,  từ bên ngoài...

Liên tục trong năm, sáu năm, gần như năm nào trường cũng tăng học phí. Chẳng hạn năm 2005, sinh viên ngành điện - điện tử đóng học phí 2.980.000 đồng/năm thì đến năm học 2006-2007 đã tăng lên 4.480.000 đồng/năm, bước sang năm học 2008-2009 học phí lên thành 5.880.000 đồng/năm. Vừa bước sang học kỳ II năm học này, trường đột ngột tăng học phí lên 3.490.000 đồng/học kỳ. Trong công bố mới nhất, học phí ngành thấp nhất của trường đã lên đến 6.980.000 đồng/năm và ngành cao nhất đạt mức gần 14.000.000 đồng/năm.Trường hiện nay có trên mười địa điểm học. Trong đó hầu hết là các địa điểm thuê mướn. Văn phòng các khoa, phòng công tác chính trị sinh viên, văn phòng Đoàn được đặt ở chín địa điểm khác nhau, nằm rải rác khắp các quận khá xa trung tâm TP.HCM. Lần theo một địa chỉ trên bảng hướng dẫn, chúng tôi tìm đến cơ sở số 89 Nguyễn Đình Chiểu (Q.Phú Nhuận). Đến nơi, chúng tôi ngỡ ngàng khi trước mắt là biển hiệu của Công ty CP Bao bì dược, đi sâu vào hẻm mới thấy bảng tên Trường ĐHDL Hồng Bàng.

Trường hợp Đại Học Hồng Bàng là điển hình của chợ trời đại học VN. Trong khi chánh phủ đóng cửa 10 trường hồi cuối năm 2009 vì mở trường đã lâu mà không có cơ sở, chánh phủ lại cho mở thêm những trường mới, và chuyện cạnh tranh mở trường đại học để trục lợi đã nói lên một khía cạnh vô liêm sĩ của chế độ Cộng Sản là không từ bỏ bất cứ cơ hội nào để tham nhũng và trục lợi, ngay trong lãnh vực đào tạo trí tuệ và đạo đức con người.

Theo một tin tức mới nhất đăng trong VNeconomy ngày 19/4/2010 thì từ con số 369 trường đại học năm 2008, đến đầu năm 2010 đã tăng lên 412 và trong số 412 trường đại học cao đẳng, Bộ Giáo Dục chủ quản 58 trường (14%), các bộ, ngành khác và các doanh nghiệp quản lý 130 trường (31,6%), Ùy Ban Nhân Dân tỉnh,thành phố quản lý 134 trường (32,5%), hai trường Đại học Quốc Gia quản lý 13 trường (3,1%) và 77 trường tư không có cơ quan chủ quản (18,6%).

Đại học VN đã mất quyền tự chủ, đặc tính truyền thống của tổ chức đại học. Đảng Cộng Sản nắm quyền đại học ở mọi cấp: tất cả quyết định về đường lối quản trị, chương trình giảng dạy đều phải có sự chấp thuận của Bí thư đảng ủy, các giáo sư lệ thuộc vào Công đoàn và tất cả sinh hoạt của sinh viên được huy động bởi Ban bí thư Đoàn Thanh niên.

Trong một báo cáo tháng 11/2008 của Trường Lãnh đạo Kennedy thuộc Đại Học Harvard (Harvard Kennedy School, ASH Institute) tựa là Vietnamese Higher education: crisis and response  đã viết:

Nguyên nhân trực tiếp của cuộc khủng hoảng đại học VN ngày nay là sự thất bại nghiêm trọng trong vấn đề quản lý. Các trường đại học có uy tín từ Boston đến Bắc kinh đều có những yếu tố căn bản mà VN không có.

Trước hết là vấn đề tự trị đại học. Các đại học VN vẫn chịu một sự quản lý tập trung cao độ. Chính phủ trung ương quyết định số sinh viên được tuyển, tiền lương của giáo sư, ngay cả việc thiết lập hội đồng khoa và việc điều hành.

Tham nhũng là phổ quát và ai ai cũng biết là bằng cấp, học hàm, học vị đều có thể mua bán. Hệ thống tổ chức nhân sự không rõ rệt, việc bổ nhiệm thăng thưởng dựa trên những tiêu chuẩn phi học thuật (non-scholastic) như thâm niên, lý lịch gia đình và chính trị, và các liên hệ cá nhân. Các người lãnh đạo  thường là các người đã tốt nghiệp từ Liên Sô hay Đông Âu, không nói được tiếng Anh và không có thiện cảm với những người được đào tạo từ các đại học Tây phương.(Memorandum Higher Education Task Force / Thomas J.Valley & Ben Wilkinson, p.3-4).

Đại học VN lại bị hiện tượng một cổ đôi tròng (phải nói là nhiều tròng). Ngoài chính phủ trung ương gồm nhiều bộ, các đại học địa phương, công cũng như tư, còn phải chịu sự chi phối của chính quyền tỉnh. Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh có quyền « bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, cách chức, giáng chức vị trí người đứng đầu trường đại học, cao đẳng ờ địa phương. Có quyền công nhận hay không công nhận hội đồng quản trị, hiệu trưởng các đại học tư trên địa bàn, giám sát chất lượng cơ sở đào tạo đại học đóng trên lãnh thổ…» (Tin mới VN, ngày 21/04/2010).

VN hôm nay trở lại thời kỳ thuộc địa ngu dân thuở xưa bởi lẽ các cơ sở giáo dục cao cấp lại đặt dưới quyền sinh sát của các chủ tịch UBND tỉnh, mà đa số là những cán bộ ít học hay thất học, chỉ vì phe cánh hay trung kiên với đảng được cất nhắc làm lãnh chúa ở các địa phương, thì thử hỏi trong một hoàn cảnh như vậy, đại học VN bảo sao mà không lạc hậu.

Thực ra, các ông bà chủ tịch UBND tỉnh có sự cố vấn của các ông giám đốc sở Văn Hóa Giáo Dục địa phương mà đa số đều có bằng tiến sĩ. VN hôm nay có chánh sách giúp đỡ các đảng viên bằng phương thức «vừa làm vừa học» để có một học vị tương xứng với chức vụ.

Không nơi nào trên thế giới có chế độ vừa làm vừa học phát đạt như ở VN. Trong số 1,719,499 sinh viên đại học và cao đẳng năm 2008, số sinh viên vừa làm vừa học là 509,808 người, chiếm tỷ lê 29,6% ( nguồn : Bộ Giáo Dục đào tạo. Số liệu thống kê 2008-2009). Con số trên còn phơi bày một thực trạng yếu kém của bộ máy công quyền bởi lẽ với nửa triệu cán bộ công chức vừa đi học vừa đi làm thì thời giờ đâu để làm việc phục vụ dân chúng và thời giờ đâu để học có cấp bằng. Bằng cấp giả, bằng cấp dỏm do đó đã nở rộ lên cùng lúc với phát triển đại học.

Chuyện lạ mà có thật ở VN. Báo chí VN hồi tháng tư năm nay (2010) tường thuật Ông Nguyễn Ngọc Ân, giám đốc Sở Văn hóa Thể Thao tỉnh Phú Thọ vừa đậu bằng tiến sĩ do một trường đại học ở Mỹ cấp, dù ông không nói được tiếng Mỹ và chẳng bao giờ đi học. Ông cho biết là ông tốn 17,000 mỹ kim để đi Hawaï 2 tuần để nhận bằng từ đại học South Pacific University là một đại học đã bị tòa án tiểu bang Hawaï đóng cửa từ năm 2003 nhưng vẫn tiếp tục bán văn bằng. Cũng cần biết là số tiền 17,000 mỹ kim là do ngân sách của tỉnh Phú Thọ «hổ trợ».

Chuyện ông tiến sĩ có bằng Mỹ không biết tiếng Mỹ đã phơi bày một bi hài kịch về học vị tiến sĩ ở VN. Nhiều trưởng cơ quan, đảng viên cao cấp đã có bằng tiến sĩ hay thạc sĩ theo kiểu học cho có lệ tại sở làm để rồi được các đại học VN cấp văn bằng dưới áp lực chính trị, tình cảm hay mua bán.  Chuyện ông tiến sĩ giấy lại phơi bày thêm một khía cạnh đạo đức của xã hội VN. Đã có tờ báo cho là bằng cấp của ông Ân là bằng thật chớ không phải bằng giả bởi không phải do ông ngụy tạo ra. Ông có đến Mỹ trình luận án của ông tựa là «Bảo tồn văn hóa phẩm tỉnh Phú Thọ» qua một thông dịch viên. Đại học Mỹ đã cấp văn bằng tiến sĩ và chỉ có chánh phủ Mỹ mới có quyền hủy bỏ văn bằng. Như vậy, cùng lắm có thể nói bằng tiến sĩ của ông Ân là tiến sĩ dỏm chớ không phải là tiến sĩ giả. Chuyện tranh cải tương tự cũng xảy ra với trường hợp ông Nguyễn Văn Ngọc, Phó  Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Yên Bái cũng có bằng tiến sĩ tuy không đi học, không biết tiếng Mỹ, sau 6 tháng nhận trợ cấp của chánh phủ 74 triệu đồng.  Ông Ân cũng cho biết có 10 đồng chí của ông nhận được bằng tiến sĩ của đại học ma nầy.

Nhà văn Võ thị Hảo, hiện sống trong nước đã trả lời như sau trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 6/7/2010:

Xã hội VN hôm nay vô đạo quá. Tôi nghĩ cái căn nguyên của vấn đề  là bởi con người đã giả dối quá lâu. Từ khi bắt đầu tiếp xúc với xã hội, từ đứa bé mẫu giáo trở đi đã phải bắt đầu nói dối rồi, từ những bài hát, từ những câu chào…rồi sau đó bắt chước người lớn cách hành xử…Cái quan trọng nhất là những tấm gương, những quản lý xã hội, những người lãnh đạo cho đến những người thầy, cô giáo…, những người ít ra phải sống đàng hoàng, đáng tin cậy, có đạo nghĩa, nhưng ít có người sống như vậy hôm nay…

Giáo sư Cử nhân dạy sinh viên Cử nhân và đại học hoàn toàn bị chính trị hóa

Từ 1998 đến 2008, nếu số sinh viên đại học tăng lên 13 lần thì số giáo sư chỉ tăng lên 3 lần. Con số chính thức của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về Giáo dục công bố là năm 2008, « trong tổng số 61,190 giảng viên đại học, chỉ có  2,286 có chức danh giáo sư, phó giáo sư (3,8%) , 6 217 tiến sĩ (10%), 22,831 thạc sĩ (37,3%), số còn lại là cử nhân chiếm gần 50%.

Về thực tập các ngành chuyên khoa rất ít. Thí dụ tại Trường Đại học Y-Dược Cần Thơ, trong giờ giải phẩu, mỗi sinh viên được thực hành trên một con ếch và 5 sinh viên thực hành trên một con chó. Nay vì thiếu ngân sách, 10 sinh viên mới có 1 con ếch và 30 sinh viên 1 con chó».

Giáo sư cử nhân dạy sinh viên cử nhân trên phân nửa các đại học, và càng trầm trọng hơn, các trường chuyên nghiệp trung cấp sau khi được nâng cấp thành trường cao đẳng hay đại học, các giáo sư trung cấp cũng nghiểm nhiên thành giáo sư đại học.

Giáo sư không có trình độ, lối giảng dạy theo kiểu thầy đọc trò chép, chương trình giảng dạy không ứng dụng vào đời sống. Thi nhập học và thi tốt nghiệp bằng hối lộ và tham nhũng. Tất cả các tệ hại nầy đã đưa đến hậu quả tất nhiên là «có những sinh viên tốt nghiệp đại học mà vẫn chưa biết tra cứu một quyển sách chuyên đề hay tra tự điển. Những kiến thức sinh viên nhận được đều lấy từ sách vở và do giáo viên cung cấp. Sinh viên không biết tự tìm tòi, nghiên cứu» (Giáo duc đại hoc. www.tgvn.com.vn  16/3/2010)

Ngoài việc giáo sư thiếu khả năng, chương trình giảng dạy phải rập theo đường lối của đảng. Từ mẫu giáo đến đại học, giáo dục hoàn toàn bị chính trị hóa mà việc học tập lý thuyết Cộng Sản và tư tưởng Hồ Chí Minh đứng hàng đầu trong các môn học, ngành học.

Đề thi Tú Tài năm 2010 môn Sử Học là một chứng minh rõ rệt cho bản chất lạc hậu của nền giáo dục bởi lẽ trong 3 câu hỏi thì 2 câu liên hệ đến bác và đảng.

Sau đây là đề thi Tú Tài môn Sử học năm 2010 :

Kỳ thi tốt nghiệp Trung học Phổ thông năm 2010.

Môn thi: Lịch Sử - Giáo dục trung học phổ thông

I. Phần chung cho tất cả các thí sinh (7,0 điểm)

Câu 1. (4,0 điểm)

Trình bày hoàn cảnh lịch sử của Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930. Nêu vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong hội nghị trên.

Câu 2. (3,0 điểm)

Vì sao Đảng và Chính phủ ta phát động toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp? Tóm tắt cuộc chiến đấu của quân và dân Hà Nội trong những tháng đầu toàn quốc kháng chiến (từ ngày 19 -12 -1946 đến ngày 17 -2 -1947).

II. Phần riêng – Phần tự chọn (3,0 điểm)

Thí sinh chỉ được làm một trong hai câu (câu 3.a hoặc 3.b)

Câu 3.a Theo chương trình Chuẩn (3,0 điểm)

Trình bày sự thành lập, mục đích và nguyên tắc hoạt động của tổ chức Liên hợp quốc

Câu 3.b Theo chương trình Nâng cao (3,0 điểm)

Toàn cầu hóa là gì ? Nêu những biểu hiện chủ yếu của xu thế toàn cầu hóa trong nửa sau thế kỉ XX.

Chương trình học giáo điều cộng sản như trên tiếp diễn ở bậc đại học với một mức độ «cao cấp» hơn. Tất cả sinh viên mọi ngành đều phải học từ 20 đến 30 đơn vị học trình về 5 môn chính trị :

-   Triết học Mác-Lênin

-   Kinh tế chính trị Mác-Lênin

-   Chủ nghĩa xã hội khoa học

-   Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam

-   Tư tưởng Hồ Chí Minh

Mỗi đơn vị học trình gồm 15 tiết (giờ) học lý thuyết, 30-45 giờ thực hành hay thảo luận, 45-60 giờ làm tiểu luận, 45-90 giờ thực tập tại cơ sở. Như vậy, thời gian tối thiểu cho mỗi  đơn vị khoảng 130 giờ, và tổng số giờ học chính trị chiếm hơn 2,000 giờ không kể 165 giờ học quân sự. Nói chung, chương trình huấn luyện chính trị và quân sự chiếm 25% học trình cử nhân khiến nhiều nhà giáo dục chân chính đã lên tiếng phản đối về vấn đề nầy. Nhưng một số đảng viên bảo thủ « cho rằng đó là việc giáo dục yêu nước, như một đại biểu đã phát biểu tại Quốc hội vào ngày 7/11/2006» (Truyền Thông, số 22&23, tr. 114).

Báo cáo của Đại học Harvard nói rõ hơn về hậu quả của chuyện dạy chính trị tuyên truyền trong đại học VN :

«… Surveys conducted by government-linked associations have found that as many as 50 percent of Vietnamese university graduates are unable to find jobs in their area of specialization…With up to 25% of undergraduate curricula devoted to required coursework laden with political indoctrination, it is little wonder that Vietnamese students are ill-prepared for either professional life or graduate study abroad…

Có thể lấy thí dụ trường hợp hảng Intel tìm kiếm kỹ sư VN khi hảng thiết lập tại Tp. HCM là điển hình. Với 2000 ứng viên, chỉ có 90 người đạt được tiêu chuẩn (5%) và sau cùng trong số nầy chỉ có 40 người có trình độ tiếng Anh đạt yêu cầu tuyển dụng. Intel xác nhận rằng đây là kết quả tồi tệ nhất trong số các nước mà họ đầu tư» (Harvard Kennedy School. Memorandum Higher Education Task Force, November 2008, p.2).

Giáo dục đại học VN tụt hậu.

Các nhà đầu tư cho rằng việc thiếu các chuyên viên kỹ thuật và quản trị có khả năng là một trở ngại lớn trong công cuộc kỹ nghệ hóa quốc gia.

Về phương diện nghiên cứu và sáng tạo, đại học VN vẫn còn ấu trỉ trong công tác giảng dạy thực nghiệm, bởi phương pháp thầy đọc trò chép, thiếu tài liệu nghiên cứu, thiếu phòng thí nghiệm. Do đó các văn bằng tiến sĩ do đại học VN sản xuất từ 35 năm nay chủ yếu là các khoa nhân văn, chính trị, điều khiển bởi các giáo sư nay đã già nua, tốt nghiệp từ các đại học Liên Sô và Đông Âu, thiếu tiếp cận và cập nhật hóa kiến thức  mới.

Vì nhu cầu sỉ số, vì phe nhóm, các tân tiến sĩ đa số không có khả năng sáng tạo, nên VN hoàn toàn vắng bóng trong lãnh vực nghiên cứu và sáng chế. Thực là một mối nhục lớn khi các quốc gia như Thái Lan, Mã Lai, Phi Luật Tân, là các quốc gia sánh vai với VNCH trước 1975, thì nay lại vượt qua VN Cộng Sản quá xa.

Một vài thí dụ được bản báo cáo của Đại Hoc Harvard trích dẫn.

Bảng 1. Bài viết được đăng trong các tạp chí khoa học 2007

Đại Học Quốc gia Số bài viết
Seoul National University Hàn Quốc 5 060
National University of Singapore Singapore 3 598
Peking University Trung Quốc 3 219
Fudan University Trung Quốc 2 343
Mahidol University Thái Lan 950
Chulalongkorn University Thái Lan 822
University of Malaya Mã Lai 504
University of Philippines Phi Luật Tân 220

Vietnam National University

(Hanoi & HochiMinh City)

Vietnam 52

Vietnam Academy of Science

&Technology

Vietnam 44

(Nguồn : Science Citation Index Expanded. Thomas Reuters)

 

Bảng 2. Các quốc gia Á Châu có số đại học xếp hạng hàng đầu trong 200 đại học năm 2010.

Quốc gia Số ĐH Tên Đại Học có hạng cao nhất
Nhật Bản 6 Tokyo U : 5è ; Osaka U : 7è
Hàn Quốc 2 Seoul U : 6è ; KAIST : 7è
Trung Quốc 0 Beijing U: 12è ; Tsinghua U: 16è
Đài Loan 7 Taiwan U: 21è ; Cheng Kung U: 31è
Ấn Độ 2 Institute of Technology Bombay : 34è
Hong Kong Hong Kong U: 1er, HKU of Tech: 2è
Indonesia Gadjah Mada U : 85
Thái Lan Chiang Mai U : 79è
Malaysia Universiti Malaya: 42è
Philippines Atento de Manila U : 58è
Singapore National U of Singapore : 2è
Tổng cộng 00

 Hồng Kông và Singapore tuy ít có số đại học trong bảng xếp hạng, nhưng lại có những đại học đứng hàng đầu : Hai đaị học của Hồng Kông đứng hạng nhất và nhì, đại học Singapore đứng hạng 3. Nhật bản là quốc gia có nhiều nhất đại học nổi tiếng (56 trường) ở Tokyo, Osaka, Kyoto, Tohuku, Nagoya.

Các bảng thống kê quốc tế trên cho thấy, chỉ với các quốc gia châu Á mà thôi, VN thực sự lạc hậu về việc đào tạo khoa học kỹ thuật. Trong bảng xếp hạng các đại học Á Châu năm 2010, trong số 200 trường hàng đầu, không thấy có trường đại học nào của VN.

Bảng 3. Số bằng sáng chế được cấp năm 2006.

Hàn Quốc : 102 633;  Trung Quốc :  26 292; Singapore : 995; Thái Lan : 158;  Mã Lai : 147;  Phi Luật Tân : 76; Việt Nam  : 0     (Nguồn : World Intellectual Property Organization , 2008).

Lãnh đạo bất tài và khoác lác

GS Hoàng Tụy, nhà toán học số một của VN, đã góp phần vào việc nghiên cứu thuyết Tối ưu toàn cục (Global optimization), được nhiều đại học quốc tế mời làm giám khảo trong các kỳ thi tiến sĩ về Toán, được huy chương Hồ Chí Minh, trong bài tham luận đăng trên báo Tia Sáng online ngày 5 tháng 10 năm 2009 tựa là Giáo dục : xin cho tôi nói thẳng đã thẳng thắn chỉ trích giới lãnh đạo giáo dục bất tài. Không dám đụng tới nhà giáo dục lớn được đất nước nể trọng, chính phủ quay ra đóng cửa báo Tia Sáng.

Sau đây là những đoạn văn làm chết tờ báo :

«Sự sa sút của giáo dục có nguyên nhân khách quan : do đất nước nghèo, đầu tư không đủ, do trình độ non yếu của thầy cô giáo, do ý thức của người dân lạc hậu, do phụ huynh cũng là đồng tác giả của nhiều sai lầm yếu kém của giáo dục. Đương nhiên tất cả những nguyên nhân nầy đều đúng. Song muốn lay chuyển tình hình phải thừa nhận nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân của mọi nguyên nhân, đó là lãnh đạo, quản lý bất cập, bất cập cả tâm lẫn tầm và từ trên xuống dưới”.

Giáo dục đại học cao đẳng có nhiều chuyện ly kỳ : khắp nước, kể cả đại học quốc gia, tràn lan và bát nháo «đào tạo liên kết», môn học một học kỳ chỉ cần 3-4 ngày xong hết cả học lẫn thi, nên ai cũng học được, trường trung cấp cũng đào tạo thạc sĩ là chuyện hi hữu trên thế giới. Chẳng lạ gì trong vài năm đã xuất hiện hàng mấy trăm đại học mới, lại sắp có cả Văn Miếu hiện đại xây dựng trên 25 ha đất cho đủ chỗ vinh danh hết tiến sĩ thời nay. Lạ nhất là đề án tiến sĩ hóa, thạc sĩ hóa 100% cán bộ công chức của thủ đô để «đột phá tư duy lãnh đạo” (may mà kế hoạch nầy đã tạm rút lại sau khi bị phản đối kịch liệt).Cái não trạng sính bằng cấp và thói hư học thâm căn cố đế bị lợi dụng triệt để, biến kinh doanh chữ nghĩa thành một nghề phát đạt chưa từng thấy, trường tư được tự do chạy theo lợi nhuận, bất kể chất lượng nào chỉ cần trưng biển đại học quốc tế, tha hồ đặt ra những khoảng thu kỳ dị bóc lột người học…

Bài nhận định trên là một cáo trạng hùng hồn về sự bất tài của lãnh đạo giáo dục VN.

Vô trách nhiệm, đổ lỗi cho kẻ khác, phô trương, là những bản chất căn bản của sự bất tài và là những bản chất điển hình của giới lãnh đạo Cộng Sản. Ba năm trước đây, khi nhận chức Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Giáo Dục, ông Nguyễn Thiện Nhân đã chỉ trích những người tiền nhiệm và hứa hẹn hàng trăm dự án cải tổ. Tốt nghiệp tiến sĩ từ Đông Đức, với những quan niệm giáo điều thời bao cấp, tự cao vì có nhiều quyền lực trong đảng, ông Nhân đã gạt bỏ mọi đề nghị hợp tình hợp lý của các nhà giáo dục cấp tiến. Triều đại của Tổng trưởng Nhân là triều đại của những dự án dang dở, thất bại và những khẩu hiệu phô trương . Xin đan cử vài khẩu hiệu vang dội một thời làm giới giáo dục điên đảo.

- Hai không : nói không với tiêu cực trong thi cử, nói không với bịnh chạy theo thành tích.

- Ba công khai : công khai điều kiện đào tạo, công khai nguồn lực, công khai tài chính thu chi.

- Bốn kiểm tra : kiểm tra ngân sách địa phương chi cho giáo dục, kiểm tra sử dụng nguồn học phí, kiểm tra tiến độ kiên cố hóa trường lớp, kiểm tra xây dựng nhà công cụ cho giáo viên.

- Năm quy luật chi phối hệ thống giáo dục...

Trang giấy có hạn, chúng tôi không thế nào kê khai hết những tuyên ngôn, khẩu hiệu sưu tầm được nên phải dừng ở khẩu hiệu năm để nhảy qua khẩu hiệu mới nhất «12 nhóm giải pháp và 60 nhiệm vụ» khi ông Phó Thủ Tướng được mời  ra điều trần ở Quốc Hội sau khi bị mất chức  Bộ Trưởng Giáo Dục. Những khẩu hiệu mà ông đề ra là những dự án mà ông không thực hiện được và khi bị Quốc Hội chất vấn, ông vắn tắt trả lời là các nhà  lãnh đạo chính trị và giáo dục từ 1975  phải chia sẻ  trách nhiệm với ông. Tuy vậy, ông vẫn sáng giá và có thể thay ông Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng. Đúng như Ông Hoàng Tụy đã ví von mai mỉa : «có người khen Bộ Giáo Dục trơ như đá, vững như đồng» , chế độ Cộng Sản hôm nay mang bản chất của một tổ chức mafia, trong đó quyền lực và quyền lợi cá nhân và bè đảng là cứu cánh, và sau nửa thế kỷ cầm quyền, hồng vẫn hơn chuyên.

Bản chất vô trách nhiệm của chánh phủ đã đẻ ra chánh sách «dạy thêm -học thêm», làm xuống cấp phẩm chất giáo dục và nhân phẩm của nhà giáo. Ai cũng biết là trong các ngành nghề, dạy học là nghề không thể có tham nhũng bởi lẽ không có gì để tham nhũng và thiên chức của nhà giáo, để được học trò tin tưởng và kính trọng, nhà giáo phải có một cung cách để làm gương. Nhưng từ sau 1975, Cộng Sản đã nhuộm đen nhà giáo, và tham nhũng trong giáo dục cũng là chuyện tất nhiên như bao ngành nghề khác.

Chuyện nhà giáo xuống cấp bắt đầu với chuyện cô giáo, thầy giáo phải bán cái bánh cây kẹo cho học trò của mình vào những năm đầu khi đất nước được «thống nhứt» sự nghèo đói. Một số giáo chức, để tránh nhục nhã, kêu gọi học sinh của mình về nhà dạy thêm lén lút để phụ huynh cho chút quà bánh, phụ thêm vào số lương chết đói để cầm hơi. Từ việc dạy lén lút học sinh tiểu học, trung học lúc ban đầu, việc dạy thêm và học thêm đã dần dần trở thành công khai và bành trướng lên cả đại học.Việc cũng dễ hiểu thôi, một giảng viên đại học lảnh lương trung bình tương đương với 150 mỹ kim, chỉ vừa đủ nuôi thân, phải dùng mồ hôi nước mắt để dạy thêm hầu nuôi sống gia đình.

Lương ít, dạy nhiều, giáo sư làm sao có thời giờ nghiên cứu, kể cả các bài giảng từ năm nầy sang năm khác vẫn không thay đổi  Cái vô trách nhiệm của chánh phủ là dù biết đời sống kinh tế của giáo chức khó khăn mà không có giải pháp để chuyện dạy thêm - học thêm trở thành như một quốc sách, biến tất cả trường học trong nước, từ tiểu học đến đại học thành trường tư thục, mặc nhiên bắt nhân dân phụ giúp lương cho giáo chức.

Khi lương ít thì lậu nhiều, khi thượng bất chính thì hạ tắc loạn, trường học tha hồ mở ra các kỳ thi để «kiểm tra, sát hạch » học sinh. Giáo chức dạy ở trường công một phần, và giành một phần để dạy tư, dạy các bài «tủ», là dịp cho các thầy cô cạnh tranh nhau, bán đề thi, sửa điểm thi, kể cả việc làm bài thi cho học sinh trong các kỳ thi nhập học, tốt nghiệp, làm luận án, thi tuyển học bổng…Chánh sách dạy thêm - học thêm đã làm băng hoại đạo đức hàng ngũ giáo chức, tạo thêm phân cách trí tuệ giữa người giàu và kẻ nghèo, bởi lẽ người nghèo đã quá chật vật đóng học phí cho chính phủ thì tiền đâu đóng học phí để học thêm, lo lót cho giáo sư trong các kỳ thi, và cuối cùng đành phải bỏ học. Đó là thành tích của chế độ ưu việt đỉnh cao trí tuệ.

Khoác lác là một bản chất khác của chế độ Cộng Sản mà dự án đào tạo 23,000 tiến sĩ trong 10 năm (2010-2020), xây dựng 4 trường đại học đẳng cấp quốc tế, một trường vào top 200 thế giới…là những dự án chứng tỏ sự khoác lác cùng cực của những nhà lãnh đạo giáo dục và ngoài giáo dục Cộng Sản.

Thử bàn qua về dự án 23,000 tiến sĩ trong 10 năm. 

Theo dự án, chính phủ sẽ đào tạo 23 000 tiến sĩ với kinh phí là 778 triệu mỹ kim, 10 000 đào tạo trong nước, 10 000 đào tạo ở ngoài nước và 3000 với kinh phí hợp tác giữa đại học VN và ngoại quốc. Chỉ cần có một tối thiểu kiến thức đại học thì thấy ngay là dự án bất khả thi.

Trước tiên là thời gian đào tạo. Thông thường thời gian tối thiểu để đào tạo một người có cử nhân đề đỗ tiến sĩ là 4 năm. Nếu chương trình thực sự bắt đầu năm 2010 thì năm 2014 mới có nhóm tiến sĩ đầu tiên, và như vậy  trong 6 năm từ 2014 đến 2020, mỗi năm phải có 3,800 ứng viên học trình tiến sĩ. Thông thường, tỷ lệ cử nhân đi học tiến sĩ độ 1 - 2%, nghĩa là mỗi năm VN phải cung cấp từ 200,000 đến 380,000 cử nhân để sàng lọc được số ứng viên cần thiết. Muốn như vậy, đại học VN phải  phát văn bằng cử nhân giấy lộn để có đủ số ứng viên như trên. Ngoài ra còn phải kể đến trình độ kiến thức và ngoại ngữ của cử nhân VN hôm nay, làm sao có thể tiếp tục bậc hậu đại học ở ngoại quốc được?

Đối với 10,000 tiến sĩ đào tạo trong nước, ai sẽ là giáo sư giảng dạy. Theo thống kê của nhà nước, VN hiện nay có 6,217 tiến sĩ trong đó chỉ có 10% tốt nghiệp ở ngoại quốc. Ngoài ra, 70% tiến sĩ VN làm công chức, như vậy chỉ có 30% tức khoảng 2,000 tiến sĩ đang làm công việc giảng dạy. (RFA,22/6/2010)

Trình độ kiến thức của các giáo sư tiến sĩ VN cũng đáng nghi ngờ. Trong cuộc điều trần trước Quốc Hội ngày 7/11/2006, đại biểu Huỳnh thị Hường, tỉnh Quảng Nam đã phát biểu như sau :

Về vấn đề đào tạo tại chức trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, theo nghiên cứu mới đây cho thấy, có gần 90% tiến sĩ không đủ trình độ áp dụng vào cuộc sống. Một số công trình khoa học chỉ là vòng khép kín từ thư viện đến thư viện và học vị của một số vị, kể cả trong ngành giáo dục chỉ là để giữ ghế. Hiện có nguy cơ đáng báo động là đội ngũ kế cận những giáo sư, tiến sĩ trong ngành giáo dục ở tuổi 70 chưa có người thay . . .”

Về chuyện giáo sư lão niên,  GS Đỗ Trần Cát, Tổng Thư Ký Hội Đồng Chức Danh Giáo Sư Nhà Nước đã phát biểu :

“Đến thời điểm nầy, có khoảng 80% GS Việt Nam có tuổi trên 60, chỉ có khoảng 20% ở độ tuổi dưới 60. So với thế giới, tuổi giáo sư VN là quá già” (Truyền Thông 22&23, tr. 102)

Về chi phí, thông thường mỗi năm học ở ngoại quốc, sinh viên cần khoảng 30,000 mỹ kim, như vậy để hoàn tất học trình tiến sĩ, mỗi sinh viên cần độ 120,000 mỹ kim. Với 10,000 tiến sĩ, chi phí sẽ là 1,2 tỷ MK, không kể chi phí cần thiết cho 10,000 tiến sĩ đào tạo trong nước. Dựa trên căn bản nào, dự án ấn định kinh phí 778 triệu MK chưa kể lạm phát.

Trong trạng huống như vậy, dự án đào tạo 23,000 tiến sĩ trong 10 năm là chuyện hoang tưởng nếu không nói là khoác lác.

Dự án tiến sĩ hóa hàng ngủ cán bộ ở thủ đô trước đây đã tạo nên sự chế riểu của người dân nên chính phủ phải tạm ngưng. Dự án 23,000 tiến sĩ và các dự án bước nhảy vọt đại học đang được các nhà lãnh đạo thường xuyên nhắc đến như niềm tự hào của dân tộc. Cho đến bao giờ người dân VN mới thoát được sự khoác lác và lừa dối của người Cộng Sản ?

Kết luận

Khi nghiên cứu về một vấn đề, sự liêm chính đòi hỏi người nghiên cứu phải nhìn vấn đề qua cái tốt và cái xấu, ưu và khuyết điểm. Đọc nhiều tài liệu về giáo dục và đại học VN, người viết chỉ toàn thấy những lời chỉ trích, nếu không phải là những tuyên ngôn, tuyên truyền của chính phủ.

Bài viết không đi sâu vào từng chi tiết của sự việc bởi giới hạn số trang viết, và bởi càng tìm hiểu, càng thấy đau đớn phũ phàng cho một quốc gia có 85 triệu dân, chỉ trong 35 năm, dưới sự cai trị của những người độc tài và bất tài đã đẩy nền giáo dục đến tình trạng lạc hậu và đưa xã hội tiến dần đến chỗ mất đạo đức, nếu không muốn nói là đã mất đạo đức.

Để kết luận, không gì tốt hơn là nhờ lời “nói thẳng” của giáo sư Hoàng Tuỵ, nhà giáo  được trong nước và thế giới kính nể về tài năng và tấm lòng đối với nền giáo dục .

“… Không nói chi nhiều, tôi chỉ xin nêu hai việc. Một là cách dạy chính trị cổ lỗ, vô bổ, có tính chất kinh kệ tôn giáo, chứ không phải nhằm phát triển tư duy khoa học, mà lại chiếm nhiều thời gian chỉ để cung cấp cho học sinh một cách nhìn xơ cứng về thế giới, thay vì như lý thuyết đề ra, một vũ khí cải tạo để xây dựng xã hội. Hai là, trong khi cuộc cạnh tranh và hội nhập ở thời đại kinh tế trí thức đòi hỏi nhiều đức tính và năng lực, trước hết là tính trung thực và năng lực sáng tạo, hai cái mà xã hội ta đang thiếu nghiêm trọng, thì, trong nhà trường, gian lận dưới mọi hình thức, và thói lười biếng suy nghĩ, đầu óc bắt chước, sao chép, học vẹt, nô lệ tư duy, lại phát triển mạnh hơn bao giờ hết trong lịch sử giáo dục của ta. Nói một đàng, làm một nẻo, học tách rời với hành, chuộng hình thức, hư danh, chạy theo các loại nhãn mác rởm, không còn thói xấu nào không bị lên án, thế nhưng thực tế thì lại khác, và buồn thay, gương xấu nhan nhản không chỉ ở chốn học đường, mà ngay trong giới cầm cân nẩy mực về giáo dục và khoa học.

Và ông kết luận :

Những đổi mới trong các đề án công tác của ngành giáo dục, giỏi lắm cũng cho ta một nền giáo dục tốt theo chuẩn mực… nửa thế kỷ 20, chứ không thể biến nó thành một nền giáo dục hiện đại ở thế kỷ 21. Cứ xem bản chiến lược giáo dục 2009-2020 thì rõ : ví thử chiến lược nầy được thực hiện đầy đủ, điều khó có thể, thì đến năm 2020, VN cũng chỉ có một nền giáo dục kiều 1950, lạc hậu, còn xa mới hòa nhập được vào nền văn minh thời đại.”

Nhà văn Trần Mạnh Hảo, tác giả tiểu thuyết “Ly Thân” đã can đảm chỉ trích chế độ từ thập niên 80, trong bài tham luận Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước đọc trước Đại hội nhà văn lần thứ VIII vừa được tổ chức tại Đà Lạt  ngày 12 tháng 7 năm 2010 đã  nhận định:

“….Nền giáo dục Việt Nam hôm nay là một nền giáo dục thiếu trung thực, đúng như ý kiến của ông Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã công nhận. Đạo đức trong giáo dục Việt Nam hôm nay đồng nghĩa với dối trá: thầy dối trá thầy, trò dối trá trò, quản lý giáo dục báo cáo láo cốt lấy thành tích, nạn mua bán bằng, bán đề thi, mua quan bán tước đang là đại họa của nền giáo dục. Hầu hết sách giáo trình, sách giáo khoa… là sách đạo văn. Cán bộ có chức quyền đua nhau làm thạc sĩ, tiến sĩ… lấy bằng thật nhưng học giả. Nạn dùng tiền mua bằng cấp, mua học hàm học vị đang diễn ra công khai trong cái chợ trời giáo dục Việt Nam. Việc Hà Nội vừa qua đưa chỉ tiêu “xóa mù tiến sĩ” cho cán bộ công nhân viên nhà nước đã nói lên học vị tiến sĩ chẳng còn giá trị gì cả. Có lẽ trong vài năm tới, sau việc Bộ Giáo dục ra chỉ tiêu đào tạo thêm 23,000 tiến sĩ, sẽ dẫn tới chiến dịch xóa mù tiến sĩ trên phạm vi toàn dân. Nhiều ông cán bộ cấp cao có học vị tiến sĩ nhưng chưa có bằng tốt nghiệp đại học, thậm chí có vị chưa có bằng tốt nghiệp cấp 2 vẫn lấy được học vị tiến sĩ. Việc chính trị hóa môn văn, môn lịch sử, môn triết học, chính trị hóa nền giáo dục đã tạo cơ sở cho sự dối trá làm bá chủ đất nước. Giáo dục như thế sao có thể đào tạo ra những công dân chân chính?”

Và ông kết luận: “Chính trị hóa giáo dục chỉ đẻ ra những chiến binh đánh bom tự sát, chứ không đẻ ra những công dân xây dựng tương lai.”

Ông Aziz Nesin, văn hào Thổ Nhĩ Kỳ, đoạt nhiều giải thưởng văn chương quốc tế, cũng gởi bài tham luận đến đại hội với lời lẽ nhạo báng thật là nhục nhã cho đất nước :

«…Các bạn đã rút ngắn được đáng kể con đường dẫn đến kho tàng tri thức loài người. Nước Mỹ luôn tự hào là một trong những cường quốc trên thế giới, có những trường đại học hàng đầu như Havard, MIT… nhưng họ vẫn phải mất từ 7 đến 10 năm mới đào tạo xong một tiến sĩ. Tiến sĩ của Việt Nam không cần biết tiếng Anh, bảo vệ thành công luận án trong vòng sáu tháng.

Nếu chỉ số hạnh phúc của Liên Hiệp quốc lấy tiêu chí hài hước làm trọng thì Việt Nam sẽ đứng trong “top ten” các dân tộc hạnh phúc trên thế giới. Chỉ có ở đất nước của các bạn, “thế giới ngày mai” mới đeo cặp đu dây qua sông tới lớp. “Vì lợi ích mười năm trồng cây”, các bé gái tuổi vị thành niên thành món quà của thầy hiệu trưởng gửi tới cho bạn bè trên tỉnh. “Tiên học lễ”, nữ sinh lột quần áo nhau quay phim đưa lên youtube. Cô giáo túm vào chỗ kín của học sinh nam. Trò hư phải thay nhau liếm ghế. “Hậu học văn”, quay cóp được nâng lên thành nghệ thuật. Thầy ra bài, thầy thu tiền, thầy cho đáp án trước ngày thi. Trò thuê người học thay, thuê người viết luận văn, bằng giả bày như rau dưa ngoài chợ.

Chỉ có ở đất nước của các bạn, cảnh sát gọi người vi phạm giao thông vào góc đường làm luật. Cò kè cưa đôi. Người anh hùng bỗng chốc trở thành tội phạm vì mấy chục triệu quỹ đen. Kẻ tham nhũng tiền tỷ tỷ được xem xét vì có thân nhân tốt. Chưa tranh tụng trước tòa đã biết bao nhiêu năm nằm khám. Tử tù sinh con trong phòng biệt giam.

Chỉ có ở đất nước của các bạn, bê tông mới được đúc bằng cốt tre. Cầu vượt đang xây dầm đã lao xuống đất. Hầm đường bộ thành sông trong thành phố. Đường chưa bàn giao đã sụt, lún, chân chim.

Chỉ có ở đất nước các bạn, mới có thủ tướng chân tình “ba năm qua tôi chẳng kỷ luật ai”. Các nghị sĩ hồn nhiên đồng thuận.

Chỉ có ở đất nước các bạn, người viết bằng mọi giá chen chân vào Hội Nhà văn. Một phần ba số hội viên muốn được làm lãnh đạo. Đại hội không bàn chuyện văn chương, chỉ lo bầu bán. Ai cần Hội Nhà văn? Hội Nhà văn cần ai?”

Và ông mỉa mai kết luận:

“Vẫn biết Đại Hội mới bắt đầu, nhưng chắc chắn sẽ thành công rực rỡ. Chúc các bạn có một Ban chấp hành mới, hoạt động không cần tiền thuế của dân. Chúc các bạn có nhiều tác phẩm đoạt giải Nobel, tất cả nhà văn sống được bằng ngòi bút.” (Lê Thị Thanh Chung dịch, phổ biến trên net ngày 8/8/2010).

Mỗi ngày, đọc tin trong nước và ngoài nước, người VN ưu tư với thời cuộc không khỏi bi phẩn trước sự xuống cấp trầm trọng về giáo dục và đạo đức xã hội của Việt Nam. Làm sao mà đất nước khá lên được khi người lãnh đạo quốc gia, ông Nguyễn Tấn Dũng đã bỏ học đi làm du kích từ lúc 12 tuổi (nhưng trong lý lịch khai là có Cử Nhân Luật), sau  làm bí thư huyện kiêm trưởng ban công an huyện Hà Tiên (1980-1986) đặc trách chỉ huy buôn lậu ở cửa biển Hà Tiên để làm kinh tài cho đảng và cho mình, được cha đỡ đầu Lê Đức Anh đưa lên làm Thứ Trưởng Bộ Công An rồi Thống đốc ngân hàng và khi nhậm chức thủ tướng đã hùng dũng tuyên bố :«Tôi kiên quyết chống tham nhũng, nếu tôi không chống được tham nhũng, tôi xin từ chức ngay». Vừa dốt vừa láo khoét, Dũng và đồng bọn hiện nay là những tay tham nhũng nhất nước.

Làm sao mà dân VN có thể tin được người Cộng Sản khi ông chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã tuyên bố không biết ngượng : “Mình vừa động viên ông Obama, mình muốn phân hóa cái nội bộ của ổng…” (nói chuyện với« kiều bào» thân Cộng về nước đến vái lạy chủ tịch năm 2009)

Độc tài, ngu dốt, lừa dối và tham nhũng đã làm cho đất nước VN suy đồi mà giáo dục là căn bản của một dân tộc. Đảng Cộng Sản VN phải trả lời trước lịch sử trọng tội nầy.

 

Thư mục chính yếu

-  Nguyễn Đức Tuyên. Một cái nhìn về giáo dục đại học VN.

-  Montréal : Truyền Thông , no.22 & 23, 2007.

- Harvard Kennedy School. ASH Institute. Vietnamese higher education: crisis and response/Thomas J. Valley & Ben Wilkinson,  November 2008.

-  Hoàng Tụy. Giáo dục : Xin cho tôi nói thẳng. (trang mạng của Hoàng Tụy)

-  Nghiêm Văn Thạch. Đảng CSVN trong tình trạng hiểm nghèo/Phong trào Dân Chủ Đa Nguyên

-  Đại học VN. www.vi.wikepedia.org

-  Các trang mạng  với chủ đề về giáo dục VN, đại học VN. 

 * * *

Giáo Dục Bi Hài

Trần Khải.


          Tôi vẫn luôn luôn thắc mắc, nền giáo dục phổ thông mà không thực sự phổ thông rồi sẽ dẫn đất nước tới đâu.  Tình hình giáó dục bậc tiểu học ở đâu cũng phải trả tiền, trung học ở đâu cũng phải trả tiền quả nhiên là chuyện di hại cho nhiều thế hệ về sau.

Nền giáo dục bậc trung học được miễn phí đã qua rồi. Đó là chuyện của Việt Nam Cộng Hòa thời trước 1975. Tôi và nhiều người cùng thế hệ may mắn ở Miền Nam, được học miễn phí bậc tiểu học, miễn phí bậc trung học, và miễn phí cả bậc đạị học -- nhiều trường như Đaị Học Luật, Đạị Học Văn Khoa và cả Đạị Học Khoa Học lúc đó chỉ lấy lệ phí nhẹ, và tiền sách giáo khoa mua theo lời từng vị thầy.  Tất nhiên, chỉ trừ các trường tư (cả 3 bậc), và phía các đạị học tư mà tôi quan sát được, và có nhiều bạn thân theo học, như Đạị Học Vạn Hạnh của Phật Giáo, Đại Học Minh Đức của Công Giáo... nhưng học phí không thể là chuyện cắt cổ so với đời sống như hiện nay (nếu so với lương công nhân).

Không lẽ chính phủ không thể tăng thêm ngân sách cho giáo dục? Có phải chi phí cho guồng máy công an nhiều tới nỗi không thể chia bớt sang cho quý thầy cô? Không lẽ cứ để cho những vụ Vinashin đốt hàng tỷ đô la và rồi bán công khố phiếu hàng trăm triệu đô để cho lò đốt tiền này trả nợ?

http://sucvathochiminh.wordpress.com/sucvathochiminh/attachment/0084/" target="_blank">

    

Tại sao nước mình tới chỗ thế này? Có thêm 10 Ngô Bảo Châu với 10 giải thưởng nữa mà lại để cho nhiều triệu trẻ em thất học có phải là phi lý không?

           Một bản tin hôm Thứ Hai 20-9-2010 của thông tấn VietnamNet có nhan đề gây chú ý “Điều phối viên thường trú Liên hợp quốc: 'Tham nhũng giáo dục nổi cộm ở Việt Nam'...”
           Trong trí nhớ của tôi, suốt cả thời đi học, tôi hoàn toàn không nhớ, và không nghe gì về chuyện “tham nhũng giáo dục.” Tại sao thời naỳ lại có? Trong những người đi dạy đó, tôi tin hầu hết là có tâm huyết, cũng biết đau lòng với những đói nghèo của đồng bào và học sinh... Xã hội mà tới chỗ người giáo viên phaỉ tham nhũng thì thật chưa từng nghe nói trong lịch sử dân tộc, nơi vị trí của người thầy là tương đương với cha mẹ.

Bản tin VietnamNet viết, trích:

“..."Nếu chỉ nhìn vào con số chung, dễ có cảm giác cả nước hoàn thành tốt nhiệm vụ, trong khi thực tế có những vùng, miền có kết quả đi chậm hơn các vùng khác. Thách thức đạt MDG không chỉ nhìn vào số liệu quốc gia ở mức độ nào mà phải nhìn vào kết quả cụ thể của từng vùng, miền, địa phương" - ông John Hendra, Điều phối viên thường trú LHQ phát biểu.”

Tham nhũng trong giáo dục là thách thức mà ông John Hendra lưu tâm.

Ông nói tham nhũng trong lĩnh vực này đã trở nên nổi cộm. Việc phổ cập giáo dục phải đảm bảo người nghèo không bị gạt ra ngoài lề.

"Chính sách miễn giảm chi phí chính thức học phí sẽ không có ý nghĩa nếu như người dân vẫn phải dùng tiền túi cho các khoản chi phí không chính thức khác cho việc học của con em", ông nói...”(hết trích).

Trong khi đó, một khía cạnh bi hài đặc biệt là chuyện xảy ra ở quê hương Xô viết Nghệ Tĩnh: chính quyền không chịu xây trường, bèn yêu cầu thầy cô đứng tên vay nợ ngân hàng để xây trường, và rồi chính quyền trong trả tiền nợ... thế là các thầy cô bị ngân hàng níu áo đòi nợ.

Có thời nào như thế không, khi chính quyền không chịu xây trường, mà phải buộc thầy cô vay nợ ngân hàng để xây trường?

Bản tin đăng trên thông tấn Tamnhin.net có nhan đề “Bi hài chuyện giáo viên vay tiền cho xã... xây trường” đã kể, trích:

“Hàng chục giáo viên trường THCS Liên Hương, huyện Vũ Quang (tỉnh Hà Tĩnh) đã trở thành những con nợ không có khả năng thanh toán của ngân hàng sau khi đứng ra vay tiền cho xã xây trường học.

http://sucvathochiminh.wordpress.com/sucvathochiminh/attachment/0086/" target="_blank">
           Sống dở chết dở vì ngân hàng đòi nợ.

Trong những năm 2003 đến 2005, Ban giám hiện trường THCS Hương Liên cùng UBND xã Đức Hương đã đứng ra vận động các giáo viên đang công tác tại trường đứng tên vay tiền ngân hàng để xây dựng cơ sở vật chất cho trường.

Mặc dù, hoàn cảnh rất khó khăn, đồng lương ít ỏi nhưng khi thấy UBND xã cam kết là sẽ đứng ra trả tiền gốc và lãi, nhiều giáo viên đã đứng ra vay cho xã hàng trăm triệu đồng.

Thế nhưng kể từ đó đến nay đã hơn 5 năm trôi qua, ngôi trường THCS Hương Liên đã được xây mới, nhiều hạng mục khác cũng nâng cấp khang trang nhưng Ban giám hiệu và UBND xã thì lại "quên" mất những điều đã cam kết với những giáo viên nghèo đầy tinh thần trách nhiệm.

Thầy Nguyễn Viết Hưng cho biết: "Năm 2005 tôi có đứng tên ra vay 12 triệu đồng với mục đích là mua xe máy. Nhưng thực chất là vay cho trường xây dựng cơ sở vật chất.

Hiện nay tôi đã chuyển về dạy tại huyện Đức Thọ được một năm nhưng số nợ của tôi ở Ngân hàng Nông nghiệp Vũ Quang thì xã và nhà trường vẫn chưa giải quyết xong. Và hàng tháng giấy nợ vẫn cứ gửi về đều đều yêu cầu tôi phải thanh toán số tiền đã vay trước đây".

Bi đát hơn là thầy Trương Bá Năng, là giáo viên có năng lực, có tâm huyết thầy đã đứng ra vay tới 16 triệu đồng từ năm 2003 nhưng đến nay nhưng xã mới chỉ trả được 3 triệu đồng....”(hết trích).

http://sucvathochiminh.wordpress.com/sucvathochiminh/attachment/0087/" target="_blank">

Tại sao như thế? Tại sao chính quyền không muốn xây trường cho con em? Có phải muốn con em mù chữ? Có phải vì đây là quê hương Xô Viết Nghệ Tĩnh, nơi “nhiệt tình cách mạng” sôi sục, cho nên chính phủ cố ý gài cho dân chúng phải nhiều thế hệ thất học để đừng bao giờ ngóc đầu dậy?

Nhưng giaó dục VN sẽ dẫn tới đâu, ngay cả đối với các em sinh viên may mắn có cơ hội theo đuổi?

Bài viết trên mạng Boxitvn.net của Vũ Cao Đàm, nhan đề “Tản mạn về những vấn đề trong hệ thống giáo dục Việt Nam: Một hệ thống đào tạo thiếu cả THỢ, thiếu cả THẦY” đã mô tả hình ảnh bi thảm, trích:

“...Một lần tôi cùng đi tham dự một hội thảo ở Châu Âu với một vị Hiệu trưởng đại học. Sau khi công việc ở hội thảo đã xong, chúng tôi đến làm việc với một vài trường đại học theo hẹn sẵn từ trong nước. Khi ngồi ăn trưa trong nhà ăn của nhà trường, chúng tôi ngẫu nhiên được gặp vài sinh viên Việt Nam từ Hà Nội qua, tiếp tục theo học ở trường này.

Trong câu chuyện rất thân mật với các bạn sinh viên, tôi hỏi: “Các bạn đến học ở trường này thấy điều gì khác nổi bật so với các trường đã học ở trong nước?” Chúng tôi được nghe một câu trả lời đầy ấn tượng: “Thưa hai thầy, ở đây dạy chúng em làm NGƯỜI, còn ở nhà dạy chúng em làm những con RÔBỐT”.

Chúng tôi quay sang hỏi một nữ sinh viên, cũng đã học xong năm thứ nhất ở một trường đại học trong nước, xin được học bổng sang tiếp tục theo học ở Châu Âu. Tôi hỏi: “Bạn đã học qua năm thứ nhất ở trong nước, nay qua đây bạn cảm nhận thế nào về kết quả học tập trong suốt năm đầu ở trong nước?”. Câu trả lời bộc bệch: “Thưa hai thầy, cái năm học ở trong nước em chẳng học được cái gì ạ!” Tôi hỏi: “Nghĩa là nó vô tích sự phải không?”. Câu trả lời: “Em không dám nói như vậy, nhưng đúng là như vậy đấy ạ!” Tôi hỏi tiếp: “Bạn nghĩ thế nào về các môn đã học trong năm thứ nhất, chẳng hạn, triết học, ngoại ngữ,… không dùng được gì sao?” Câu trả lời: “Đúng thế ạ. Triết học thì không dùng làm gì, còn Ngoại ngữ thì học lại từ a.b.c như hồi học trung học”. Tôi hỏi tiếp: “Các thầy Triết học dạy sinh viên tư duy cho đúng quy luật chứ sao lại vô tích sự?”. Trả lời: “Nhưng thưa thầy tư duy theo kiểu vòng vèo nguỵ biện ạ”. Khi tôi yêu cầu nêu ví dụ thì sinh viên nói không cần suy nghĩ: “Khi thắng lợi thì nói ta vĩ đại, khi thất bại thì nói là khó khăn nhất thời, khi hỏi vì sao nhất thời thì nói là thời kỳ quá độ, khi nỏi vì sao quá độ dài thế, thì nói ta đang trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ, vân vân và vân vân, nghĩa là mọi cái sai đều có thể nguỵ biện thành đúng”...(...)

Trở lại câu chuyện chúng tôi gặp sinh viên Việt Nam trong nhà ăn ở một trường đại học nước ngoài. Tôi quay sang hỏi sinh viên đầu tiên: “Bạn vừa nói là Việt Nam đào tạo các bạn thành những con Rôbốt? Nếu là con Rôbốt thì học xong phải làm thành thạo một việc nào đó chứ?” Câu trả lời: “Thưa thầy, nhưng là con RÔBỐT VỤNG VỀ, làm gì hỏng nấy ạ”. Tôi hỏi vui: “Cậu thử cho vài ví dụ”, thì được nghe một đánh giá mà tôi rất tâm đắc: “Dạy Toán, thì thực chất là dạy cho thành thợ làm toán, nhưng là thợ biết làm theo các bài toán mẫu; dạy sử thì dạy để trở thành bộ sưu tập sử liệu…, nhưng là một bộ sưu tập sử liệu méo mó; dạy âm nhạc thì dạy để có cái kỹ thuật của anh thợ làm nhạc chứ không dạy thẩm mỹ âm nhạc; dạy vẽ thì để thành họa sĩ “Bờ Hồ”, chứ không dạy thưởng thức nền hội họa vĩ đại của nhân loại… Mỗi thứ đểu dạy theo kiểu để làm thợ, nhưng học xong thì chẳng thành cái thứ thợ gì”...”(hết trích).

Học để thành Rôbốt? Đúng vậy. Có phải Đảng CSVN chỉ muốn nền giáo dục sẽ chỉ đàò tạo ra một đạọ binh robot trung thành với Đảng CSVN... Đúng vậy, CSVN không cần người, chỉ cần robot...

                          

 * * *

 

Nền phản-giáo dục

của Cộng sản Việt Nam

 

Ban Biên Tập sưu tầm

Mỗi năm, đúng hôm 03-09, nhà cầm quyền VN lại rùm beng tổ chức “Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường”. Cái tên nghe thật kêu, như chứng tỏ “đảng ta” quan tâm về giáo dục lắm. Nhiều bích chương có hình 2 trẻ nhỏ, một nam một nữ, mang khăn quàng đỏ của Đội thiếu nhi Tiền Phong, đứng dưới cờ đỏ sao vàng với giòng chữ ở đỉnh hay đáy bích chương: “Từ ngày có Đảng”, được treo khắp phố phường, làm như thể dân Việt chỉ được đến trường từ ngày đảng CS xuất hiện.

Thế nhưng, ngoại trừ kẻ mắc bệnh tâm thần, ai cũng biết rằng nền giáo dục của CSVN là nền giáo dục khốn nạn nhất trên thế giới. Với đủ thứ thành tích rất đáng xấu hổ và tệ trạng vô phương chữa trị. Về tư cách lãnh đạo thì trước hết là chuyện đích thân bộ trưởng giáo dục kiêm phó thủ tướng (nay chỉ còn chức PTT) được các trang blogs bầu chọn là nhân vật tồi tệ nhất trong 2 năm liền (2007-2008), vì đã đẩy nền giáo dục ngày càng xuống hố thẳm.

Thầy có một thành tích nổi bật là đã lệnh cho các hiệu trưởng đại học từ Nam chí Bắc (chính các vị này cũng nhất trí đồng lòng) ra văn thư cấm cản sinh viên biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Hoàng Trường Sa năm 2007-2008. Còn đích thân thầy thì chủ tọa cuộc rước đuốc Thế vận Bắc Kinh qua Sài Gòn ngày 30-04-2008 với thái độ thản nhiên trước bản đồ Trung Hoa do thanh niên Tàu giương cao trong đó Hoàng Trường Sa được ghi là lãnh thổ Trung Cộng… Kế tiếp là chuyện thầy hiệu trưởng trường trung học thị trấn Việt Lâm (tỉnh Hà Giang) đứng ra thành lập đường dây mua bán trinh trẻ vị thành niên, những nữ sinh yêu quý của thầy, để “phục vụ sinh lý” cho các quan chức lớn trong tỉnh...

Gần đây nhất, hôm tháng 8, là chuyện hai nhân vật lớn từ Bộ Giáo dục (trong đó có một Thứ trưởng) đã tìm cách gây khó khăn cho Đại học tư thục Phan Châu Trinh tại Hội An, Quảng Nam nhằm mục đích loại ban quản trị để chiếm lấy trường… Còn vô số “gương lành lãnh đạo” khác nữa…

Về đạo đức học đường thì hầu như ngày nào cũng có chỗ xảy ra cảnh dân phòng hay công an tra tấn học sinh sinh viên kiểu xã hội đen; thầy giáo hiếp dâm học trò, đổi tình lấy điểm, lén coi nữ sinh thay y phục; cô giáo bắt học trò liếm ghế, cho bạn tát tai bạn, sờ chỗ kín của nam sinh; học trò đánh thầy giáo, đánh bạn học (thậm chí nữ sinh cũng đấm đá nhau chí tử rồi tung lên mạng), học trò vay nóng, lãi cao để chơi game hay hút xì ke bị xã hội đen dọa giết, nữ sinh viên để kiếm tiền trả học phí đành làm gái gọi v.v…

Rồi nạn dối trá tràn lan, như lời nhà văn Trần Mạnh Hảo (trong tham luận gởi Đại hội Hội Nhà văn mới đây): “Đạo đức trong giáo dục VN hôm nay đồng nghĩa với dối trá : thày dối trá thày, trò dối trá trò, quản lý giáo dục báo cáo láo cốt lấy thành tích, nạn mua bán bằng, bán đề thi, mua quan bán tước đang là đại họa của nền giáo dục. Hầu hết sách giáo trình, sách giáo khoa… là sách đạo văn. Cán bộ có chức có quyền đua nhau làm thạc sĩ, tiến sĩ… lấy bằng thật nhưng học giả. Nạn dùng tiền mua bằng cấp, mua học hàm học vị đang diễn ra công khai trong cái chợ trời giáo dục VN…”.

Ngoài ra còn phải kể đến nạn ban giám hiệu, sở giáo dục hay cả bộ giáo dục hăm dọa, cấm cản học sinh sinh viên sống niềm tin tôn giáo (như tại Nghệ An), sách nhiễu, loại trừ các thầy cô có tinh thần độc lập hay dân chủ (như Nguyễn Thị Bích Hạnh, Đỗ Việt Khoa, Vũ Hùng...); dửng dưng trước việc các nữ sinh nạn nhân ở trường Việt Lâm đã bị tuyên là tội phạm, chịu những án tù dài; bỏ mặc cho công an đày đọa giáo sư Phạm Minh Hoàng chỉ vì thầy có chính kiến khác với đảng thống trị… Về thành tích giáo dục thì kết quả kỳ thi tốt nghiệp năm nào cũng dưới 50% nhưng lại được đôn lên gần 100%...

VN không có đại học nào chất lượng được thế giới công nhận. Chẳng cơ sở nào của VN có tên trong mọi danh sách các đại học hàng đầu châu Á. Trong số các bài viết xuất bản trên các tạp chí khoa học năm 2007, thì Đại học Quốc gia Seoul (Hàn quốc) có 5.060 bài, Đại học Quốc gia Singapore: 3.598, Đại học Bắc Kinh (Trung Quốc): 3.219, Đại học Mahidol (Thái Lan): 950, Đại học Malaya (Malaysia): 504, Đại học Manila (Philippin): 220, còn Đại học Quốc gia VN (cả Hà Nội lẫn Sài Gòn) chỉ có 52 bài. (x. Science Citation Index Expanded, Thomson Reuters).

Đến nay VN vẫn lẹt đẹt như vây. Chỉ số sáng tạo thì trong số bằng sáng chế được cấp năm 2006, Hàn Quốc có 102.633 bằng, Trung Quốc: 26.292, Singapore: 995, Thái Lan: 158, Malaysia: 147, Philippines: 76, còn VN ta là một con số 0 vĩ đại (x. World Intellectual Property Organization, 2008 Statistical Review). Đến nay ta vẫn chưa khá lên nổi. Dĩ nhiên còn nhiều tệ nạn khác trong ngành giáo dục như tham nhũng từ cao xuống thấp, cơ sở và giáo viên thiếu thốn, trường ốc xập xệ, học cụ nghèo nàn, giáo khoa đắt đỏ, môn chính trị quá nặng, học sinh nghèo bỏ học…

Có người cho tất cả những tệ nạn trên là do đất nước đã trải qua một cuộc chiến tàn phá tổn hại, do sự yếu kém trong quản lý giáo dục, do nền kinh tế của đất nước và quốc dân còn nghèo nàn, do việc đào tạo thầy cô ở mọi cấp chưa được chu đáo hoàn chỉnh, do sự thiếu cọ xát giao lưu với các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới…. Theo chúng tôi thiết nghĩ, đó chỉ là những nguyên nhân phụ. Nguyên nhân chính vẫn là đường lối giáo dục, bao gồm triết lý giáo dục và mục tiêu đào tạo, vốn do đảng Cộng sản đề ra. Điều này được trình bày rõ ràng trong Luật Giáo dục do Quốc hội khóa 11 ban hành ngày 14-06-2005. “Điều 2: Mục tiêu giáo dục: Đào tạo con người VN phát triển toàn diện, có đạo đức… trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội….”. “Điều 3: Tính chất, nguyên lý giáo dục: 1. Nền giáo dục VN là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng”. “Điều 27: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất… hình thành nhân cách con người VN xã hội chủ nghĩa…”.

“Điều 40: Nội dung giáo dục đại học phải có tính hiện đại và phát triển, bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản… và các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh…” Tất cả các điều này rõ ràng cho thấy đảng và nhà cầm quyền Cộng sản VN quyết tâm đào tạo con người VN theo một chủ nghĩa đã bị nhân loại vất vào sọt rác từ mấy chục năm nay vì phi nhân và bất lực, dối trá và cưỡng bức, sai lầm và ảo tưởng, noi gương một con người mà đạo đức là vô luân và tư tưởng là vô thực, hướng đến một mục tiêu, lý tưởng và nhân cách chưa bao giờ xác định được là “chủ nghĩa xã hội”. Rồi để bảo đảm đi đúng đường lối giáo dục này, Điều 56 cho biết trong mọi trường (có lẽ trừ mẫu giáo của các Giáo hội) đều có Tổ chức Đảng: “Tổ chức Đảng Cộng sản VN trong nhà trường lãnh đạo nhà trường…”. Cụ thể là mọi hiệu trưởng các cấp đều phải là đảng viên và trong mỗi trường đều có đảng ủy, chưa kể Đoàn thanh niên CS Hồ Chí Minh (với nhiều đoàn viên đóng vai công an học trò theo dõi thầy giáo và bạn học) hoặc Đội thiếu nhi Tiền Phong trong các trường cấp 1 (với nhiều đội viên có nhiệm vụ báo cáo về cô giáo). Tổ chức đảng này còn nằm trong những Sở giáo dục tỉnh, thành, quận, huyện mà mục tiêu chủ yếu là theo dõi chính kiến của phụ huynh và học sinh.

Một chính đảng cầm quyền và một chính phủ công cụ mang trong mình ba đặc tính cố hữu: “tàn ác cách lạnh lùng, dối trá cách bình thản, ngu dốt cách cố chấp”, sáu yếu tố tự hủy: “vô thần, duy vật, hận thù, bạo lực, bất công và gian trá”, đã và đang thất bại trong các lãnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng… thì làm sao có một nền giáo dục lành mạnh, nhân bản và hiệu quả? làm sao đào tạo được những công dân trưởng thành, tự do và độc lập cho đất nước? Có chăng là chỉ đào tạo được những thần dân hoặc trung thành tối mặt với đảng, hoặc khiếp nhược im lặng trước đảng, nghĩa là thành nô lệ hay công cụ cho đảng. Và tất cả những tệ nạn trên kia chỉ là hậu quả của đường lối chính trị hóa giáo dục đó.

Đến đây, không thể không ngậm ngùi luyến tiếc nền Giáo dục của VN Cộng Hòa trước năm 1975. Triết lý giáo dục thời đó theo ba nguyên tắc "nhân bản", "dân tộc" và "khai phóng" (liberal), được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến pháp VNCH (1967).

Nhân bản vì lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người làm căn bản; xem con người như cứu cánh chứ không như phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái hay tổ chức nào. Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

Dân tộc vì tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp và quốc gia; bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc.

Khai phóng nghĩa là mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

Mục tiêu giáo dục là phát triển toàn diện mỗi cá nhân trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của từng học sinh; cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực để nhồi sọ học sinh theo một chủ trương, đường hướng định sẵn.

Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh, bằng cách giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường và lối sống của người dân; biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở, ca ngợi tinh thần đoàn kết đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; học và sử dụng tiếng Việt cách hiệu quả; biết bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia, có tinh thần tự tin, tự lực và tự lập.

Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học bằng cách giúp học sinh tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; phát triển óc phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; có khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại (theo Wikipedia).

Làm văn hóa giáo dục sai là giết chết cả một thế hệ. Từ 1954 tới nay, CS đã giết chết bao thế hệ? Ngày nào nó mất đi, thì làm sống lại các thế hệ cũng không phải là điều dễ dàng!!!


Source: http://tiengnoitudodanchu.org/module...ticle&sid=9286

* * *

Vài nhận xét về nền giáo dục

của Cộng Sản Việt Nam.

 

Lê Nhân

      "Làm thầy thuốc sai lầm có thể hại một mạng người.

Làm chính trị sai lầm có thể hại một thế hệ.

Làm văn hóa sai lầm có thể hại muôn đời."                                                                                    

LãoTử

Mao Trạch Đông coi gía trị trí thức không bằng cục phân và Hồ Chí Minh cũng coi trí thức Việt Nam như một phương tiện, không hơn, không kém, dùng xong rồi bỏ, nếu thấy không còn dùng được nữa hay không còn cần tới nữa. Nhưng không phải vì vậy mà Hồ Chí Minh coi thường giáo dục. Ông ta đã thuổng một lời nói của người xưa và coi như lời nói của mình là : “ Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người(1). Điều đó chứng tỏ rằng Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm và chú trọng tới việc giáo dục con người. Nhưng Hồ Chí Minh không muốn đào tạo con người trở thành những con người biết suy tư, biết phán đoán và dám quyết định việc mình phải làm nên chính sách giáo dục của Cộng Sản VN không phải là chính sách giáo dục nhân bản và khai phóng, không đặt trên căn bản Nhân Trị Chủ Nghiã, lấy Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí và Tín làm đầu, nhằm phát triển toàn diện con người trong chiều hướng tốt mà áp đặt vào cái chũ nghịa Duy Vật, một chủ nghĩa vô luân, vô đạo để đào tạo con người trở thành con vật chỉ biết lập lại những gì đã được Đảng dạy bảo và tuân theo một cách tuyệt đối những gì Đảng đã ra lệnh.

Kết qủa của chính sách giáo dục này là đã đào tạo nên cả một thế hệ ngu muội, dốt nát, vô đạo đức và luôn luôn sợ sệt. Đánh nhau thì giỏi (giỏi vì chỉ biết tuân lệnh một cách tuyệt đối chứ không phải giỏi vì biết suy tư hay phán đoán), nhưng khi thống nhất được đất nước thì không những không biết quản lý sao cho tốt, vì qúa ngu dốt, mà còn ngoan cố và tàn bạo vì chỉ biết nghe lệnh cấp trên. Với chủ trương “Hồng hơn Chuyên”, khả năng chuyên môn không quan trọng bằng lập trường chính trị, nên đã đưa cả đất nước tụt hậu và thua kém tất cả các nước khác trong vùng Đông Nam Á về tất cả mọi phương diện mặc dầu trước đó, miền Nam không thua kém gì các nước khác trong vùng.

I/ Đặc tính.

1/ Lấy Học Thuyết Mác Lê làm nền tảng.

Mặc dầu nay thì họ đã nhận thức được điều đó nên chính sách giáo dục của họ đã có phần thay đổi. Ngoài giáo trình đã có, còn có cả Viện Khoa Học Giáo Dục, Viện Chiến Lược chuyên nghiên cứu mọi chuyên đề, trong đó có chuyên đề giáo dục, Ban Quản Lý các dự án giáo dục tại địa phương và Hội Đồng Quốc Gia Giáo Dục do Thủ Tướng đứng đầu tại Thủ Đô. Nhưng vì vẫn bấu víu vào một cái học thuyết lỗi thời và và chủ nghĩa không tưởng đó là Chủ Nghĩa Cộng Sản nên vẫn không thoát ra khỏi cái ốc đảo nhầy nhụa, thối tha và bẩn thỉu, đó là cái ốc đảo Xã Hội Chủ Nghĩa. Do đó bằng cấp thì nhiều như cỏ dại, mà trí thức thực sự thì hiếm như lá mùa thu, tạo nên cảnh loạn thầy, lọan trường, loạn lớp, loạn bằng cấp, và loạn cả thi cử.

 2/ Tham nhũng và lạc hậu.

Sách vở thì tuy năm nào cũng sửa chữa và tái bản bắt học trò phải mua để thày kiếm thêm tiền, nhưng thực chất thì cũ rich và lạc hậu. Thêm vào đó là bệnh thành tích, bệnh tiêu cực, nói theo danh từ của Công Sản, tức chỉ biết tham nhũng và hưởng thụ, khiến nền giáo dục của Việt Nam hiện nay trở thành một thị trường mua bán bằng cấp và chữ nghĩa, không hơn, không kém.

Trong kỳ thi tuyển sinh vào Đại Học vừa qua (năm 2006), trước ngày thi, Công An Hà Nội đã tịch thu gần 400 ký phao thi (2) tại ký túc xá Đại Học Kinh Tế Quốc Gia Hà Nội và trong ngày thi thì có nhiều giám thi trường thi đã vi phạm trường quy, nhiều người đã ngang nhiên vào phòng thi cướp đề thi và ngang nhiên vào phòng thi để đưa bài giải cho thí sinh đã diễn ra tại một vài trung tâm. Họ là ai nếu không phải là công an hay những ông cán bộ có chức, có quyền?

Giám khảo chấm thi thì tắc trách và vô trách nhiệm. Có tiền thì chấm cho đậu. Không tiền thì chấm cho trưọt. Thậm chí có giáo sư chấm thi còn dám gạ gẫm nữ thí sinh đổi tình lấy điểm như trường hợp của Đỗ Tư Đông, giáo sư Phó Khoa Trưởng Khoa Báo Chí của trường Cao Đẳng Phát Thanh và Truyền Hình Trung Ương tỉnh Hà Nam. Chính vì thế mà trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội đã phải chấm lại và ngày 12 tháng 9 vưà qua, đã công bố kết qủa chấm phúc khảo bài thi tuyển sinh đại học năm 2006 và cho biết nhiều bài thi sau khi chấm lại đã có điểm sai lệch tới 8, 9 điểm. Kết qủa riêng khối A trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội đã có tới 14 thí sinh từ trượt thành tốt nghiệp và Học Viện Hành Chánh Quốc Gia đã có 8 thí sinh từ trúng tuyển thành trượt và 12 thí sinh từ trượt thành trúng tuyển.

3/ Sai lầm

Cách nay năm năm, năm 2001, ông Nguyễn Kế Hào, Vụ Trưởng Vụ Tiểu Học, một người đứng đầu ngành Tiểu Học cả nước đã đột ngột từ chức với một câu nói thẳng thừng: “Tôi từ chức vì không muốn làm điều thất đức”. Đúng, “Làm chính trị mà sai lầm thì chỉ hại một thế hệ, nhưng làm văn hóa mà sai lầm thì hại muôn đời”. Ở đây, không những sai lầm vì chính sách giáo dục đã phải nằm trong một cái chủ nghĩa vô thần đó là chủ nghĩa Công Sản mà còn cố tình làm điều thất đức thì thật không còn gì tai hại hơn.

  • Lượng hơn phẩm.

Ai đã từng về Việt Nam thì đều thấy, nhất là tại Saigon, trường học mọc lên như nấm, lớp riêng mọc lên như giòi. Đường nào cũng có trường, không phải chỉ có trường Mẫu Giáo, Tiểu Học hay Trung Học mà cả Đại Học. Hẻm nào cũng có lớp luyện, kèm, không phải chỉ kèm cho những học sinh trung học hay những lớp luyện thi Trung Học hoặc vào Đại Học, mà có cả lớp luyện thi vào Mẫu Giáo. Thật nực cười khi thấy một em bé mới có ba bốn tuổi, chưa thuộc hết 24 chữ cái, vậy mà cha mẹ cũng phải nhờ một cô giáo dậy luyện thi vào Mẫu Giáo vì trường quảng cáo qúa hay, mà sĩ số thì có hạn nên đành phải thuê cô giáo luyện thi.

Nếu tính theo tỷ lệ dân số, thì số trường cần thiết cho thành phố Saigon chỉ gấp ba, gấp bốn hồi trước 1975 là cùng. Vậy mà nay số trường gấp tới cả vài chục lần. Không phải chỉ có trường Mẫu Giáo hay Tiểu Học, Trung Học mới gia tăng một cách khủng khiếp như vậy, mà cả Đại Học cũng vậy. Có trường Đại Học quảng cáo học tại Việt Nam, nhưng bằng thì do trường Đại Học danh tiếng ngoại quốc cấp. Có trường Đại Học quảng cáo tuyển 500 sinh viên học thi lấy bằng Thạc Sĩ và Tiến Sĩ. Có cả Trung Tâm dịch vụ quảng cáo chuyên viết dùm Luận Văn (memoir) cho sinh viên ban Cao Hoc hoặc Luận Án (thesis) cho sinh viên ban Tiến Sĩ.

Bằng Tú Tài ở Việt Nam bây giờ là đồ bỏ vì kỳ thi năm nào, tỷ lệ đậu cũng rất cao, có tỉnh tỷ lệ đậu lên tới 99%. Tính chung cho cả nước là 93.87%. Như vậy bằng cấp còn có giá trị gì nữa vì ai thi mà chẳng đậu? Có thi là có đậu, trừ phi vì lý do nào đó, phải bỏ thi, chẳng hạn như đău ốm hay tai nạn. Một người dân ở Vân Tảo thuộc tỉnh Hà Tây nói: “Con cái chúng tôi có cái bằng tốt nghiệp rồi cũng chỉ đi cầy thuê, cuốc mướn, chứ làm vương, làm tướng gì ở cái xứ nghèo mỗi người dân chưa đủ ba sào ruộng này?(3)

Tại sao tỷ lệ trúng tuyển lại có thể cao tới mức như vậy để đến nỗi có cái bằng tốt nghiệp rồi cũng chỉ đi cầy thuê, quốc mướn? Bởi vì bệnh thành tích. Thày nào cũng muốn học sinh lớp mình đậu hết. Trường nào cũng muốn học sinh trường mình đậu cao. Tỉnh nào cũng muốn học sinh tỉnh minh đậu nhiều. Do đó, chuyện gian lận thi cử được coi là chuyện tự nhiên. Chuyện thí sinh thí sinh quay phim cũng là chuyện bình thường khiến bằng cấp chẳng còn giá trị gì nữa, vàng thau lẫn lộn. Ngay cả Đào Ngọc Dung, Ủy Viên Trung Ương Đảng, Bí Thư Thứ Nhất, trong kỳ thi tuyển sinh hậu Đại Học (học lấy bằng Tiến Sĩ) năm 2006 taị Học Viện Hành Chánh Quốc Gia (4)cũng quay phim vì không làm nổi bài thi.

  • Hồng hơn chuyên.

Bằng Cử Nhân, Tiến Sĩ thì còn tệ hại hơn. Có ghi danh (nhưng không cần tới trường), có đóng tiền học phí đầy đủ (nhưng không cần học) là có bằng, miễn là đảng viên. Có đảng viên, bốn năm có bốn bằng Cử Nhân. Có đảng viên đêm hôm trước còn là Phó Tiến Sĩ, vậy mà sáng hôm sau đã là Tiến Sĩ vì nếu không có bằng Tiến Sĩ thì làm sao giữ được chức vụ đang có đòi hỏi? Thế là cha con bảo nhau hợp thức hóa cho những người đang nắm giữ những chức vụ cần phải có bằng Tiến Sĩ nhưng chỉ có bằng Phó Tiến Sĩ thành Tiến Sĩ. Tháng 7 năm 2006, Viện Nghiên Cứu Phát Triển và Đào Tạo Nhân Lực Đông Nam Á, từ Saigon xuống Cần Thơ, đã cấp phát khơi khơi cho 851 cán bộ, thanh niên và sinh viên bằng B Anh Văn để họ có đủ điều kiện đảm nhiệm chức vụ.

Trong bài “Mong Bộ Trưởng Giáo Dục “điềm tĩnh” hơn” của An Tuấn Dũng đăng trên VietNamNet có đoạn như sau: “Ở đây, thấy rõ việc làm trái quy luật của ngành giáo dục. Giáo dục phải được phát triển theo hình chóp (pyramid) chứ không thể phát triển theo hình trụ (cylinder), thậm chí có nơi thành hình chóp ngược. Cứ mở lớp, cứ lên lớp 100%, cứ tốt nghiệp 100%. Cứ thu hút học sinh trái tuyến để ăn tiền, để rồi đưa ra xã hội những phế phẩm mãi được chăng?”

II/ Hậu Qủa.

1/ Thiếu kiến thức, không biết động não.

Hậu quả của một nền giáo dục như vậy đã đào tạo ra những con người có sự hiểu biết như thế nào? Kiến thức tổng quát thì quanh đi, quẩn lại chỉ là một mớ kiến thức rỗng tuếch , lạc lậu và vô giá trị như chủ nghĩa Mác Lê, chủ nghĩa Cộng Sản, tư tưởng Mao Trạch Đông, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong kỳ tuyển sinh năm 2005, của 4 trường Đại Học Sư Phạm lớn là Saigon, Hà Nội, Đà Lạt và Đồng Tháp tỷ số thí sinh có điểm trên trung bình là 1/30 về môn Sử. Tại sao vậy? Bởi vì thày cũng như trò, chỉ trú trọng vào các môn các môn chính như toán, lý hóa, ngọai ngữ. Còn những môn phụ như Công Dân, Văn, Sử, không những bị coi thừơng vì hệ số điểm thấp mà còn vì nội dung rỗng tuếch, một chiều và nhiều khi còn bóp méo sự thật.

Giáo viên Hà Văn Thịnh, khoa lịch sử trường Đại Học Khoa Học Huế nói: “Lịch Sử Trung Quốc, đọc vào thấy cái hồn trong đó,… Còn mình thì chỉ một chiều, lúc nào cũng chỉ địch thua, ta thắng, địch bao giờ cũng hèn nhát, ta bao giờ cũng cao thượng, dũng cảm. Một chiều như vậy mãi thì học sinh cũng không thích, thậm chí còn tạo mặc cảm lừa dối”. Ta hãy nghe sinh viên Nguyễn Tấn Trung, một sinh viên chắc hẳn là phải thuộc thành phần học sinh ưu tú mới được chính quyền Cộng Sản Hà Nội cho đi du học tại Pháp đã phát biểu trong bài nói chuyện tại Đại Hội Sinh Viên Việt Nam ở San Jose ngày 15 tháng 7 năm 2006 như sau:

Trung sang Pháp vào năm 2002 (lúc 19 tuổi). Thời gian đầu ở Pháp, do bị ảnh hưởng bởi những gí được học và được dậy dỗ tại Việt Nam, Trung luôn nghĩ rằng xã hội tư bản chỉ có kỹ thuật là giỏi, còn người dân sống trong cảnh bị bóc lột thậm tệ bởi chủ nghĩa tư bản. Con người trong xã hội tư bản chỉ còn biết có tiền, không còn tình người, đạo đức băng hoại, truyền thống dân tộc suy đồi. Cộng đồng người Việt hải ngoại là những người mê tiền, mê vật chất đến nỗi bỏ nước ra đi, không ở lại xây dựng đất nước với đồng bào trong nước”.

Một sinh viên sống tại một thành phố lớn nhất nước là thành phố Saigon với các phương tiện thông tin đầy đủ, sinh ra lúc nhà nước Cộng Sản đã bắt đầu mở cửa, lớn lên lúc bang giao Việt Mỹ đã được thiết lập và màng lưới thông tin điện tử đã được phát triển, vậy mà vẫn để bị che mắt và tuyên truyền và nhồi sọ đến nỗi chẳng biết gì đến thế giới bên ngoài cũng như những tệ đoan xã hội và tham nhũng đã và đang xẩy ra trong nước nói chi đến những người dân quê ít học, chỉ quanh quẩn trong xóm làng?

2/ Thiếu tinh thần tự chủ, chỉ biết cúi đầu.

Sự hiểu biết về những kiến thức tổng quát của những sinh viên tức những kẻ còn đang mài đũng quần nơi giảng đường Đại Học thì như vậy, còn những trí thức thì sao?

Ở Việt Nam bây gìơ, có người nói rằng cứ bước ra khỏi ngõ, “không chạm mặt Tiến Sĩ thì cũng đụng đầu Thạc Sĩ”. Thực vậy, không biết Tiến Sĩ, Thạc Sĩ ở đâu ra mà lắm thế. Nếu tính chung cả nước thì ít nhất cũng vaì chục ngàn Thạc Sĩ và Tiến Sĩ. Nhưng những trí thức đúng nghĩa tức những người không những có bằng cấp cao hoặc có kiến thức rộng, biết góp công sức vào việc cải tiến xã hội, có hoài bão đóng góp và xây dựng một xã hội lành mạnh, một chế độ thực sự tự do, dân chủ và công bằng, bác ái thì thật hiếm. Trái lại, những loại trí thức chồn lùi, trí thức đảng nô thì thật nhiều. Loại trí thức này chỉ biết cúi đầu, cong lưng phục vụ cho giới lãnh đạo Cộng Sản, làm ngơ trước tệ nạn của xã hội, của đất nước. Bọn trí thức này không những chẳng giúp ích gì được cho việc thăng tiến xã hội, tạo dựng một thể chế tự do, dân chủ, mà còn cản trở bước tiến của dân tộc và nhân loại.

Trong một buổi phỏng vấn của đài BBC ngày 29 tháng 3 năm 2006, một họa sĩ trong nước, họa sĩ Nguyễn Minh Thành đã trả lời: “Như tôi biết các bạn bè đồng nghiệp của tôi đa phần thì nghiêng về xu hướng hãy tập trung vào nghệ thuật, đừng có vướng vào những chuyện chính trị, chính trường này kia. Nhất là các thế hệ gần đây, thế hệ trẻ càng về sau thì họ chia ra làm hai quan tâm chính. Một là đời sống tư nhiên bình thường, giải trí, vui chơi. Hoặc một quan tâm khác nữa là quan tâm về mặt vật chất và giầu về kinh tế”.

Tóm lại, nền giáo dục hiện tại của Việt Nam đã đánh mất cái lý tưởng cao cả của giáo dục là phục vụ cho đồng bào, cho đất nước mà chỉ biết phục vụ cho đảng, cho một thiểu số lãnh đạo để mong được hưởng thụ và có cơ hội làm giầu. Để con người có thể vươn lên theo đà tiến hóa của xã hội theo chiều hướng tốt, nền giáo dục Việt Nam cần phải dẹp bỏ cái chủ nghĩa ngọai lai và phi dân tộc, đó là cái xã hội chủ nghĩa cũng như cái học thuyết không tưởng Mác Lê và cái tư tưởng láo lếu Hồ Chí Minh hay nói một cách khác, chế độ Cộng Sản Việt Nam cần phải được giải thể.

Chú thích:

(1) “Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người” nguyên văn chữ Hán là “Thập niên chủng mộc, bách niên chủng nhân”. Có người cho là của Không Tử, có người cho là của Quản Trọng. Theo BS Đỗ Thị Nhuận, Quản Trọng (725-645 trước Công Nguyên) là một chính trị gia, nhà quân sự và nhà tư tưởng Trung Quốc thời Xuân Thu (-685).Trong sách Quản Tử có nói một câu sau này được Hồ Chí Minh dùng lại:

"Nhất niên chi kế mạc như thụ cốc,
Thập niên chi kế mạc như thụ mộc.
Chung thân chi kế mạc như thụ nhân,
Nhất thu nhứt hoạch giả, cốc dã.
Nhất thu thập hoạch giả, mộc dã,
Nhất thu bách hoạch giả, nhân dã".

Tạm dịch:

"Kế một năm, chi bằng trồng lúa,
Kế 10 năm, chi bằng trồng cây.
Kế trọn đời, chi bằng trồng nguời,
Trồng một, gặt một, ấy là lúa.
Trồng một, gặt mười, ấy là cây,
Trồng một, gặt trăm, ấy là người".

(2) Phao thi là những bài học được tóm tắt và in chữ rất nhỏ để thí sinh đem ra copy cho dễ và đỡ lộ liễu.

(3) Trích trong bài “Mong ông Bộ Trưởng Giáo Dục “điềm tĩnh” hơn” của An Tuấn Dũng.

(4) Trước 1975, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh là trường đào tạo cán bộ Hành Chánh ngạch Đốc Sự, thuộc hàng lãnh đạo từ cấp Trưởng Ty trở lên, sau có thêm ban Cao Học Hành Chánh và Cao Học Ngoại Giao . Sau năm 1975, trường này bị đóng cửa. Nay trường này mới được mở cửa lại để đào tạo cán bộ hành chánh cao cấp. Người tốt nghiệp trường này được cấp phát văn bằng Tiến Sĩ. Vì là trường công, số học viên có hạn, nên phải thi tuyển chứ không như một số các đại học khác, chi cần ghi danh đóng học phí đầy đủ là có bằng có thể có bằng.


 * * *

Một Vài Đề Nghị

Về Việc Nuôi Dậy Con 

                             

Nguyễn Bá Liệu

dịch theo Time Magazine ngày 1/11/2010.

 

  • Với tựa đề “Smart Parents, Happy Kids”,”Cha mẹ khôn ngoan, thì con sung sướng”,  bác sĩ Mehmet Oz, Giáo sư đại học y khoa Columbia, và là tác giả cuốn sách “You: Raising Your Child” viết rằng: Trí tuệ cuả con  trẻ cũng giống như thể lực:  Cha mẹ biết hướng dẫn, dậy dỗ con trẻ khôn khéo sẽ tạo được ảnh hưởng lâu dài đến cuộc đời của con cái về sau này.
  • Ông cũng đề nghị một số phương pháp hướng dẫn con cái rất hữu ích, chúng tôi xin luợc dịch dưới đây.

Trong cuốn phim mang tưạ đề Parenthood, nhân vật chính tên là Keanu Reeves đã nói một câu bất hủ như sau: “Bạn cần phải có lai sân (license - giấy phép)  mới được đi câu cá, nhưng muốn làm cha mẹ thì chẳng cần giấy phép gì cả.”. Thế mới biết làm bố thằng cu, hay mẹ con hĩm còn dễ hơn cả đi câu cá. 

Vâng, quả đúng như vậy, làm cha hay mẹ dễ lắm. Trong bài viết này, chúng tôi  xin được phân tích một số khó khăn, bệnh tật, mà con trẻ thường hay gặp phải trên bước đường trưởng thành. Đồng thời, chúng tôi cũng xin đề nghị một số phương pháp trị liệu cho những vấn đề này. Nhưng mặc dù sách báo khoa học viết rất nhiều về những bước phát triển kỳ diệu của trẻ em, nhưng sách viết về cẩm nang hướng dẫn việc nuôi dậy con trẻ lại có vẻ thiếu xót, không đầy đủ. Lại nữa, khi duyệt qua những sách vở y khoa, tâm lý xã hội, và giáo dục, chúng tôi thấy có nhiều sách viết về những khó khăn, bệnh tật của con trẻ hơn là sách nói về sự phát triển của trẻ em bình thường, lành mạnh. Và khi nói về những trẻ em gọi là “ trung bình”, thì rất ít sách nói về phương pháp để sớm khám phá  ra những vấn đề của con trẻ, và làm thế nào để giúp cho trẻ em được sống lành mạnh về lâu về dài

Bà xã tôi, Lisa, và tôi may mắn sanh được bốn cháu. Chúng tôi có con rất sớm, mới trên đôi mươi đã có con nhỏ rồi. Trong quá trình nuôi nấng con cái, chúng tôi rút tiả được nhiều kinh nghiệm qúi báu, phần lớn do từ cha mẹ chúng tôi truyền lại, kế đến  là quan sát các cháu con của mình, và bạn bè của chúng khôn lớn trưởng thành ra sao. Xin các bậc làm cha mẹ chớ bao giờ coi nhẹ việc quan sát các cháu phát triển, cũng như tìm cách nói chuyện với các cháu. Vì lý do nghề nghiệp, tôi quan sát các cháu con của tôi dưới con mắt một y sĩ, để ý xem có đưá nào bị bệnh hay không. Nhưng may quá, nhờ có nhà tôi, với con mắt dịu dàng của một người mẹ, nhà tôi hướng dẫn các cháu khéo hơn tôi. Nhất là trong việc gỡ rối tơ lòng, và tâm tình với các cháu. Tôi chỉ để ý nhắm vào những chỗ nào các cháu bị trầy truạ, hay cần phải chích thuốc mà thôi.

Qua dòng thời gian, chúng tôi rút kinh nghiệm là việc dậy dỗ con trẻ cũng giống việc chúng  ta hướng dẫn trẻ con chèo một con thuyền xuôi theo giòng nước, có những lúc nước chảy xiết, có nhũng lúc nước trôi êm ả, hay gặp khúc quẹo khá gắt. Là cha mẹ, qúi vị có thể kiểm soát hướng đi, và tốc lực của chiếc ca nô đang chở các cháu, nhưng chúng tôi khuyên quí vị  hãy để các cháu nhỏ tự ý chọn hướng đi của chúng. Chúng muốn quẹo đi đâu, cho các cháu đi theo ý muốn của chúng. Nhiệm vụ của cha mẹ là dạy những đưá con, hay hành khách trên chuyến đò, hiểu biết về dòng sông chúng đang đi, để chúng có thể khua mái chèo lấy một mình. Trong đó bao gồm có việc giải thích tường tận tất cả những gì bạn biết, bạn trông thấy và nói với chúng rõ rằng chúng phải hiểu cơ thể, khả năng sẵn có của chúng, cũng như khả năng của con thuyền. Điều này có nghĩa là chúng nắm vững được sức mạnh của cơ thể, những bản chất bẩm sinh trong dòng máu, cũng như những ưu khuyết điểm sẵn có trong gia đình, do di truyền, hay kế thừa. Làm cha mẹ chúng ta cũng nên dạy cho chúng biết về lòng tự hào, sự hãnh diện – self-esteem- về bản thân của chúng, đồng thời một chút dè dặt về những ưu khuyết điểm của chúng –strengths and weaknesses, để chúng ý thức trong khi điều khiển con thuyền đi theo ý muốn của mình.

Những bí quyết kể trên là nền tảng để chúng tôi hoàn thành tác phẩm mới. Chúng tôi cùng hợp soạn với Bác sĩ Mich ael Roizen. Cuốn sách lấy tưa đề là: “You: Raising Your Child” “Bạn chính là người có trách nhiệm trong việc nuôi dậy con của bạn.” . Để tìm ra câu trả lời cho nhiều vấn đề làm bận tâm các bậc cha mẹ, chúng tôi thăm dò ý kiến một số bác sĩ nhi khoa, và họ cũng làm cha mẹ,  những chuyên gia lão thành trong lãnh vực phát triển của trẻ em. Dưới đây là một số bí quyết để trở thành người cha mẹ khôn ngoan:

* Bạn có thể là người cha mẹ tài giỏi nhất thế giới bằng cách đừng  quá lo âu, bênh vực, che chở cho con mình một cách quá đáng.

Con cái thiếu vắng sự hiện diện của cha mẹ là điều không tốt, không lành mạnh. Nhưng quay ngược lại 180 độ, tức là nếu cha mẹ cứ lo ấp ủ, che chở cho con cái quá đáng, cũng là điều không nên cho đưá trẻ. Cha mẹ lo bảo vệ con cái, vô tình làm hại cho sự phát triển của đưá trẻ. Nên giữ vai trò trung dung thì hay hơn. Nghĩa là nên dành cho con cái sự chú ý vừa đủ thôi, và phải nhớ là nên để cho con em được tự do khám phá học hỏi lấy. Điều này rất quan trọng, giúp chúng trở nên độc lập sau này. Hãy cứ để các em lái chiếc thuyền gần đụng vào bờ sông, và biết cách lái thuyền ra trở lại giữa dòng. Thỉnh thoảng nên để chúng thất bại, gặp khó khăn nhẹ, để chúng học bài học rút ra từ sự thất bại đó.

*   Hãy gỉa thử bạn là nhà sản xuất loại phim 3D.  Đầu óc con  trẻ giống như tờ giấy thấm, vì thế bạn có thể vẽ bừa trên bảng đen đủ thứ: các từ ngữ mới lạ, các âm thanh kỳ cục, các hình thể đa dạng, các mùi vị độc đáo. Để đầy trên tấm bảng. Những thứ này sẽ giúp con của bạn chọn lấy phương hướng tương lai của chúng rồi đi tùy ý cho chúng đi vào: 1.) sở thích riêng của mỗi đưá trẻ.  2.) lãnh vực nào đưá trẻ có tiềm năng sẽ thành công.

*   Trẻ em là vua bắt chước, học  đòi những gì chúng trông thấy ở người khác. Do đó, làm cha mẹ, bạn phải là mẫu người tốt để làm gương cho con cái. Trẻ em lớn lên sẽ hành sử đối với bản thân giống hệt như cha mẹ chúng đối sử với thân thể họ. Cha mẹ mập phì, nặng nề, con cái sẽ có ruỉ ro 40% sẽ mập giống  cha mẹ. Nếu cả cha lẫn mẹ cùng mập ù, rủi ro con cái sẽ mập lên đến 80%.Bạn chịu khó chăm sóc cơ thể của bạn, thế nào con cái bạn cũng sẽ bắt chước theo.

*   Chơi đuà với con cái để dạy cho các em bài học về trường đời.  Tôi thích khuyên các bậc phụ huynh nên “chơi đùa với con cái”. Trong gia đình tôi, chúng tôi hay chơi trò Olympic của nhà họ Oz. Trong đó chúng tôi thách đố nhau sức chịu đựng về thể lực cũng như về trí lực. Tôi cũng rất thích giờ phút đọc truyện cho con cái nghe trước khi đi ngủ. Bởi vì vào giờ đó, trẻ con đã mệt nhoài, chúng sẽ khoái nghe đọc truyện để thiu thiu đi vào gíấc ngủ. Trong lúc đọc truyện, tôi lồng vào đó những bài học thực tế trong trường đời. Đọc truyện, và chơi trò chơi với con cái là những dịp để dạy dỗ con em những bài học quí giá. Chớ coi nhẹ giá trị của những loại hành động này. Qua đọc truyện, và trò chơi, con trẻ còn học cách diễn tả bằng ngôn ngữ hoàn hảo hơn.

Đối với các bạn đã có con: Bạn hãy tin rằng bạn là những phụ huynh rất giỏi. Đối với các bạn sắp có con: Bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc vô cùng khi có con, và bạn sẽ là những bậc cha mẹ khôn ngoan, thành công trong việc dạy dỗ, nuôi dưỡng con của bạn.

         

______________________________________________

Bác sĩ Mehmet Oz là Giáo sư phó chủ tịch khoa giải phẫu của trường Y Khoa Columbia . Ông cũng là tác giả nhiều cuốn sách hay. Hiện ông đang thực hiện chương trình hội thoại trên TV, tên là The Dr. Oz Show.


* * *

LÀM THẾ NÀO ÐỂ

TRỞ THÀNH BÁC SĨ Y KHOA?

HươngSaigon

Lời nói đầu: Bài viết nầy dựa vào chương trình của các đại học, và trường y khoa (colleges of medicine) ở Hoa Kỳ (Canada cũng có chương trình tương tự). Tác giả xin dành chương trình ở Úc Châu, Âu Châu hoặc Á Châu cho các bác sĩ hoặc giáo sư y khoa ở những nơi liên hệ.

Bác sĩ y khoa là một trong những nghề cao quý trong xã hội, đặc biệt là đối với xã hội VN.  Thật vậy, khi biết con mình muốn theo đuổi ngành y khoa, cha mẹ người Việt rất vui mừng, hảnh diện, khuyến khích và sẳn sàng hy sinh tiền bạc, thì giờ và công sức để giúp con mình thực hiện ước mơ đó.

Nhưng làm thế nào để trở thành một bác sĩ ?

Ðoạn đường mà sinh viên phải vượt qua để trở thành một bác sĩ y khoa ở Hoa Kỳ không phức tạp, nhưng đầy gian khổ. Nó đòi hỏi người sinh viên hầu như phải "tài đức vẹn toàn", nghĩa là chẳng những người sinh viên phải có một học bạ với điểm cao và điểm thi MCAT (Medical College Admission Test) cũng phải cao. Thêm vào đó, người sinh viên phải có những đức tính cần thiết cho một vị lương y.

I .Chương trình học.

Một sinh viên muốn trở thành bác sĩ phải học hết chương trình đại học (4 năm), thi MCAT, nạp đơn xin nhập học đại học y khoa (phải viết luận văn và phỏng vấn). Nếu được nhận nhập học thì người sinh viên phải trải qua 4 năm học y khoa, thực tập (residency) 3, 4 năm. Nếu hội đủ điều kiện thì sẽ trở thành bác sĩ. Do đó, sau khi tốt nghiệp trung học, người sinh viên phải bỏ ra ít nhất 11 năm học để trở thành bác sĩ.

1/ Bốn năm đại học.

Trên nguyên tắc, đại học y khoa Hoa Kỳ không đòi hỏi sinh viên dự tuyển vào trường y khoa phải học chuyên về một ngành (major) nào .  Một điều kiện chung là thí sinh cần có căn bản về khoa học, (vật lý, hoá học và sinh vật học -- physics, chemistry and biology), toán (calculus), nếu biết thống kê (statistics) thì càng tốt. Ngoài ra, thí sinh cũng cần có khả năng Anh văn (verbal and writing) cao. Thêm vào đó, nếu thí sinh giỏi về các môn khác thì càng tốt.

Mặc dù không bắt buộc, các thí sinh dự tuyển y khoa thường tham gia chương trình chuẩn bị y khoa (pre-medical programs). Chương trình nầy không phải là một ngành chính (major) vi` các sinh viên trong chương trinh nầy có thể chọn lựa ngành chính mà mình thích (thí dụ như sinh vật học, vật lý , hoá học, toán, âm nhạc ...), nhưng phải học các lớp (courses) căn bản để có đủ kiến thức thi MCAT và điều kiện mà các đại học y khoa đòi hỏi.

Theo Ðại Học Harvard, các sinh viên chuẩn bị vào đại học y khoa cần học các lớp sau đây:

• Hóa học tổng quát có thực nghiệm, một năm (general chemistry with lab).

• Sinh vật học có thực nghiệm, một năm (biology with lab).

• Hoá học hữu cơ có thực nghiệm, một năm (organic chemistry with lab).

• Vật lý học tổng quát có thực nghiệm, một năm (general physics with lab).

• Anh văn, một năm (English).

Ngoài ra, hơn 50 trường y khoa đòi hỏi một hoặc hai lục cá nguyệt (semesters) toán (college math, calculus, and/or statistics). Mười bốn đại học y khoa đòi hỏi 1 lục cá nguyệt về sinh hoá học (biochemistry). Mười bảy trường y khoa đòi hỏi sinh viên phải học 1 năm về sinh vật học (biology). Một vài trường y khoa cũng đòi hỏi sinh viên phải học tâm lý học (psychology) và xã hội học (sociology).

Về điểm học trung bình (grade point average, GPA), các trường y khoa Hoa kỳ không minh thị ấn định điểm trung bình tối thiểu phải có để được nhận học.Tuy nhiên, vì sự cạnh tranh (competition) cao giữa các thí sinh, thông thường, muốn được nhận vào một trường y khoa ở Hoa Kỳ, số điểm trung bình trong 4 năm đại học (B. A. or B. S.) ít ra cũng phải là 3.50/4.00. Có trường đăng GPA  tối thiểu phải cao hơn 3.00. Nhưng GPA tối thiểu không bảo đảm để được nhận học. Do đó, các ứng viên vào đại học y khoa thường cố gắng có điểm trung bình càng gần 4.0 càng tốt.

2/ Ðiểm MCAT (Medical College Admission Test).

Vào năm thứ ba của chương trình đại học (junior year), sinh viên muốn nạp đơn xin vào trường y khoa sau khi tốt nghiệp B. A./B. S., phải thi MCAT.  Bài thi nầy gồm có 4 phần (sections).

(a) Anh Văn (đọc/hiểu, lý luận) [Verbal reasoning reading comprehension].

(b)  Toán Lý-Hoá [chemistry & physics – physical sciences].
           (c)  Hoá học hữu cơ và sinh vật học [Organic Chemistry & Biology – Biological Sciences].

(d)Viết văn -- 2 đề luận văn [ Writing Sample –  two essay questions].

Một bài thi khá là một bài thi có 10 điểm trở lên cho mỗi section (a), (b) và (c). [Ðiểm tối đa cho mỗi section là 15. Tuy nhiên, thí sinh nào đạt được 15 điểm cho mỗi section phải là thần đồng, hoặc là người có thể đi trên nước ( walk on water)].

II. Sinh Hoạt Ngoài Học Ðường (Extra-curricular activities).

Một thí sinh y khoa cần có một thành tích đáng kể về các sinh hoạt ngoại học đường. Những sinh hoạt nầy gồm các công tác thiện nguyện như tình nguyện làm việc tại các bịnh viện hoặc các cơ sở y tế khác, các công tác tình nguyện cho cộng đồng. Ngoài ra, các thi sinh cần có những sinh hoạt cá nhân bền bỉ như thể thao, âm nhạc, v.v…  Ðây là một yếu tố quan trọng mà người sinh viên muốn theo nghề bác sĩ y khoa cần lưu ý để chuẩn bị.

Ngoài ra, ứng viên y khoa cần chứng tỏ khả năng lảnh đạo (leadership), chẳng hạn như chủ tịch hoặc phó chủ tịch của ban đại diện sinh viên, chủ tịch của hội tiền y khoa (pre-medical society), v.v... Những thành tích về lảnh đạo có thể giúp ứng viên được chọn cho nhập học ở đại học y khoa.

III. Nạp đơn vào đại học y khoa.

Sau khi thi MCAT, người sinh viên nạp đơn xin vào đại học y khoa qua trung tâm AMCAS (the American Medical College Application Service). Ðây là một cơ quan có nhiệm vụ cứu xét, tiến hành, và chuyển đơn, điểm MCAT, học bạ của sinh viên cho các trường y khoa mà sinh viên đó muốn xin vào học. Trong đơn, người sinh viên phải chọn trường y khoa mà họ muốn xin nhập học (trung bình các sinh viên chọn khoảng 6 trường, hy vọng 1 trong 6 trường sẽ nhận cho nhập học). Ðơn xin nhập học phải gởi đi một năm trước khi nhập học trường y khoa (nghĩa là đơn phải gởi trể lắm là vào năm thứ ba của đại học (junior year). Khi gởi đơn xin nhập học, người sinh viên phải đính kèm học bạ, điểm MCAT, thư giới thiệu và một luận văn.

a. Thư giới thiệu: Người viết thư giới thiệu (letters of recommandation) phải là giáo sư, bác sĩ mà sinh viên từng làm việc dưới quyền, hoặc vị giám thị (supervisor) của người sinh viên trong lúc đương sự làm việc có lương hoặc tình nguyện tại một sở nào đó (thường liên quan đến vấn đề y tế như nhà thương hoặc các tổ chức liên quan đến sức khoẻ (health-related organizations).

b. Luận Văn (Essay). Trong bài luận văn nầy, người sinh viên cần giải thích tại sao mình muốn làm bác sĩ và xứng đáng là một bác sĩ. Thường sinh viên nên viết một câu chuyện đời tư của mình (personal story) một cách thành thật, nói lên động lực của ước vọng làm bác sĩ của mình.

c. Đơn xin nhập học II (second application): Khoảng 5 tuần sau khi nạp đơn qua AMCAS, nếu hội đủ điều kiện điểm trung bình (GPA) và điểm MCAT, cũng như luận văn khá, người sinh viên sẽ nhận được mẫu đơn thứ II từ một (hoặc nhiều) trường đại học y khoa mà người sinh viên muốn xin nhập học. Trong đơn này, người sinh viên phải viết thêm một bài luận thứ II, và phải trả lời thêm một số câu hỏi mà nhà trường đã đặt ra. Trung bình người sinh viên phải nạp đơn thứ II trong vòng 3 tuần. Nếu trể hạn, đơn sẽ bị khước từ .

d. Phỏng Vấn (interview) Trong cuộc phỏng vấn nầy, trường y khoa chú tâm vào bằng chứng về các hoạt động ngoài chương trình học vấn của người sinh viên (evidence of extracurricular activities), khả năng ăn nói (communication skills), sự thấu hiểu và quan tâm đối với người khác (empathy and concern for others), ý thức xã hội và chính mình (social-awareness and self-awareness), phán đoán và khả năng giải quyết vấn đề.

Cuộc phỏng vấn nầy rất quan trọng, nhà trường sẽ nhận hoặc từ chối sự nhập học của người sinh viên căn cứ trên cuộc phỏng vấn nầy.

IV. Chương Trình Ðại Học Y Khoa.

Khi được nhận vào đại học y khoa, người sinh viên phải trải qua 4 năm học. Sau đây là một thí dụ của bốn năm y khoa lấy từ chương trình của School of Medicine, Virginia Commonwealth University thuộc tiểu bang Virginia. (Chưong trình của các đại học y khoa khác cũng tương tợ, như không hoàn toàn giống vì mỗi trường có chương trình riêng của họ).

1. Năm thứ nhất. (từ giữa tháng tám đến tháng sáu).  Trong năm học đầu, các sinh viên sẽ học về cơ cấu, hoạt động, sự phát triển và tăng trưởng của con người. Các môn học gồm có:

Foundations of Clinical Medicine.

Medical Bioethics.

Population Medicine.

Medical Biochemistry.

Human Genetics.

Gross & Developmental Anatomy.

Physiology.

Histology.

Behavioral Sciences.

Immunology.

Neurosciences.

           2. Năm thứ hai: Trong năm học nầy (từ tháng tám đền cuối tháng năm), sinh viên sẽ học về bệnh lý học trong cách chửa trị các căn bệnh. Các sinh viên đều phải ghi danh học các lớp sau đây:

Foundations of Clinical Medicine.

Medical Bioethics.

Pharmacology.

Pathogenesis.

Microbiology.

Hematology/Oncology.

Endocrine.

Renal.

Respiratory.

Cardiovascular.

Behavioral Sciences II.

Central Nervous System.

Women’s Health.

Gastrointestinal.

Musculoskeletal.

           3. Năm thứ ba: Trong năm học nầy, các sinh viên sẽ được huấn luyện trong các bệnh viện, phải tham gia tập sự (clerkships) các ngành sau đây:

Internal Medicine (12 weeks).

Surgery (8 weeks).

Pediatrics (8 weeks).

OB/GYN (6 weeks).

Psychiatry (6 weeks).

Neurology (4 weeks).

Family Medicine (4 weeks).

4. Năm thứ tư: Ðây là năm tự do lựa chọn (elective year). Trường có 232 lớp để sinh viên chọn lựa (electives). Mỗi lớp kéo dài 4 tuần.

Nhằm đáp ứng nhu cầu của từng cá nhân sinh viên, nhà trường dành cho sinh viên quyền lựa chọn các môn theo sở thích.

Mục đích của chương trình nầy là cho phép sinh viên theo đuổi mục tiêu của mình mà không phải theo một chương trình định sẳn, đồng thời giúp sinh viên chưa có quyết định chọn ngành mình theo đuổi có cơ hội tìm kiếm ngành chuyên môn.

Năm học nầy được chia ra làm 9 kỳ (periods), mổi kỳ kéo dài 4 tuần. Các sinh viên phải luân phiên tại Medical College of Virginia of Fairfax Inova Campus để thực tập, cập nhật hoá các khoa học căn bản và y khoa bệnh viện (Update of Basic Science and Clinical Medicine) và hoàn tất lớp Step 2 Board Reviews.

Ngoài ra, các sinh viên y khoa phải thi kỳ thi giấy phép Hoa Kỳ  cấp 1 ("U. S. Licensing Examination (USMLE) step 1) vào cuối năm thứ 2, trước khi vào học năm thứ 3. Nếu đậu kỳ thi USMLE 1, người sinh viên sẽ được lên học năm thứ tư. Nếu rớt kỳ thi nầy, người sinh viên phải tạm ngưng môn lựa chọn để học thi lại.

Sau khi đậu USMLE1 và học xong năm thứ ba, các sinh viên phải thi USMLE step 2. Các sinh viên phải đậu USMLE 2 mới được ra trường với bằng MD. Các sinh viên không đậu USMLE 2 trong vòng một năm sẽ không được cấp bằng MD và bị trục xuất khỏi trường.

BÁC SĨ TẬP SỰ (Medical Residents).

Sau khi tốt nghiệp với văn bằng MD (Doctor of Medicine), trước khi được phép hành nghề, các sinh viên vừa tốt nghiệp cần phải trải qua một thời kỳ huấn luyện ít nhất 3 năm tại một bệnh viện. Vị bác sĩ tập sự nầy được gọi là "resident", có trách nhiệm đối với bệnh nhân của mình dưới sự giám thị của một bác sĩ thực thụ (senior resident) . Thời gian tập sự (residency) thường kéo dài 3 năm (có lương căn bản khoảng $40,000 đến $50,000/năm). Có một số ngành chuyên môn đòi hỏi phải tập sự đến 8 năm mới có thể được cấp giấy phép hành nghề (to be licensed to practice). Trong thời gian thực tập, người bác sĩ nầy phải thi đậu USMLE Step 3 để được phép hành nghề ở tiểu bang (to be state-certified for practice of medicine)

V. Lời Cuối Cho Sinh Viên và Phụ Huynh.

Cùng các bạn trẻ,

Tuổi trẻ, có rất nhiều người ước mơ trở thành bác sĩ để cứu người. Tuy nhiên, muốn trở thành một bác sĩ người sinh viên phải trải qua một giai đoạn huấn luyện cực nhọc và khó khăn để bảo đảm trong tương lai có thể đãm nhận  trách nhiệm quan trọng của một y sĩ.

Nhiều bạn cố gắng trở thành một bác sĩ vì đây là một nghề cao quý để “cứu nhân độ thế” cũng như được quý trọng trong xã hội (nhất là xã hội VN). Trong chiều hướng đó, thiết tưởng cũng nên nhắc rằng, không phải chỉ làm bác sĩ mới có thể thực hiện được ước mơ trên. Cho nên, bạn cần phải tự hỏi có thật sự mình muốn trở thành một bác sĩ hay không? Là một bác sĩ, bạn phải làm việc rất nhiều giờ và cực khổ, bạn phải đối phó với nhiều bệnh nhân khó tánh, và cuộc sống của bạn sẽ gắn liền với cái sinh tử của người khác. Bạn phải có khả năng bình tỉnh để quyết định trong tình trạng khẩn cấp. Do đó, bạn cần suy nghĩ cận thận trước khi bước vào con đường học vấn dài hạn (ít nhất là 11 năm hậu trung học).

Ðể biết mình phù hợp với nghề bác sĩ y khoa hay không, bạn cần làm những công tác thiện nguyện tại các bệnh viện, các phòng cứu cấp để kinh nghiện những cảnh máu và nước mắt, những quyết định của bác sĩ trong tình trạng nguy ngập, cũng như những cuộc mổ xẻ quan trọng, mệt mỏi và căng thẳng. Chính vì thế, các trường y khoa rất quan tâm đến quá trình công tác thiện nguyện của bạn.

Sau khi trải qua các kinh nghiệm qua các công tác thiện nguyện, nếu bạn vẫn còn theo đuổi ước mơ trở thành bác sĩ, bạn phải cố gắng hết sức mình dù bạn là người rất thông minh, bởi vì có rất nhiều sinh viên khác cũng thông minh như bạn. Hằng năm, hằng chục ngàn sinh viên phải tranh nhau để được nhận vào các đại học y khoa và số sinh viên được nhận nhập học thì có giới hạn.

Như đã đề cập từ đầu, con đường đi để trở thành một bác sĩ y khoa khá dài và đầy gian khổ. Bạn nên biết rằng mức cạnh tranh để được nhận học rất cao (extremely competitive). Thí dụ, Harvard Medical School chỉ nhận 6.9% sinh viên nạp đơn xin học khoá 2014. Nghĩa là, 100 sinh viên nạp đơn xin học, chỉ có khoảng 7 sinh viên được nhận vào khoá 2014. Tỷ số nhận học trung bình hằng năm (average annual acceptance rate) của College of Medicine, University of North Carolina at Chapel Hill là 3%. Các sinh viên được lựa chọn không những phải học giỏi, thông minh mà còn phải được phát triển trên nhiều phương diện (well-rounded). Học giỏi chỉ là một trong những yếu tố cần thiết, nhưng không phải là yếu tố đủ để được chọn vào học ngành y khoa.

Cùng các vị phụ huynh,

Nhiều người trong quý vị ước mơ con mình được trở thành bác sĩ . Tuy nhiên, không phải bất cứ một sinh viên giỏi nào cũng có thể trở thành bác sĩ . Kinh nghiệm cho thấy có một số sinh viên xuất sắc, nhưng không bao giờ được nhận vào các trường y khoa vì lý do "đương sự không thích hợp" với thiên chức y sĩ (biểu lộ qua các cuộc phỏng vấn hoặc luận văn).

Có nhiều cha mẹ nghĩ rằng nếu làm bác sĩ con mình sẽ có nghề nghiệp vững chắc và làm ra tiền để bảo đảm tương lai, cũng như có danh dự trong xã hội. Quan niệm nầy không chính xác vì có nhiều ngành nghề khác cũng giúp cho ta đạt được mục tiêu vừa kể. Nhiều người rất thành đạt với luật khoa (Law) hoặc quản trị kinh doanh (MBA, Master of Business Administration) hay tài chánh (Finance).

Bác sĩ y khoa chỉ thích hợp cho những ai luôn hy sinh bản thân cho người khác. Một bác sĩ ham danh háo lợi là một tệ trạng của xã hội. Và vì thế giới bất toàn, ta vẫn thấy có những thành phần xấu trong giới y khoa. Chính vì thế mà trường y khoa luôn dè dặt trong việc thâu nhận sinh viên.

Tóm lại, các vị phụ huynh chớ nên thất vọng khi con em mình không được nhận học hoặc không tiếp tục theo nghành y khoa. Ðặc biệt là các phụ huynh không nên ép buộc con em. Ép buộc sẽ không có kết quả mà đôi khi gây ra những khó khăn không cần thiết trong gia đình (1).

Hương Saigon.

(06 September, 2010

Chú thích của toà soạn

(1)  Trong cộng đồng Việt Nam đã xẩy ra vụ một người con rất ngoan và học rất giỏi đã bị kết án 6 năm tù vì tội giết mẹ. Người sinh viên này đã nổi giận bóp cổ mẹ chỉ vì bị bà mẹ ép buộc phải học ngành y khoa để trở thành bác sĩ. Đây là một bài học cho các phụ huynh Việt Nam muốn con trở thành bác sĩ.

* * *

GIỚI THIỆU CÁC ĐẠI HỌC

Ở CALIFORNIA.

LN & HS sưu tầm

Ở Hoa Kỳ, mỗi tiểu bang đều có quy định khác nhau, một người không thể biết hết về các trường đại học trên toàn thể nước Mỹ. Dưới đây chỉ là phần giới thiệu sơ lược về các loại trường đại học ở California:

Có 4 loại trường Đại Học:

1. Trương Đại Học Cộng Đồng (Community Colleges).

2. Trường Đại Học thuộc hệ thống Tiểu Bang (California State University (CSU) và trường Đại Học của Tiểu Bang Cali (University of California (UC).

3. Trường Đại Học tư .

I: Các Đại Học Cộng Đồng (Community Colleges).

De Anza College, Cupertino, California

Đây là loại trường Đại Học công lập. Tại Cali có vào khoảng 100 trường Đại Học Cộng Đồng nằm rải rác trên khắp tiểu bang. Có người dịch chữ Community College là trường Cao Đẳng vì cho rằng thời gian học ở trường này chỉ có 2 năm và không có cấp bằng Cử Nhân. Điền này không đúng. Nhiều trường Community College, thời gian học cũng kéo dài 4 năm và cũng có cấp bằng Cử Nhân, nhưng không có cấp bằng Cao Học và Tiến Sĩ.

Học phí vào khoảng từ $3000-$3500 mỗi năm.

Sinh viên muốn vào trường Community Colleges phải tốt nghiệp Trung Học (High School).

Các sinh viên lực chọn vào học tại Community Colleges thường vì những lý do sau:

-  Vì điểm tốt nghiệp High School không đủ cao để vào các trương University.

-  Vì muốn học gần nhà hoặc vì muốn cho đỡ tốn tiền vì học phí ở Community Colleges nhẹ hơn ở University.

-  Vì muốn học lấy chứng chỉ đào tạo nghề để đi làm sớm (Certificate).

- Vì muốn học lấy bằng Đại Học 2 năm (Associate Degrees).

-  Vì muốn đạt điểm cao để chuyển lên học tiếp 2 năm tại các Đại Học danh tiếng.

-  Vì muốn lấy một vài lớp cho đủ tín chỉ theo đòi hỏi của các trường khác hay những nghề nghiệp như học lớp kế toán, hay lớp Anh ngữ.

Các chương trình đào tạo nghề, thời gian học từ 6 tháng đến hai năm. Có hàng trăm ngành nghề được đào tạo ở các trường Community Colleges như y tế, cơ khí, điện, điện tử, kế toán, phụ tá pháp lý (Paralegal) v.v...

Sinh viên muốn nhập học với mục đích chuyển lên University (Đại Học) nên gặp các Cố Vấn (Counsellor) để được hướng dẫn phải học những lớp nào cho phù hợp với chương trình mình muốn theo học.

Học hai năm đầu tại Community College trước khi lên University có mấy điểm lợi sau:

-  Tiết kiệm tiền bạc: Học hai năm tại Community College đó chuyển tiếp lên học nốt hai năm ở University giúp sinh viên tiết kiệm được tiền học phí cho hai năm đầu của bằng Cử Nhân. Không chỉ tiết kiệm học phí, sinh viên còn có thể tiết kiệm được chi phí ăn ở đi lại vì trường Community College thông thường gần nhà.

-  Ưu tiên khi chuyển lên University: Các sinh viên thuộc các trường Community Colleges California được ưu tiên cao nhất trong các ứng viên nộp đơn xin nhập học vào các trường University của tiểu bang Cali. Nhiều trường Community Colleges còn có thỏa thuận riêng với các trường University của tiểu Bang để sinh viên chuyển trường được dễ dàng.

Có 7 trong số 9 trường thuộc hệ thống University of California (UC) có chương trình bảo đảm nhận   sinh viên các trường Community Colleges of California nếu sinh viên thỏa mãn một số điều kiện về các khóa học tham dự ở Community College, gọi là chương trình "Transfer Admission Guarantee" (TAG Program). Mỗi trường University of California (UC) có hợp đồng với một số trường Community Colleges khác nhau tham gia vào chương trình này. UC Berkeley là trường Đại Học có thỏa thuận với nhiều trường Community Colleges nhất. Muốn tham khảo thêm thông tin chi tiết về TAG Program và các trường Community Colleges xin vào website: http://www.universityofcalifornia.edu/admissions/A4T.pdf

Bằng Cử Nhân cho sinh viên chuyển từ Community Colleges lên University không có gì khác biệt với các sinh viên học suốt 4 năm ở University. Nhiều trường University còn thích nhận các sinh viên chuyển từ Community Colleges lên vì họ chỉ cần đào tạo them có 2 năm là đã có them một sôốsinh viên tốt nghiệp Cử Nhân.

Sau đây là các website bạn có thể dùng để tham khảo:

-    Danh sách các trường cao đẳng California:

http://www.community-college.org/california_community_college.html

-    So sánh các trường cao đẳng:

http://www.californiacolleges.edu/Select/CompareView/default.asp

-    Vị trí các trường cao đẳng trên bản đồ:

http://www.cccco.edu/Portals/4/Find/cccco_map_web.pdf.

II. Các Đaị Học có cấp bằng Cử Nhân và Tiến Sĩ.

1/   Trường Đại Học Tiểu Bang Cali: California State University (CSU).

Tại California có 23 trường Đại Học công lập với khoảng tổng cộng 400 ngàn sinh viên và 44 ngàn giảng viên và nhân viên khác. Đây là hệ thống đại học lớn nhất và đa dạng ngành nghề nhất của Mỹ, cung cấp khoảng1.800 chương trình học có cấp bằng. Có 60% giáo viên và 40% kỹ sư ở California tốt nghiệp từ các trường CSU. Khoảng 1/2 các bằng đại học và 1/3 số bằng cao học được cấp hàng năm ở California là của CSU. Cựu sinh viên của CSU ngày nay đã lên đến 2 triệu người.

Học phí vào khoảng từ $7000-$7500 mỗi năm.

CSU có quy chế tuyển sinh cao hơn các trường CSU khác là CSU Poly San Luis Obispo, nó được nằm trong "top 30" của các trường công lập miền tây nước Mỹ. Ngoài ra, ngành kiến trúc của trường này được xếp vào "top 3" của cả nước Mỹ. CSU Long Beach được US News xếp hạng "top 5" trong các trường công lập miền tây nước Mỹ. CSU Poly Pomona là một trong những trường kỹ thuật mạnh nhất nước Mỹ. Một số các trường CSU khác cũng nằm trong "top 30" của các trường công lập miền tây như: CSU Chico, CSU Fullerton, CSU Sacramento, và CSU Los Angeles.

2/   Trường Đại Học Cali: University of California (UC).

Hệ thống đại học công lập UC bao gồm 9 trường, nằm rải rác khắp tiểu bang: Berkeley, Davis, Irvine, Los Angeles, Merced, Riverside, San Diego, Santa Barbara, và Santa Cruz. Các trường có tổng cộng khoảng 200 ngàn sinh viên, 120 ngàn giảng viên và nhân viên khác, và hơn 1, 3 triệu cựu sinh viên. Khác với CSU, hoạt động của UC nhấn mạnh về nghiên cứu và y khoa. UC có thẩm quyền cấp bằng Ph.D. và các bằng tiến sĩ chuyên ngành như luật, y và nha.

Học phí vào khoảng từ $13500-$15000 mỗi năm.

UC Berkeley là trường lớn nhất và lâu đời nhất của hệ thống UC, thành lập từ năm 1868. Và trường trẻ nhất là UC Merced, thành lập từ mùa thu năm 2005. Cả 9 trường đều nhận sinh viên cử nhân lẫn cao học, trừ 2 ngoại lệ: UC San Francisco chỉ đào tạo chuyên ngành y khoa và khoa học y dược, còn trường UC Hastings, cũng ở San Francisco, chỉ đào tạo cao học luật.

UC có nhiều giáo sư được kính trọng trong mọi lãnh vực. Có 6 trường được nằm trong "top 50" của bảng xếp hạng các trường đại học Mỹ của US News. Trong đó, UC Berkely xếp hạng thứ 21, và UC Los Angeles xếp hạng thứ 25. UC Berkeley là trường duy nhất được xếp hạng "top 5" cho tất cả các chương trình Ph.D. Ngoài các chương trình nghiên cứu tiến sĩ nổi bật, UC Berkeley cũng được xếp hạng là trường đào tạo cử nhân hạng nhất trong các trường công lập Mỹ.

UC có trường y ở Davis, Irvine, Los Angeles, San Diego, và San Francisco. UC Los Angeles và UC San Diego vẫn luôn nằm trong "top 15", và UC San Francisco nằm trong "top 5" các trường y ở Mỹ.

Chính sách tuyển dụng của UC nhằm vào sinh viên thuộc "top 12.5%" ở các trường trung học. Tuy nhiên, UC ưu tiên nhiều hơn cho các thường trú nhân của California. Thí dụ, điểm GPA tối thiểu để được nhận vào UC Berkely là 3.00 đối với thường trú nhân, nhưng là 3.40 đối với các sinh viên khác (trong đó có du học sinh).

III. Các trường Đại Học tư thục.

California có 75 trường đại học tư thục, phi lợi nhuận, với tổng cộng khoảng 28 ngàn giảng viên cung cấp một hệ thống chương trình và bằng cấp đủ phong phú để thỏa mãn mọi nhu cầu. Các trường nổi tiếng thế giới như Stanford University, California Institute of Technology, University of Southern California, và trường Pomona College (về khoa học xã hội).

Ngoài các trường trên, các trường Pepperdine University, University of San Diego, Santa Clara University, Chapman University, và Loyola Marymount University cũng được đánh giá cao trong cả nước.

Học phí vào khoảng từ $24500-$25000 mỗi năm.

1/   Stanford University

Stanford University là đại học có khuôn viên liền lạc rộng lớn nhất thế giới, 32 km2, với khoảng 6.700 sinh viên đại học, 8.000 sinh viên sau đại học, và khoảng 1.700 giảng viên. 40% giảng viên thuộc về trường Y, và 1/3 giảng viên thuộc về trường Nhân Văn và Khoa Học. Trường Y của Stanford nhấn mạnh về nghiên cứu, và nằm trong "top 10" trong các trường nghiên cứu y khoa của Mỹ.

Chương trình cử nhân của Stanford được xếp hạng 4 theo US News, và được xếp hạng nhì trong các trường đại học tầm mức quốc tế theo Newsweek. Tiền hiến tặng cho Stanford năm 2006 lên đến 911 triệu USD, cao nhất trong tất cả các đại học Mỹ.

Một trường nổi tiếng, giàu có, với số chỗ rất hạn chế, Stanford nằm trong số những đại học khó chen chân vào nhất nước Mỹ. Tỉ lệ được nhận vào học cử nhân ở Stanford là khoảng 10,8%, tỉ lệ ứng viên được nhận vào trường luật là 7,7%, trường y là 3,3%, và trường kinh doanh là 10%, nằm trong số những tỉ lệ thấp nhất nước Mỹ.

2/   California Institute of Technology (Caltech).

Caltech là một trường nhỏ chuyên về nghiên cứu khoa học kỹ thuật. Caltech vận hành cho NASA phòng lab Jet Propulsion, một hệ thống phức hợp dùng để theo dõi và quản lý hầu hết các thiết bị thăm dò không gian của NASA. Nổi tiếng thế giới, nhưng có phạm vi nhỏ 2.100 sinh viên, Caltech rất chọn lọc trong việc tuyển sinh. Caltech được xếp hạng thứ 5 trong các trường đại học ở Mỹ theo US News, ngay sau Stanford. Caltech có 6 khoa: Sinh vật học, Hoá học và kỹ thuật hóa, Kỹ thuật và khoa học áp dụng, Khoa học địa chất, Khoa học xã hội và nhân văn, và Vật lý, toán, và thiên văn.

3/   University of Southern California (USC).

University of Southern California là đại học tư thục nghiên cứu lâu đời nhất ở California được thành lập từ năm 1880. USC tọa lạc ngay trung tâm thành phố Los Angeles, vốn được mệnh danh là thành phố quốc tế. USC có đội ngũ sinh viên đa dạng nhất nhất nước Mỹ, đến từ khắp 50 tiểu bang và 115 quốc gia khác. USC có các chương trình học rất đa dạng: trường Quan hệ quốc tế, trường Điện ảnh, trường Âm nhạc, trường Kế toán (hạng 5 theo US News), trường Kinh doanh (hạng 9), trường luật (hạng 16), trường Dược (hạng 18), và trường Kỹ thuật (hạng 31).

4/   Pomona College

Pomona College được xếp hạng 7 trong các trường khoa học xã hội theo US News và là lựa chọn rất đáng quan tâm cho những sinh viên muốn theo đuổi các ngành khoa học xã hội.

Trên đây là sơ lược về hệ thống đại học ở California. Học phí không được đề cập vì mỗi trường có mức học phí khác nhau và có thể thay đổi theo từng năm. Nếu có bạn nào có nhiều kinh nghiệm về vấn đề này xin đóng góp ý kiến. Nhưng tôi có thể đưa ra một ước chừng cho một mùa học khoảng 4 tháng (12 semester units) cho một du học sinh bao gồm tiền học, bảo hiểm y tế, và sách vở. Với tốc độ 12 semester units một mùa học, sinh viên phải mất khoảng 10 mùa (5 năm) để hoàn tất chương trình cử nhân.

IV. Top 100 Colleges and Universities.

Xếp hạng các trường đại học tùy theo các yếu tố được dùng làm tiêu chuẩn để xếp hạng. Do đó, các cuộc xếp hạng thường là có tính cách chủ quan, và vì thế xếp hạng  chính xác các đại học hầu như không thể làm được.

Có những đại học đứng nhất về một ngành nào đó, nhưng có thể là tầm thường ở những ngành khác. Do đó các sinh viên nên lưa chọn trường tùy theo ngành mà mình muốn theo hơn là chỉ nhằm vào xếp hạng tổng quát. 

Sau đây là một bảng xếp hạng khác, xin post lên để đọc giả so sánh.

Rank Name of University Country

1   Harvard University USA

2   University of Oxford UK

3   University of Cambridge UK

4   Stanford University USA

5   Massachusetts Institute of Technology USA

6   University of California, Berkeley USA

7   California Institute of Technology USA

8   Princeton University USA

9   Yale University USA

10  University of Chicago USA

11 Columbia University USA

12 University of California, San Diego USA

13 Cornell University USA

14 University of California, Los Angeles USA

15 University Pennsylvania USA

16 University of Wisconsin, Madison USA

17 University of Washington, Seattle USA

18 Tokyo University Japan

19 University of California, S. Francisco USA

20  University of Michigan, Ann Arbor USA

21 Kyoto University Japan

22  Imperial College London UK

23 Johns Hopkins University USA

24 University of Toronto Canada

25 University College London UK

26  University of Illinois, Urbana-Champaign USA

27  Swiss Federal Ins. of Technology, Zurich Switzerland

28 Washington Uni. St. Louis USA

29 New York University USA

30 Duke University USA

31 University of Minnesota, Twin Cities USA

32 Northwestern University USA

33 Rockefeller University USA

34 University of Colorado, Boulder USA

35 University of California, Santa Barbara USA

36 University of British Columbia Canada

37 University of Maryland, College Park USA

38 Utrecht University Netherlands

39 University of Texas, Austin USA

40  Uni. of Texas Southwestern Medical Center USA

41  Pennsylvania State University, Uni. Park USA

42  University of California, Davis USA

43 Vanderbilt University USA

44 University of California, Irvine USA

45 University of Paris 06 France

46 University of Pittsburgh, Pittsburgh USA

47 University of Southern Ca. USA

48  Rutgers State University, New Brunswick USA

49 University of Manchester UK

50 Karolinska Institute, Stockholm Sweden

51 University of Munich Germany

52 Technical University of Munich Germany

53 University of Florida USA

54 University of Edinburgh UK

55 Australian National University Australia

56 Carnegie Mellon University USA

57 University of Copenhagen Denmark

58 University of Zurich Switzerland

59 Hebrew University, Jerusalem Israel

60 Osaka University Japan

61 McGill University Canada

62 University of Bristol UK

63  University of North Carolina, Chapel Hill USA

64 Uppsala University Sweden

65 Ohio State University, Columbus USA

66 University of Paris 11 France

67 University of Sheffield UK

68 University of Heidelberg Germany

69 University of Oslo Norway

70 Case Western Reserve University USA

71 Moscow State University Russia

72 University of Leiden Netherlands

73 Purdue University, West Lafayette USA

74 University of Helsinki Finland

75 University of Rochester USA

76 University of Melbourne Australia

77 Tohoku University Japan

78 University of Nottingham UK

79 University of Arizona USA

80 Michigan State University USA

81 King's College London UK

82 Boston University USA

83 University of Basel Switzerland

84 Stockholm University Sweden

85 Brown University USA

86 University of Goettingen Germany

87 Rice University USA

88 Texas A&M University, College Station USA

89 Tokyo Institute of Technology Japan

90 University of Birmingham UK

91 University of Utah USA

92 University of Freiburg Germany

93 McMaster University Canada

94 Nagoya University Japan

95 University of Iowa USA

96 University of Strasbourg 1 France

97 Ecole Normale Super Paris France

98 Indiana University, Bloomington USA

99 Arizona State University, Tempe USA

100 University of Rome La Sapienza Italy


* * *

BÁC SĨ,

MÀ KHÔNG LÀ GÌ KHÁC!

Huy Phương

Chỉ vì người mẹ muốn ép con trở thành một bác sĩ, một tấn thảm kịch đã xẩy ra trong một gia đình người Việt ở Cali, khi đứa con trong một giây phút quẫn bức đã bóp cổ người mẹ yêu thương của mình. Người mẹ với ý muốn cho con mình sau này là một bác sĩ đã không còn nữa, và đứa con có thể trở thành một người tù chung thân với nỗi ân hận dày vò khôn nguôi.

Biết bao nhiêu bậc cha mẹ Việt Nam đã muốn cho con mình trở thành bác sĩ, và chỉ là bác sĩ mà không là gì khác. Từ ước muốn, hướng dẫn, chỉ đường, đến răn đe, gây áp lực, giận dỗi và trách móc, phải nói là đa số cha mẹ người Việt chúng ta mang bệnh sùng bái địa vị này và mong muốn cho con cái trở thành một bác sĩ. Chuyện này không chỉ mới xẩy ra lần đầu trong xã hội Việt Nam cũ kỹ thói đời và bám víu hư danh. Trước đây, đã có những đứa con tự tử vì không chịu nỗi sức ép từ cha mẹ bắt con phải học hành và chọn nghề nghiệp theo ý muốn của mình.

Một người cha trong cộng đồng người Việt ở Mỹ có con vừa tốt nghiệp bác sĩ y khoa, và sợ không ai biết đến vinh dự này, để khoe danh, ông chỉ còn cách đăng một cột báo chúc mừng chính con ông. Cũng cách đây hai năm, trên đài SBTN, trong mục Tử Vi hàng tuần, một khán giả đã gọi vào. Câu hỏi của vị này là con trai ông sinh vào giờ này, ngày này, năm này, về sau khi lớn lên có học bác sĩ được không? Xin nói thêm là lúc đó cậu con trai mới ba tuổi rưỡi.

Bác sĩ là gì mà người ta ham muốn đến mức cuồng nhiệt như thế.

Nghề thầy thuốc mà ta thường gọi là thày lang dưới thời phong kiến xa xưa là nghề cứu nhân độ thế và dân chúng cũng chỉ gọi là Thầy, nghề Thầy Lang là ghề gia truyền, hay dược truyền dạy giới hạn, cũng cao quý như Thầy Dạy Học, và bệnh nhân đền đáp ơn Thầy bằng tình nghiã, lấy lễ vật mà tạ ơn Thầy. Đến thời Pháp thuộc, đem văn minh đến cho dân bản xứ, người Pháp mở bệnh viện Tây Y, đào tạo bác sĩ y khoa, con số bác sĩ lúc bấy giờ rất hiếm hoi, một số được du học từ Pháp, một số được đào tạo tại chỗ như trường Y sĩ Đông Dương, Hà Nội. Vì trường dạy bằng tiếng Pháp, việc học tốn kém nên chỉ có con nhà giàu hay con cái quan chức thuộc địa mới có thể trở thành bác sĩ. Thời đó, một bệnh viện tỉnh may ra mới có một bác sĩ, được trọng nể, quyền hạn tối đa và người dân thường gọi là Quan Đốc. Tâm lý của bệnh nhân, nhất là trong giới bình dân, ít học, gặp trường hợp thân nhân đau ốm nặng, nguy hiểm, “thập tử nhất sinh” sinh ra tâm lý cầu khẩn, kêu nài, van xin cứu mạng mà không nghĩ đó là bổn phận của người thầy thuốc ăn lương nhà nước. Tâm lý của bệnh nhân và sự ưu đãi của chính quyền dần dần đưa đến chỗ người bác sĩ coi bản thân mình là quan trọng, quyền uy, dù cả chục năm sau, ngay thời chúng ta đã thoát nô lệ, thành lập nền dân chủ. Người ta kể chuyện trong một đơn vị quân đội, một bác sĩ trưng tập mang cấp bậc trung uý, khi một người lính đến xin chữa bệnh, đã vô tình gọi ông là “Trung Úy” mà không gọi là “Bác Sĩ”, đã phán rằng: “Anh về kêu ông Trung Uý Đại Đội Trưởng của anh chữa bệnh cho anh đi!”

Xã hội Việt Nam dưới hai thời Cộng Hoà cho đến khi di cư ra nước ngoài cho đến bây giờ vẫn còn quá nhiều gia đình trọng vọng, cho bác sĩ là giới thượng lưu trí thức (kể cả việc kiếm nhiều tiền), nên theo lề thói này, cha mẹ hãnh diện có con ra trường bác sĩ, mỹ nhân cũng mơ ước có chồng bác sĩ, bác sĩ là “top ten” trong nấc thang danh vọng và địa vị trong xã hội. Đó là quan niệm của một xã hội đã quá cũ, có thể nói là cổ hũ của những người lớn tuổi có thể hiện nay không còn thích hợp với trào lưu mới và khác với quan niệm của lớp trẻ lớn lên tại hải ngoại hiện nay. Để trở thành một Y Khoa Bác Sĩ, ngoài sự thôi thúc, ép buộc của cha mẹ, các vị bác sĩ tương lai phải trải qua nhiều thử thách hy sinh, và chịu đựng lớn lao mà ngay cả cha mẹ cũng khó thông cảm vả hiểu cho con, đó là chưa nói đến số tiền nợ vay khổng lồ thường lên đến nhiều trăm nghìn đô la mà sau khi tốt nghiệp họ phải hoàn trả.

Trong bài này chúng tôi chỉ nói đến những bác sĩ tốt nghiệp từ các Đại Học Mỹ. Về khả năng học vấn, muốn học y khoa, sinh viên phải tốt nghiệp Cử Nhân (B.S.) ngành sinh học (Biology) mất 4 năm+ 4năm tại một trường y khoa + 4 đến 8 năm cho chương trình bác sĩ nội trú (residency), tuỳ theo ngành chuyên khoa (specialty). Thời gian nội trú là thời gian làm việc hầu như không công cho bệnh viện. Họ được trả lương, trung bình 45,000/năm, nhưng phài làm việc  từ 80-120 giờ mỗi tuần. Bác sĩ nội trú làm việc rất căng thẳng, nhiều khi thiếu ngủ. Sớm lắm một bác sĩ ra trường cũng đã đến tuổi 32. Một thời gian dài vùi mình vào sách đèn, tốn kém, căng thẳng, gần như đốt hết tuổi thanh xuân.        

Sinh viên phải có điểm trung bình GPA (Grade Point Average) từ 3.0 trở lên, là một trong những yếu tố cạnh tranh gay gắt lúc nạp đơn xin nhận vào trường Y. Muốn được nhận vào học, ứng viên phải có điểm MCAT (Medical College Admission Testing) thật cao vì chỗ học có giới hạn tuỳ theo trường. Nếu muốn chọn những trường danh tiếng (và học phí cao) như Harvard, John Hopkins, Princeton, University of Pennsylvania, v.v. ứng viên phải thật xuất sắc về mọi phương diện: Điểm GPA cao, điểm MCAT cao, thu giới thiệu (recommendations) của giáo sư hay những nhân vật kiệt xuất trong ngành Y có tính thuyết phục, bài luận văn (essay)  tạo được ấn tượng nơi người đọc (các viên chức đảm trách việc xét đơn), ứng viên còn phải chứng minh tiềm năng và khả năng  của mình qua  một cuộc phỏng vấn (oral interview) gay go.

Yếu tố tài chánh cũng rất quan trọng: Khi chọn trường để nạp đơn, ứng viên phải có một số tiền lên đến hàng ngàn dollars: tiền nạp đơn (application fees), cho nhiều trường Y (từ 5 đến 7 trường) để chờ được phỏng vấn, chưa nói đến chi phí di chuyển và ăn ở trong vòng từ 3 đến 5 ngày cho mỗi nơi được gọi. Học Y ở giai đoạn này cần một số tiền lớn để trả học phí từ 25,000 đến 50,000/năm, tiền chi tiêu (nhà ở, ăn uống, tiêu vặt) và tiền mua sách. Tiền sách không phải là nhỏ, có khi còn tốn kém hơn cả tiền ăn tiêu là khác! Vì thế mà sinh viên Y Khoa trông cậy vào Student loan, và sẽ nhắm mắt ký giấy vay nợ không một chút ngần ngại. Số tiền vay nợ này lên đến hàng trăm nghìn dollars. Ngay sau khi ra trường sinh viên phải hoàn trả số tiền nợ này cho đến hết.

Cuộc đời bác sĩ bắt đầu bằng những khó khăn khác, trước hết, phải hành nghề để có tiền trang trải món nợ khổng lồ họ vay mượn trong thời gian theo học. Có người chọn giải pháp hành nghề cho chính phủ trong một thời gian nhất định ở vùng xa xôi như Alaska chẳng hạn để được xoá nợ. Điều này có nghĩa là phải sống nhiều năm ở những nơi hẻo lánh, xa gia đình. Có một số khác may mắn hơn, được tuyển phục vụ cho quân đội để được xoá nợ hay giảm nợ. Phần còn lại hành nghề trong các bệnh viện, các tổ hợp bác sĩ hay mở phòng mạch riêng của mình. Và áp lực của việc hành nghề, mức thu nhập  và việc trang trải nợ nần, chính là mối quan tâm hàng  đầu của một bác sĩ y khoa. Chi phí bảo hiểm hành nghề (malpractice insurance) ngày càng cao chất ngất vì hậu quả của những vụ kiện bác sĩ cùng với số tiền bồi thường lên đến hàng triệu hoặc chục triệu dollars mỗi vụ, các công ty bảo hiểm không ngần ngại tăng tiền bảo hiểm. Có những ngành chuyên môn như sản phụ khoa (obstetrics-gynecology) bị ảnh hưởng nặng nề. Trong thập niên 1980-1990, nhiều bác sĩ sản phụ khoa đã phải bỏ nghề chuyên môn của mình chỉ vì không thể đóng nổi số tiền bảo hiểm! Áp lực làm ra tiền để trang trải nợ nần chi phí có lúc đã đẩy đưa các bác sĩ y khoa vào con đường phạm pháp: gian lận medicare, gian lận bảo hiểm, bán toa thuốc, đã xẩy ra trong cộng đồng. Rất may đây cũng chỉ là một số ít, nhưng cũng đã nói lên được mặt bên kia của đồng tiền!

Nhiều bậc cha mẹ đã không hiểu con, trước hết là quan điểm sống và những ghề nghiệp phù hợp với mỗi con người. Có cha mẹ bắt con học y khoa nhưng con sợ máu và sợ tử thi. Con cái có thể chọn nghề mà chúng thích chứ không phải nghề hái ra tiền theo quan niệm quá xưa của cha mẹ. Cái danh mà cha mẹ bắt con phải đạt đến không phải là cái tuổi trẻ ngày nay trong xã hội này đi tìm. Cha mẹ không hiểu tâm tính, nguyện vọng của con cái và ngược lại, đó là một trong những nguyên nhân tạo nên tấn bi kịch của gia đình. Phụ huynh ép con theo quan niệm của mình thì than thở rằng: xã hội, thời đại mới thay đổi, con cái phá hỏng truyền thống đạo đức, thành luỹ gia đình.

Trong khi đó, các bạn trẻ thì thấy mình bị đè nén, bị hy sinh, bị tước mất tự do định đoạt cho đời mình và cần phải phản kháng. Phản kháng nào cũng gây nên thảm kịch.

Chúng tôi cũng biết rằng những bậc cha mẹ ép con phải học để trở thành bác sĩ cũng chỉ vì lo cho tương lai của con, mặc dù con đường đi đến tương lai không phải chỉ là một con đường duy nhất. Cha mẹ cũng không phải để cậy nhờ lúc con thành tài, mà chỉ vì cái danh “bác sĩ” đã nhiều năm trong xã hội Việt Nam, tích luỹ thành một thứ hào quang, để hãnh diện, ganh đua, thôi thúc con cái đi theo con đường của mình mà quên mất bản sắc, cá tính cũng như những nguyện vọng của con là những người mà họ hết lòng thương yêu, lo lắng.

Thế hệ xưa cũ và những quan niệm lệch hướng của thời chúng ta đã qua rồi, nên để cho con cái của chúng ta quyết định lấy cuộc đời theo sở nguyện của chúng. Trở thành một bác sĩ y khoa, hay không, đâu phải là cái gì ghê gớm lắm cho một đời người.

* * *

 THẤT TRẢM SỚ:

        

Ban Biên Tập sưu tầm.

Ngày nay khi nhắc đến thầy Chu Văn An, chúng ta thường liên tưởng tới "Thất trảm sớ" với nội dung xin chém 7 nịnh thần. Đây là một tờ sớ mang dấu ấn lịch sử rất quan trọng, người xưa chỉ nghe tiếng "Thất trảm sớ" thôi là đã ca ngợi rồi, nhà sử học Lê Tung (thế kỷ XV) viết:

"Thất trảm chi sớ nghĩa động quỷ thần",

Danh sĩ Nguyễn Văn Lý (thế kỷ XX) có thơ:

"Thất trảm vô vi tồn quốc luận,

Cô vân tuy viễn tự thân tâm".

Nghĩa là:

“Thất trảm sớ không thi hành, cả nước bàn luận.

Đám mây xa lẻ loi vẫn tự có tinh thần trong lòng”.

Rất tiếc cho đến nay nội dung tờ sớ đó không ai biết, có thể lúc đó bọn gian thần đã hủy đi để bịt miệng dư luận hoặc ai đó hủy đi để bảo vệ ông cũng nên. Còn vua Dụ Tông thì hoảng sợ, không đủ quyền lực để ra tay.

Về lịch sử, nhà Trần trải qua 12 đời vua, từ vua đầu tiên Trần Thái Tông năm 1225, đến vua cuối cùng là Trần Thiếu Đế năm 1400. Như vậy nhà Trần kéo dài được 175 năm. Sau đó vào năm 1400 bị Hồ Quý Ly cướp ngôi. Cụ Chu Văn An sinh ra vào thời vua thứ 6 của nhà Trần, tức vua Trần Minh Tông, trải qua đời vua Trần Dụ Tông, và mất vào đời vua thứ 8 của nhà Trần, tức vua Trần Nghệ Tông, năm 1370.

Nơi đây, cụ Chu Văn An đã mở lớp dậy học.

Thời vua Trần Dụ Tông là thời kỳ bắt đầu suy sụp của nhà Trần, và cũng là khi cụ Chu Văn An dâng Sớ xin vua Trần Dụ Tông chém 7 tên gian thần, để mong cứu vãn nhà Trần. Trong chính sử, không ghi nhưng một số tài liệu thuộc về huyền sử lại thấy nói đến như sau:

Theo cuốn "Vương triều sụp đổ", tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Hoàng Quốc Hải, NXB Phụ nữ - 2006, thì bảy tên gian thần bị Chu Văn An xin nhà vua xử trảm, tên tuổi như sau:

 1. Hoạn quan chi hậu cục Mai Thọ Đức, kẻ cai quản phi tần và tuyển chọn mỹ nữ, đã lạm dụng chức quyền bắt về vô số con gái nhà lương dân. Để nhiều người chết trẻ, chết già vì mòn mỏi trong cung thất; lại bày ra các trò dâm ô trác táng dẫn Hoàng thượng vào con đường vô đạo.

2. Trâu Canh, viên ngự y phạm tội làm cho Hoàng thượng liệt dương từ năm 3 tuổi, lại bày trò phục dương cho bề trên khi 15 tuổi. Y đã bắt cóc 21 đứa trẻ khỏe mạnh con nhà lương dân, giết đi lấy mật làm thang cho bài thuốc hồi dương của quan gia. Rồi y bày trò cho quan gia thông dâm với chị ruột mình, nói là phương thuốc chữa trị.

Trong khi chữa trị cho quan gia, y lại thông dâm với cung nhân của chính quan gia. Trâu Canh là người Hán, cháu nội Trâu Tôn đi theo quân nhà Nguyên vào xâm lược Đại Việt, năm Ất Dậu (1285) thất trận bị quân Đại Việt bắt, y đã xin hàng, lại xin được cư trú. Nay Trâu Canh lộng hành, dẫn dắt đức vua vào con đường thương luân bại lý.

 3. Bùi Khoan, Chính chưởng phụng ngự. Y bày trò cờ bạc rượu chè dơ dáy ngay trong cung thất, dẫn đức vua vào mê lộ, bê tha như đám dân đen ngu muội.

4. Văn Hiến hầu can tội gây bè đảng khiến các đại thần chia rẽ, ngờ vực lẫn nhau, làm cho đức vua khó phân biệt người ngay kẻ nịnh.

5. Hành khiển tả ty lang trung Nguyễn Thanh Lương, xảo trá, dẫn vua vào con đường ăn chơi xa xỉ, tới cạn kiệt quốc khố.

 6. Hành khiển hữu ty, hữu bộc xạ Tâm Đức Ngưu đồng lõa với Nguyễn Thanh Lương tìm đủ mọi cách tăng thu thuế khóa, tăng các sắc thuế từ thượng cổ chưa từng có, để bòn rút của dân, lấy tiền chi vào các cuộc ăn chơi trác táng của hoàng thượng. Kể cả những năm mất mùa đói kém, dân chết đói đầy đường, chúng cũng không tha giảm.

 7. Đoàn Nhữ Cẩu, Đồng binh chương sự, bòn rút khẩu phần của lính, các đồ binh khí đã cũ hỏng vẫn không chịu thay thế, để lấy tiền công bỏ túi. Y sao nhãng việc luyện tập canh phòng biên cương phía Bắc, phía Nam gần như bỏ ngỏ. Hiện thời Chiêm Thành đang ráo riết nhòm ngó miền châu Hóa.

 Điều tệ hại đáng nói nhất là, lũ gian thần này mượn danh Hoàng thượng để làm các việc, mà nhìn bề ngoài thiên hạ cứ ngỡ là chúng làm vì Hoàng thượng. Nhưng kỳ thực, các khoản chi tiêu cho Hoàng thượng chỉ một phần, còn vào túi chúng tới chín phần.

Để giữ nghiêm phép nước, nối dòng đại thống từ Thái tông cao hoàng đế tới nay, xin bệ hạ cho chém đầu bảy tên gian thần trên, và tịch thu sản nghiệp của chúng, sung quốc khố, để làm gương răn đe kẻ khác".

Có lẽ đây cũng là dư luận thôi nhưng xem ra điều "giải mã này thật thú vị". Điều quý hơn hết là dân ta đã một lòng ca ngợi và xem thầy như sao Đấu, sao Khuê, Cao Bá Quát cũng từng viết,

Thất trảm yêu ma phải rợn long.

Trời đất soi chung vầng hào khí.

Nước non còn mãi nếp cao phong...

 

 * * *

GIÁO SƯ

NGUYỄN GIA TƯỜNG

 

Lê Duy San, CVA59

Giáo sư Nguyễn Gia Tường sinh năm 1896 tại Hà Nội, Việt Nam trong một gia đình nho giáo và đông con. Ông có hai người em trai là Họa sĩ sơn mài Nguyễn Gia Trí và Kiến trúc sư Nguyễn Gia Đức, người đã thiết kế, tái tạo tại Thủ Đức ngôi Chùa Một Cột.

Ông tốt nghiệp trường Cao đẳng Sư Phạm Hà Nội, thời Pháp gọi là Ecole Normale Supérieure và làm giáo sư trường Bưởi, Hà Nội, lúc đó gọi là Lycée du Protectorat. Ông dạy môn Vạn Vật (Sciences naturelles). Niên khoá 1945-1946, Trường Bưởi được đổi tên thành trường Trung Học Chu Văn An và ông được cử làm Hiệu Trưởng. Trong thời gian làm Hiệu Trưởng, ông được học trò rất qúy mến và kính trọng.

GS Nguyễn Gia Tường, người đeo kính .

Ông có tinh thần yêu nước rất cao. Thời kỳ sôi động chính trị tại Hà Nội những năm 1945-1946, ông là một trong những trí thức đã sớm nhìn thấy bộ mặt Cộng Sản độc tài của nhóm Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu ... Ông tham gia Phong Trào Ngũ Xã, có trụ sở tại « Khu Tự trị Ngũ Xã », bên Hồ Trúc Bạch Hà Nội, qui tụ những người quốc gia không chấp nhận Tổ chức Việt Minh do Hồ Chí Minh và nhóm CSVN thao túng. Vì thế ông bị Việt Minh chú ý. Bọn chúng sợ để thày làm Hiệu Trưởng lâu, nhóm Ngũ Xá của thầy có cơ hội bành trướng lớn, nên có ý đồ thay thế thầy. Chúng gửi giấy cho gọi thầy tới Nha Tổng Giám Đốc Công An Hà Nội, nằm trên đường Gambetta, sau đối là đường Trần Hưng Đạo, gần ga Hàng Cỏ, để “làm việc” tức điều tra. Thời đó bị Công an Việt Minh mời tới để “làm việc” là có thể bị giam giữ và thủ tiêu.

Thầy Tường biết Việt Minh muốn kiếm cớ bắt mình nên trước khi thầy đi, thày tụ tập các học sinh ở sân trường để từ giã. Thầy giơ cao tấm giấy mời của Công An cho mọi người biết là thầy phải tới trình diện Công An. Anh Phạm Ngọc Toả và anh Trần Tấn Thái, cựu học sinh Chu Văn An thời đó cho biết thày Nguyễn Tường Lân, giáo sư dậy vẽ nói với các học sinh rằng: “Ai muốn theo thày Tường lên công an hỏi cho ra lẽ thì đứng sang 1 bên. Lúc đầu nhiều người còn nhút nhát và sợ sệt, chỉ có một vài chục học sinh, sau số học sinh theo thầy càng lúc càng đông lên đến mấy trăm người. Các học sinh xếp hàng thứ tự dưới sự hướng dẫn của anh Luận có hỗn danh là Luận Thọt vì anh bị thọt chân, đi theo thầy giống như một cuộc biểu tình. Khi tới trước trụ sở Công An, Việt Minh sợ qúa đóng chặt cửa, chiã súng ra ngoài dọa nạt và bắt phải sang bên kia đường đứng và chỉ cho phép anh Luận và một anh nữa đi theo thày Tường sang gặp họ. Thầy Tường giơ cao tấm giấy mời nói:

- Các ông cho mời tôi tới, sao không mở cửa cho chúng tôi vào ?

Bọn Công An trả lời:

- Chúng tôi chỉ mời mình cụ, thì chỉ mình cụ vào được thôi. Các học sinh phải ở ngoài. Thầy Tường trả lời:

- Các em học sinh đây theo tôi chỉ muốn biết rõ chuyện gì sẽ xẩy ra cho tôi mà thôi. Nếu các ông không dám cho vào thì các ông muốn hỏi gì tôi thì ra đây mà hỏi.

Bọn Công An Việt Minh vào trình với ban Giám Đốc. Bàn tán hồi lâu nhưng rồi cũng chỉ cho phép mình thày Tường vào mà thôi. Anh em học sinh không chịu, nhất định theo thày để được bị giam chung với thày, nếu thày bị giam.

Sau mấy tiếng bàn bạc, chúng phải nhượng bộ và cho người ra trả lời:

- Cụ không vào thì thôi, mời cụ về.

Các học sinh Chu Văn An reo hò thắng lợi. Thầy Tường lại dẫn đầu đám học sinh trở về trường. Nhưng ít lâu sau đó, chúng đã cử thầy Dương Quảng Hàm lên thay thế.

Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ vào đêm 19/12/1946, Giáo sư và gia đình bị kẹt lại tại Hà Nội và không tản cư được ra hậu phương. Nhưng đây có lẽ cũng là điều may mắn cho ông và gia đình vì nhờ vậy mà ông đã không bị Việt Minh hãm hại. Thời gian khoảng 1948-1954, ông là giáo sư tại trường Trung Học Tư thục Dũng Lạc Hà Nội. Sau 1954 di cư vào Nam, ông dạy tại trường Sư phạm Sài Gòn, môn Luân lý Chức nghiệp, cho đến khi hồi hưu.

Đầu thập niên 1980, Giáo sư Nguyễn Gia Tường được người con trai trưởng định cư tại Hayward (California, Hoa Kỳ) đón sang đoàn tụ gia đình. Năm 1986, ông qua đời tại đây, hưởng thọ 90 tuổi. Vào thời điểm này, Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Chu Văn An Bắc Cali chưa được thành lập; nên không có cơ hội để đón tiếp một vị thày đáng kính và cũng là một vị Hiệu Trưởng đầu tiên của trường Trung Học Chu Văn An.

          

 * * *

Tình Thu 

 

Phùng Ngọc Sa

 Bây giờ đã vào Thu, khí trời thay đổi, lòng người do đó cũng có phần đổi thay. Nhớ buổi nào hãy còn là những ngày hè nắng rực, cây lá xanh tươi, trăm hoa khoe sắc.Con người vì thế cảm thấy vui tươi năng động. Giờ thì Thu đã tới, rừng cây với đầy lá vàng bao phủ; thỉnh thoảng lại có một vài làn gió lành lạnh hây hây thổi vỗ nhẹ vào má khiến tâm hồn ta cảm thấy lâng lâng và mơ mộng. Tha nhân do ảnh hưởng của ngoại cảnh nên có những nỗi buồn vẩn vơ man mác.

So với các tiết quanh năm thì mùa Thu quả thật chẳng có gì vui, Thu thiếu hẳn cái tươi thắm của Xuân; không rực rỡ như Hè; trời Thu lại ảm đạm; trăng Thu nhạt và tình Thu thì chao ôi! Buồn ơi Thu vẫn cô đơn là buồn. Và, có lẽ không còn nổi buồn nào da diết bằng giữa đất khách quê người, một mình ngồi trong căn phòng vắng lạnh, vừa độc ẩm vừa thưởng thức những điệu tình buồn tỉ: Mùa Thu Paris của Phạm Duy, Em ra đi mùa Thu của Phạm Trọng, Thu Sầu của Lam Phương, đặc biệt khi được lắng nghe tiếng ca vượt thời gian của nữ ca sĩ Thái Thanh qua nhạc bản Buồn Tàn Thu của Văn Cao thì cảm thấy tâm hồn lắng đọng, lòng lại tự hỏi lòng rồi kêu trời! Ôi! Sao cái buồn ở xứ người nó lại quá thấm thía và ghê rợn đến thế.

Thu quả thật là buồn, ấy vậy mà lắm văn nhân thi si, đặc biệt với những ai vốn chịu ảnh hưởng văn chương lãng mạn của Pháp, họ thường đua nhau ca tụng mùa Thu. Nhiều áng văn, lắm bài thơ trữ tình bất hủ xuất phát từ nguồn cảm hứng về Thu mà sáng tác và được nhiệt liệt ngợi khen.

Có lẻ Thu sở dĩ được ca tụng vì trong bốn mùa quanh năm nó là một mùa mà cảnh vật có nhiều đổi thay nhất. Cũng vì nguyên nhân đó khiến mùa Thu đã gây nhiều xúc cảm. Niềm cảm xúc đó chính là sự chia ly, xa cách, khắc khoải và trông chờ. Thế nên khi diễn tả về Thu, thi nhân thường cho đó là mùa đau thương nhung nhớ. Và khi đã nói đến Thu mà không bàn đến chuyện thi ca thì quả thật đó là một điều thiếu sót quá lớn. Vậy quý độc giả hãy thử xem, từ Á sang Âu, từ Đông sang Tây, chúng ta thấy thi nhân đã diễn tả nỗi niềm nhung nhớ về Thu như thế nào.

Thu, theo nữ sĩ Tương Phố bà viết, Thu là tất cả và ở khắp nơi. Nó từ màu trời, màu đất, nhiều màu thuộc cỏ cây hoa lá, và nó ở ngay trong lòng người. Vì vậy trong bài "Giọt lệ thu", nữ sĩ  đã viết:

Trời Thu ảm đạm một màu
Gió Thu hiu hắt thêm sầu lòng em
Trăng Thu bóng ngả bên thềm
Tình Thu ai để duyên em bẽ bàng.

Một bài khác, khóc vì cảnh tử biệt chồng, nữ sĩ đã dùng đến cảnh thê lương ảm đạm của mùaThu nức nở viết:

Anh ơi!
Thu về như gợi nhớ mối thương tâm
Mỗi độ Thu sang em lại võ lòng than khóc
Mỗi năm có một lần Thu
Như Thu năm nay đi, năm sau còn trở lại
Hỏi, ba năm hương lửa
Thì ái ân kia dễ mấy kiếp hẹn hò nhau
Chẳng hay cơ trời dâu bể vì đâu?
Xui nên chăn gối vừa êm
Sắt cầm dìu dặt ngón đàn
Bỗng ai xô lộn
Bình tan gương vỡ
Cho người lỡ duyên.

Trong "Đoạn Trường Tân thanh" , mặc dù mối tình giữa nàng Kiều và Thúc Sinh, một chàng trai sợ vợ xem ra chẳng có gì là mặn nồng và say đắm cho lắm. Tuy nhiên, cụ Nguyễn Du vẫn thi vị hóa cảnh chia tay bằng cách lấy cái buồn man mác của Thu làm bối cảnh để tả cuộc chia ly của hai người:

Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong Thu đã nhuộm màu quan san
Đạm hồng bụi chốn chinh an
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh
Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xuôi
Vừng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa in dậm trường.

Tả cảnh biệt ly và nhắc đến sự chia tay thì bao giờ cũng thấy có sự buồn thảm. Thử gợi lại cảnh chia tay giữa chinh nhân và hiền nội trong "Chinh phụ ngâm", tuy sắc thái của Thu chỉ phảng phất và bàng bạt đâu đó, tuy nhiên tác giả cũng vận dụng ý Thu để nói cho ta biết, khi chàng ra đi, thì chim oanh chưa về, hoa mai chưa nở, nhưng trời Thu vẫn là nhân chứng của sự chia ly và cảnh tiễn đưa một chén quan hà vì thế thi nhân đã viết:

Thuở lâm hành (lúc ra đi) oanh chưa bén liễu
Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca
Nay quyên đã giục oanh già
Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo
Thuở đăng độ mai chưa dạn gió
Hỏi ngày về chỉ độ đào bông
Nay đào đã quyến gió đông
Phù dung lại nở trên sông bơ phờ.

Một đoạn khác trong "Chinh Phụ Ngâm", thi nhân lại sử dụng hoa cúc vàng, một loại hoa nở vào mùa Thu đễ diễn tả nổi niềm nhung nhớ khắc khoải của cảnh chia ly:

Xót người nương chốn hoàng hoa dậm dài.

Xót người lần lữa ải xa

 Một tiểu đoạn trong "Cung Oán Ngâm Khúc", dù tác giả không nói đến cảnh bẽ bàng chia ly của đôi lứa như ở "Chinh Phụ Ngâm" diễn tả những tình tiết về chàng, vì nghĩa vụ nhẹ bước chinh yên, còn nàng thì ở tại nhà chờ trông ngày về. Trái lại những vần thơ trong bài Cung Oán lại chỉ tả người cung nữ bị vua phế bỏ vì đã phải gặp cảnh liễu chán hoa chê, cái buồn khổ của người cung nữ trong cảnh cô đơn: mới ngày nào đó ở gác Thừa Lương còn được vua sủng ái, cùng với vua hoan hỉ yến ẩm đàn ca xướng hát. Nay trong cảnh cô liêu vò võ mơ màng trong gió Thu hiu hắt. Cảnh Thu một lần nữa đã lộ nét:

Đền Vũ Tạ, nhện giăng cửa mốc
Gác Thừa Lương, ngủ thức Thu phong.

Với thơ Đường, thi ca thịnh đạt nhứt trong lịch sử văn học Trung Hoa thì người Tàu thường dùng nguồn cảm hứng của Thu đễ sáng tác. Một bài thơ nổi tiếng, diễn tả về cuộc chia tay tại bến Tầm Dương mà khách chủ đã cùng nhau gợi lại những khúc ca cũ (trúc ty) lấy Thu làm bối cảnh, Bạch Cư Dị viết và Phan Huy Vịnh dịch:

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi Thu lau lách đìu hiu
Người xuống ngựa khách dừng chèo
Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ty.

Ở cổ văn, làm thơ để mô tả khung cảnh thiên nhiên và lòng người, thi nhân thường hay sử dụng đến phần ước lệ. Tả đến mùa nào, thì đã có thức của mùa ấy. Ví dụ, Xuân phải nhắc đến hoa Mai, Hạ đã có Lan, Thu có Cúc và mùa Đông thì đã có Trúc. Riêng mùa Thu, ngoài hoa Cúc, vẫn còn nhắc đến lá ngô đồng qua câu:

Ngô đồng nhất diệp lục
Thiên hạ cộng tri Thu.

(Một khi thấy lá ngô đồng rụng, ấy là dấu hiệu của mùa Thu tới).

Người làm thơ mới như Xuân Diệu, khi tả cảnh mùa Thu vẫn phải nhắc tới lá ngô đồng. Thi nhân viết:

Ô hay! Vàng rơi cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi thu mênh mông.

Tuy cùng là gió, nhưng gió Thu còn được gọi là "Kim Phong" hay gió Tây, vì mùa Thu thuộc Kim và theo Ngũ hành trong Kinh Dịch, Thu thuộc hướng Tây, vì vậy mới gọi gió Thu là gió Tây. Gió Tây thường mang cái lạnh từ miền Tây Bá Lợi Á về nên rất lạnh vì thế ca dao mới có câu:

Ra về để lại áo đây,

Để khuya em đắp gió Tây lạnh lùng.

Không những ở cổ văn thi nhân mới tả Thu với những nổi niềm nhung nhớ của nó. Ngay cả loại thơ nửa cổ điển, nửa có mang màu sắc lãng mạn mà Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu là tiêu biểu, thì tiên sinh cũng đã sử dụng bút pháp tài tình của mình để nói về Thu hầu diễn tả cái buồn, sầu cô đơn khắc khoải của mình. Ông viết:

Ngọn gió Thu phong rụng lá vàng

Lá bay hàng xóm, lá bay sang

Vàng bay mấy lá, năm già nửa

Hờ hửng ai xui thiếp phụ chàng.

Hay:

Ngọn gió Thu phong rụng lá hồng
Lá bay tường Bắc lá sang Đông
Hồng bay mấy lá, năm hồ hết
Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng trông.

Ở bốn câu đầu tác giả muốn nói đến cảnh ngộ của người hàng xóm để so với hoàn cảnh của mình mà cảm thấy buồn. Nhà người ta thì sum họp đầm ấm, trái lại mình thì"vàng bay mấy lá",Thu đã đến, lại già thêm nửa năm rồi mà tại sao nàng nỡ hờ hửng và lạnh lùng đến thế?

Trong bốn câu sau, thi nhân càng viết rõ, đầu Thu lá vàng, cuối Thu thì lá lại hồng. Từ xanh trở vàng qua đỏ. Qua thật thời gian trôi nhanh quá nhỉ. Mới đó "vèo" một cái đã hết năm. Nàng thì đã dứt khoát phụ chàng, trái lại thì chàng vẫn còn thẩn thờ đợi trông. Buồn quá nhỉ.

Có thể nói nhà thơ Tản Đà là người mở đầu phong trào thi ca lãng mạn trong văn học Việt Nam. Song, ở một vài bài thơ khác, tiên sinh cũng không quên những hình ảnh mang tính cách ước lệ trong khi diễn tả về Thu, thi nhân viết:

Từ vào Thu đến nay
Gió Thu hiu hắt
Sương Thu lạnh
Trăng Thu bạch
Khói Thu xây thành
Lá Thu rơi rụng đầu ghềnh
Sông Thu đưa lá bao ngành biệt ly
Nhạn về, én lại bay đi
Đêm thì vượn hú, ngày thì ve ngâm
Lá sen tàn tạ trong đầm
Nắng mang giọt lệ âm thầm khóc hoa

Như đã nói trên, hể muốn nói đến bốn mùa, tác giả thường phải kèm theo Mai, Lan, Cúc, Trúc. Và, nói đến Thu thì không thể nào quên sương, khói. Sương, khói trong thơ mới của Tản Đà một phần nào đã phảng phất khói của Thôi Hạo trong hai câu:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử muôn sầu

Tản Đà dịch:

Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Trong phần đầu, người viết đã cho rằng, có lẽ vì chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn chương Pháp, vì thế một số thi nhân Việt Nam mà đặc biệt là các nhà văn tiền chiến thường ca tụng mùa Thu. Đọc bài Ý Thu của Xuân diệu, ta thấy phảng phất đâu đây những vần thơ bất hủ của Anatole France qua Pensée d'Automme.Theo Anatole thì Thu là mùa lá rụng, những chiếc lá vàng rơi rụng phủ đầy các pho tượng trưng bày trong công viên Luxembourg, và cuối cùng thì những chiếc lá vàng đó theo thời gian đã mục nát tưởng như hàng trăm ngàn đôi chân vô tình chà đạp và dẫm lên nó. Thi sĩ Xuân Diệu trong Ý Thu, tương tự cũng đã viết:

Bị nhầu ai tưởng dưới trăm chân.

Đi xa hơn Anatole, Xuân Diệu còn viết để diễn tả: Xuân hết, Hè lại qua, hoa tàn nhụy đã héo mà Hè hết, thì tiếng ve sầu cũng tắt theo. Khác với nữ sĩ Tương Phố tả trong cổ văn, bà chỉ nói gió Thu hiu hắt. Trái lại trong trường phái lãng mạn, thi sĩ Xuân Diệu vì quá đa cảm nên hỏi thẳng:Chắc rằng gió cũng đau thương chứ? Thi nhân viết:

Những chiếc hồn buông trong lá rụng
Bị nhàu ai tưởng dưới trăm chân
Bông hoa rứt cánh, rơi không tiếng
Chẳng hái mà hoa vẫn hết dần
Dưới gốc nào thấy đâu xác ve
Thế mà ve đã tắt theo hè.

Chắc rằng gió cũng đau thương chứ
Gió vỡ ngoài kia, ai có nghe?
Hôm nay tôi đã chết trong người
Xưa hẹn nghìn năm yêu mến tôi
Với bóng hình xưa tăm tiếng cũ
Cách xa chôn hết nhớ thương rồi
Yên vui xây dụng bởi người quen
Muốn bước, trang đời phải dẫm trên
Muôn tiếng kêu than thầm lẳng lặng
Nhưng hoa có thể cứ lâu bền
Ờ nhỉ! Sao hoa lại phải rơi
Đã xa sao lại hứa yêu hoài
Thực là dị (*) quá, mà tôi nữa
Sao nghĩ làm chi chuyện nhạt phai!

(* dị, tiếng người Huế thường dùng hay cho tiếng kỳ cục).

Đọc xong Ý Thu, ta thấy tác giả cho rằng Thu là xa cách, là đau thương nhung nhớ, chính nó đã đạp dẫm trên nổi khổ đau và làm tê tái lòng người. Nhưng dù sao hoa vẫn là hoa mãi. Chắc chắn đó không phải loại hoa nhân tạo, hoa vải hay hoa giấy, vì hai loại nay không tàn héo hay rơi rụng mà chỉ cũ đi, và sau cùng chỉ có tình yêu mới là hoa bền lâu. Hầu hết trong các văn thơ tiền chiến, ta thấy chưa có ai diễn tả Thu  vui, Thu tươi sáng, mà toàn là những nổi buồn nhớ nhung man mác. Do ảnh hưởng quá sâu đậm của hai nền văn học Tây cũng như Tàu. Tây thì từ Lamartine, Verlaine, Valery. như những nổi buồn của René (La mélancolie de René), của Chanson d'Automme cho đến Guillaume Apolinaire v.v. thì làm sao Thu mà vui cho được. Riêng thơ của Tàu, từ Trương Kế cho đến Thôi Hiệu hay Lý Bạch, Thu chỉ có lạnh lẻo và bẽ bàng. Mời độc giả hảy liếc nhìn qua bài Phong Kiều Dạ Bạc, tạm dịch "đổ thuyền ở Phong Kiều" của Trương Kế, độc giả sẽ thấy Thu lại càng lâm ly bi đát hơn; thi nhân viết :

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên           
Cô tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền  

Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Hàm Ninh, thường bị nhầm là của Tản Đà :

Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

Có điều đáng nói, là thơ Tây (Pháp) khác hẳn với lối thơ xưa của ta cũng như Tàu, thơ của họ thê lương ảm đạm vô cùng. Thu buồn đến nỗi mở miệng mà nói không ra lời nên Hàn Mạc Tử đã viết:

Ấp úng không ra được nửa lời
Tình Thu bi thiết lắm Thu ơi
Vội vàng cánh nhạn bay đi trớt
Hiu hắt hơi mây thoáng lại rồi
Nằm gắng đã không thành mộng được
Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi
Ngàn trùng bóng liễu trong xanh ngắt
Cảnh sắp về Đông mắt lệ vơi.

Ngoài ra, xin đơn cử thêm một vài vần thơ của Guillaume Apollinaire, một thi sĩ người Pháp viết bài L'Adieu để tặng người yêu, nàng Marie Laurencin, và nhạc sĩ Phạm Duy đã dịch ra tiếng Việt trong nhạc bản "Mùa Thu chết" đễ thấy Tây họ tả Thu một cách bi thảm như thế nào. Apollinaire viết:

J'ai cueilli ce brin de bruyère
L'Automme est morte, souviens-t'en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temp brin de bruyère
Et souviens-toi, que je t'attends!
     

Nhạc sĩ Phạm Duy dịch và phổ nhạc:

Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
Em nhớ cho mùa Thu đã chết rồi,
Mùa Thu đã chết em nhớ cho,
Em nhớ cho chúng ta chẳng còn nhìn nhau nửa
Trên cỏi đời này, từ nay mãi mãi không thấy nhau!
Ôi ngát hương, thời gian mùi thạch thảo.
Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em, vẫn chờ, vẫn đợi em.

(Nhạc sĩ Phạm Duy dịch và phổ nhạc đã hay, thêm với giọng hát ngọt ngào êm dịu của Họa Mi quả thật Mùa Thu chết là một bản nhạc bất hủ.)

Nói đến thi văn mùa Thu, mà quên Lưu Trọng Lư, đó là điều thiếu sót quá lớn. Lý do: thứ nhất, thi nhân quá yêu mùa Thu, nên đã soạn hẳn một tập thơ với đề tựa "Tiếng Thu", thứ hai, thơ Lưu Trọng Lư cũng phảng phất đâu đó ý thơ của Verlaine qua bài "Chanson d'Automme", đặc biệt, từ trước đến giờ chưa có thi nhân Việt Nam nào nói đến Thu mà có tả hình con nai, mà lại một con nai vàng ngơ ngát. Hình ảnh những vần thơ nầy, gần nửa thế kỷ nay đã trở nên một "thành ngữ" trong những câu nói thường nhật của người Việt. Mời quý vị xem tác giả mô tả Tiếng Thu như thế nào mà khiến ông đã nỗi tiếng:

Em không nghe mùa Thu
Dưới trăng mờ thổn thức
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người chinh phụ
Em không nghe rừng Thu
Lá Thu kêu xào xạt

Con nai vàng ngơ ngát

Đạp trên lá vàng khô!

  Mơ mộng như thi sĩ họ Lưu, có lẽ không thể nào không buồn khi thấy Thu tới lá vàng rơi rụng, thế nên trong bài Mùa Thu Lá Rụng ông đã viết:

Lòng anh như nước hồ Thu lạnh
Quạnh quẽ đem soi bóng nguyệt tà
Ngày tháng anh mong chầm chậm lại
Hửng hờ em mặc tháng ngày qua.

Nói đến nai trong Tiếng Thu Lưu Trọng Lư, chúng ta chớ nên lầm lẩn với nai của Huy Cận trong Rừng Thu. Vì nai của Lưu Trọng Lư thì trong mùa Hạ nó lên vùng cao kiếm ăn, mùa lạnh nó lại trở xuống vùng thấp cho đỡ lạnh, do đó mới có thành ngữ "con nai vàng ngơ ngác" (mới trở về, lạ chỗ nên ngơ ngác) Huy Cận thì khác hẳn, nai của thi nhân thì rõ hơn, đó là loại nai vùng cao, gót chân thường lẫn trong sương mờ, lần bước đi theo những nẻo đường quen thuộc. Trong "Rừng Thu"  Huy Cận viết:

Bỗng dưng buồn bả không gian
Mây bay lũng thấp giăng màn âm u
Nai cao lần gót sương mù
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn

Thu mới về Sắc trời ô

Ôi nhẹ dưới khe
Chim đi lá rụng cành nghe lạnh lùng
Sầu Thu lên vút song song
Với cây hiu quạnh với lòng quạnh hiu
Sắc xanh ngày cả buồn chiều
Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia (Lữa Thiêng).

Theo các nhà thơ Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, Lưu Trọng Lư và Huy Cận khi tả Thu các thi sĩ trên chỉ nói đến sự  buồn bã, đơn côi. Đó vì chịu ảnh hưởng của Pháp trong thơ mới và ước lệ trong thơ cũ. Trong khi đó thi sĩ Hồ Dzếnh khi nói đến Thu, thi nhân mô tả Thu rất Việt Nam. Bài Mùa Thu năm ngoái, (riêng chữ năm ngoái thôi cũng đã thấy rất nôm na, mộc mạc của người nhà quê Việt Nam và dễ yêu) ông viết:

Trời không nắng cũng không mưa,
Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung.

Ông tiếp:              

Đâu hình tầu chậm quên ga,

Bâng khuâng gió nhớ về qua lá dày.

Dù một chút nhớ thôi, nhớ một cách bâng khuâng nên dù tầu chạy chậm đâu có nhanh lắm thế nhưng thi nhân hình như đã quên hẳn nhà "Ga" nên ông lại viết:

Tất cả một mùa thơ
Gió mây đưa buồn lắng xuống
Cả lòng tôi, với cả lòng cô
Có một nghìn cây rũ rượi buồn
Dăm thân thiếu nữ gầy như trúc
Đứng chịu tang trời đổ bóng đơn
Thu xa bằng gió bằng mây
Không gian thở nhẹ, buồn vây chìm chìm
Lòng không ai cấm mà im
Không nhưng bổng nhớ, không tìm bổng mong
Nơi tôi còn ít lá lòng
Chiều nay rơi nốt vào trong lá rừng.

 

Ôi! Thơ văn mà các thi nhân Việt Nam viết để ca tụng mùa Thu còn quá nhiều. Trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài viết, khó mà diễn tả cho hết cái hay, cái đẹp và cái tinh túy khắt khoải của Thu. Người viết chỉ biết và góp nhặt được một phần rất hạn hẹp, và ước mong độc giả bốn phương cùng nhau ôn lại nguồn cảm hứng của các thi nhân đã dày công sáng tác để tích lũy và góp thêm vào kho tàng văn học Việt Nam ./.

* * *

Chuyện Xưa Chuyện Nay:

Trường Chu Văn An Hanoi 

 thời ấy (1952-54)

Đoàn Thanh Liêm, CVA54

Bắt đầu từ niên khóa 1952-53, tôi theo học lớp Đệ Nhị tại trường Chu Văn An Hanoi, sau khi đã học hết chương trình lớp Đệ Tam năm 1951-52, tại trường Hồ Ngọc Cẩn ở miền quê Bùi chu – Xuân trường – Nam định. Đang từ miền quê bị chiến tranh tàn phá, lại thiếu thốn mọi tiện nghi về điện, nước cũng như về nhà ở, đường xá, tôi thật choáng ngợp với lối sống xa hoa tráng lệ và tình trạng an ninh tại Hanoi vốn nổi tiếng ngày xưa là “ thủ đô Thăng Long ngàn năm văn vật”. Thành phố hồi đó còn đày dãy lính Pháp với trang bị khá hiện đại, so với quân đội quốc gia Việt nam mới còn trong giai đoạn phôi thai. Là một học sinh với niềm đam mê sách vở, tôi rất thích được lui tới các tiệm sách báo tiếng Pháp xung quanh hồ Hoàn Kiếm để “coi cọp” và lâu lâu cũng kiếm tiền để mua được một vài cuốn sách rẻ tiền. Cái vui thú khác nữa là được đi coi cinema với các phim đày màu sắc của Hollywood.

Trường Chu Văn An thời đó lại nằm trong khu vực Quan Thánh, chứ không được sử dụng cơ sở của Trường Bưởi sát bên Hồ Tây ngày trước, vì nơi đây đã bị biến thành một doanh trại của quân đội Pháp từ lâu rồi. Thầy Hiệu trưởng là Cụ Vũ Ngô Xán là một nhà giáo kỳ cựu, cùng với sự phụ tá của Thầy Giám học là Vũ Đức Thận và Thầy Tổng giám thị là Thầy Phụng và Thầy Trần Xuân Lãng. Lớp Đệ Nhị Ban A chúng tôi học Toán với Thầy Đào Văn Dương, Lý hóa với Thầy Bùi Phùng, Pháp văn với Thầy Nguyễn Ngọc Cư (Cư bướu), Việt văn với Thầy Nguyễn Văn Phong (Phong Tàu), Anh văn với Thầy Dương Tự Nguyên, Vạn vật với Thầy Trần Gia Huấn, Sử địa với Thầy Lê Ngọc Huỳnh, Hán văn với Cụ Tiếp. Chúng tôi học vào các buổi sáng, với một số ít giờ vào buổi chiều. Mỗi tuần còn có giờ tập thể dục do các huấn luyện viên như Bùi Xuân Đáng, Vũ Văn Quý hướng dẫn. Lại còn có thêm lớp học về dự bị quân sự (PMS = Preparation militaire superieure) do sĩ quan quân đội tới trường giảng dậy.

Nói chung, các thầy đều giảng dậy chỉ dẫn cho chúng tôi rất tận tình chu đáo. Lại nữa, vì hầu hết thầy trò đều mới phải trải qua những ngày tháng vất vả khó nhọc với cảnh tản cư vì nạn chiến tranh khói lửa hồi cuối thập niên 1940, nên học sinh chúng tôi biết thân biết phận mà ra sức học tập, để bù lại thời gian chạy loạn đã không sao được học hành nghiêm túc. Hồi đó sách giáo khoa bằng tiếng Việt chưa có bao nhiêu, nên chúng tôi phải học theo sách tiếng Pháp vốn được ấn loát trình bày rất sáng sủa, đẹp mắt từ bên nước Pháp gửi qua. Cụ thể như bộ sách Toán của tác giả Lebosse, bộ Vật lý của George Eve, bộ Litterature expliquee của Desgrange v.v…

Lớp 2A chúng tôi năm 1952-53 đó có chừng 50 học sinh, mà nay sau gần 60 năm tôi còn gặp lại được một số bạn tại miền Nam California như Trịnh Đình Cương, Trần Quang Hải, Nguyễn Trọng Hiền, Đỗ Phan Ngọc. Tại Hanoi hiện giờ, thì tôi mới bắt liên lạc được với các bạn Nguyễn Phúc Giác Hải, Ngô Văn Trọng. Còn một số bạn đã mất mà tôi được biết rõ, đó là Đỗ Vinh (bác sĩ Lữ đoàn Dù hy sinh năm 1966-67), Nguyễn Hồ Quỳ (chết bệnh 1972-73 ở Saigon), Vũ Ngô Luyện ( là trưởng nam cuả Thầy Vũ Ngô Xán mất vì bệnh năm 2004 ở California). Người bạn học xuất sắc mà sau này du học ở Canada là Đinh Bảo Lĩnh, rồi làm giáo sư đại học ở ngoại quốc luôn.

Kỳ thi tú tài 1 năm 1953, có đến gần một nửa lớp 2A đã thi đậu và được tiếp tục lên học lớp Đệ Nhất trong niên khóa 1953-54. Riêng tôi với hai bạn Phạm Quý Tư, Lương Quang Thạc thì lại xin chuyển sang học lớp 1D Ban Toán. Lớp Đệ Nhất Ban Toán này được Thầy Bạch Văn Ngà dậy rất kỹ, môn Lý hóa vẫn do Thầy Bùi Phùng dậy, Thầy Nguyễn Ngọc Cư dậy môn Triết học và Pháp văn, Thầy Nguyễn Văn Nguyên dậy Anh văn, Thầy Nguyễn Tường Phượng dậy Việt văn, Thầy Lê Ngọc Huỳnh vẫn dậy Sử địa, Thầy Trần Gia Huấn vẫn dậy môn Vạn vật.

Lớp Đệ Nhất 1D này do 2 lớp Đệ Nhị D1 và D2 hợp lại, nên gồm nhiều nhân tài vào loại “cao thủ võ lâm”. Mà điển hình như các bạn Phạm Xuân Yêm, Đặng Vũ Huyến, Vũ Dương Tuyền, Bạch Lý Từ, Trần Ngọc Bích, Vũ Thanh Khiết, Phạm Quý Tư đều có bằng tiến sĩ khoa học ở Pháp hay ở Liên Xô sau này. Về ngành y khoa, theo bạn Vũ Hữu Bao cho biết là riêng trong số 30 bạn đồng khoá di cư vào Nam năm 1954, thì đã có đến 10 bạn là bác sĩ rồi. Trong số các bác sĩ này, thì tôi đã gặp lại các bạn Ngô Đình Thuấn, Nguyễn Văn Quý, Vũ Ngọc Oánh, Vũ Hữu Bao, Vũ Tiến Thông, Trần Mộng Liên, Lê Văn Kim, Nguyễn Văn Tạ. Có bạn Bùi Hữu Thư làm đại tá bên Hải quân. Hai bạn Nguyễn Tú, Đặng Văn Đức làm đại tá, trung tá bên Không quân. Chỉ có một mình tôi Đoàn Thanh Liêm là làm nghề luật sư mà thôi. Các bạn Phạm Hoài Đức, Lê Đức Cửu, Nguyễn Hữu Ru, Nguyễn Duy Hy, Nguyễn Hữu Tuệ, Nguyễn Hưũ Đạo vào ngành sư phạm. Ba bạn đi tu làm linh mục công giáo : đó là Hoàng Sĩ Quý, Đoàn Phú Xuân và Nguyễn Đức Thiệp. Lớp chúng tôi có một bông hồng độc nhất, đó là chị Đặng Thị Diễm chị ruột cuả Đặng Vũ Huyến. Năm 1954, chị ở lại miền Bắc, chứ không di cư vào Nam như Huyến.

Tôi còn một kỷ niệm đáng nhớ khác với các bạn đồng khoá, đó là vào năm 1960, bạn Phạm Hoài Đức đã cùng với bạn Ngô Đình Thuấn làm “Phù Rể” trong đám cưới của tôi.

Chuyện sôi động nhất trong thời kỳ cuối năm học này là sự thất trận của quân đội Pháp tại Điện Biên Phủ. Nhưng vào tháng 5 năm 1954 đó, cả lớp chúng tôi đang bận rộn việc ôn bài để đi thi bằng Tú tài 2 vào đầu tháng 6, nên vẫn tiếp tục công việc đèn sách của mình. Và may mắn thay, phần đông các bạn trong lớp đều thi đậu trong kỳ thi này. Người đậu thủ khoa Ban Toán là Phạm xuân Yêm với hạng Bình. Và người được giải thưởng danh dự toàn thành Hanoi là Vũ Thanh Khiết. Cả hai bạn Yêm và Khiết này lại ngồi cùng chung bàn học trong lớp với tôi, nên tôi cũng được tiếng thơm lây nữa đấy. Sau buổi lễ phát giải thưởng, Khiết về kể lại với bọn tôi : “Thầy Cư đọc diễn văn, mà “trưng dẫn rặt một thứ chuyện triết học không à”! Thật là một kỷ niệm đẹp, không thể nào mà tôi lại có thể quên được.

Vài tháng sau khi bãi trường, thì các bạn trong lớp 1D lại chia tay nhau, kẻ ở lại miền Bắc như Phạm Quý Tư, Vũ Thanh Khiết, Lương Quang Thạc, Tạ Văn Vĩnh v.v…, mà cho đến nay, sau 56 năm tôi chưa bao giờ có dịp gặp lại. Số đông theo gia đình di cư vào miền Nam, thì chúng tôi thường ở chung với nhau trong Đại học xá Minh Mạng Saigon, hay gặp lại nhau nơi các lớp tại các phân khoa đại học. Năm 2010 này, thì lũ chúng tôi đều đã ở vào cái tuổi “thất thập cổ lai hy” tất cả rồi.

Hai năm trước đây, tôi có kêu gọi một số bạn để cùng chung nhau thực hiện một cuốn “Album” với các hình ảnh để làm kỷ niệm riêng cho lớp 1D Chu Văn An năm 1953-54. Nhân tiện cũng kiểm điểm lại xem “ai còn ai mất”. Nhưng xem ra sự tham gia còn lưa thưa, ít ỏi quá, nên chưa làm sao mà hoàn thành được. Tuổi già lão lẩm cẩm cả mất rồi, anh em đều kém sự hăng say nhiệt thành so với cái thời trai trẻ 50 năm trước vậy đó.

Về phía các Thầy thời ấy, thì đến nay hầu hết đã quy tiên cả rồi. Nhân đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng quý mến và biết ơn đặc biệt vì công lao giáo dục, đào luyện và hướng dẫn rất ư là tận tình cho chúng tôi, từ Thầy Hiệu trưởng Vũ Ngô Xán cũng như từ tất cả các vị Thầy tại trường Chu Văn An Hanoi đã trên nửa thế kỷ trước.

Và theo chỗ tôi được biết, thì hiện chỉ còn có thầy Đào Văn Dương (dậy toán) và Thầy Nguyễn Văn Đỉnh (dậy vạn vật) là hiện còn sinh sống trên nước Mỹ mà thôi. Các Thầy nay đều đã ở vào tuổi “cửu tuần” cả rồi, và lâu lâu vẫn còn tới tham dự các buổi Họp Mặt của các cựu học sinh Bưởi – Chu Văn An ở miền Nam cũng như miền Bắc California. Thật là điều rất quý hóa cho lớp hậu sinh chúng tôi có dịp thể hiện tấm lòng “Tôn Sư Trọng Đạo” đối với các bậc Thầy muôn vàn kính mến của mình vậy.

California, cuối năm Kỷ sửu 2010

Đoàn Thanh Liêm CVA 54

 

 * * *

PHIẾM LUẬN VỀ THI CỬ

                                                                                               

Phi Oanh

Không biết ở Tây Phương, ai đã đẻ ra cái thể lệ thi cử và cái thể lệ này đã được đẻ ra từ bao giờ; nhưng riêng ở nước ta thì có lẽ nó đà được đẻ ra từ thời nhà Lý, đơì Lý Nhân Tông, 1075. Đây là thơì kỳ nước ta được tự chủ khá lâu dài, lại do mấy vì vua anh minh và nhân từ như Lý thánh Tông, Lý nhân Tông trị vì nên đã có một nền hành chánh tốt đẹp ; do đó thể lệ thi cử đã được đặt ra để tuyển chọn nhân tài ra giúp nước. Phải công nhận rằng đây là một sáng kiến rất độc đáo, vì nếu không có thi cử thì làm sao vua quan biết được ai tài giỏi mà mời ra giúp nước ? Đành rằng có thể dùng phương thức tiến cử như trước, nhưng cách thức này làm sao tránh khỏi cảnh thiên vị, nạn bè phái.

Theo các cụ kể lại và sách vở cũng còn ghi thì thời xưa cứ bốn năm nhà vua mới mở khoa thi một lần, đó là chưa kể có khi còn phải đình hoãn vì loạn lạc hay thiên tai. Mỗi lần như vậy phải thi ba kỳ liên tiếp : thi Hương, thi Hội và thi Đình. Dĩ nhiên có đậu được kỳ thi Hương mới được dự kỳ thi Hội và có đậu được kỳ thi Hội mới được dự kỳ thi Đình. Kỳ nọ cách kỳ kia có khi cả năm trời. Do đó, trượt một kỳ là phả chờ đợi có khi năm sáu năm trời mới được thi lại. Không những thế khi làm bài thi còn phải nhớ tránh cả trăm điều cấm kỵ. Bài thi dù có văn hay chữ tốt tới đâu, tư tưởng dù có phong phú tới đâu mà sơ ý chỉ cần có một chữ phạm húy nhà vua là kể như tiêu tùng. Cũng vì vậy mà chẳng ai lấy làm ngạc nhiên khi thấy một người văn chương lỗi lạc như Cao Bá Quát cũng đành chịu thua.

Theo giáo sư Hà Mai Phương thì thi Hương và thi Hội, mỗi kỳ lại được chia ra làm bốn trường. Người thi đậu được cả bốn trường trong kỳ thi Hương mới đậu Cử Nhân; còn nếu chỉ đậu được ba kỳ thì chỉ được gọi là Tú Tài mà thôi; còn nếu chỉ đậu được một hai trường thì kể như tiêu tùng. Thi Hội cũng vậy, phải đậu cả bốn trường mới là Tiến Sĩ; còn nếu chỉ đậu được có ba trường thì chỉ là người Trúng Cách để được vào tham dự kỳ thi Đình tức kỳ thi trường thứ tư của kỳ thi Hội mà thôi.

Cũng theo giáo sư Hà Mai Phương thì sở dĩ kỳ thi trường cuối cùng của kỳ thi Hội được gọi là thi Đình vì kỳ thi này thường được tổ chức tại sân điện nhà vua và thường do nhà vua chủ tọa nên gọi là thi Đình. Với cách thi cử như vậy, chỉ cần thi rớt vài kỳ là hết cuộc đời; chẳng thế mà một ngươì có tưởng trào phúng, có đầu óc hài hước như Tú Xương cũng phải la lên rằng :

Ngày mai tớ hỏng tớ đi ngay,

Giỗ Tết từ nay nhớ lấy ngày.

Sau này ngươì Pháp sang đô hộ nước ta, sau khi đã hoàn tất nền hành chánh để cai trị trên toàn cõi nước ta, họ đã bãi bỏ thể lệ thi cử trên vào năm 1919 và thay thế bằng chế độ thi cử của người Pháp . Họ không cho dùng chữ Hán nữa mà bắt dùng chữ Pháp và chữ Quốc Ngữ ( chữ Việt ). Người Pháp còn đặt ra nhiều kỳ thi hơn trước : nào Sơ Học Yếu Lược ( sau khi học xong lớp Ba bậc tiểu học ) , nào Tiểu Học ( sau khi học xong lớp Nhất bậc tiểu học ) , nào Thành Chung tức Trung Học Phổ Thông, nào Tú Tài I, nào Tú Tài II, nào Cao Đẳng, nào Cử Nhân v.v...Cứ mỗi năm tổ chức một lần. Sau này khi nước ta giành lại được độc lập, thể lệ thi cử tuy có cải thiện được đôi chút ( bỏ bằng Sơ Học Yếu Lược rồi bằng Tiểu Học ) nhưng vẫn còn rườm rà từ chương và nhất là vẫn còn tính cách hạn chế. Đỗ kim Bảng, một học sinh thời đó, tác giả bài Ngày thi đã phải la lên :

Thi ơi là thi !

Sinh mi làm chi !  

Hoặc có cậu thi trượt đã than rằng :

Thi không ăn ớt, thế mà cay!

Thi cử không những khó khăn và khổ cực về tinh thần như vậy, mà cả về thể xác cũng gian nan vất vả. Thực vậy, ngày xưa phương tiện giao thông đâu có được như ngày nay, sĩ tử ( thí sinh ) phải đi bộ, đi đò, dòng dã cả ngày, cả tuần có khi cả tháng mới tới được trường thi.Khi đi thì lại phải mang theo không những giấy mực bút nghiên mà còn phải đem theo cả quần áo, đồ ăn, thức uống, nồi niêu, soong chảo v.v...

Trường thi thì cũng không phải là những tòa building hay những căn nhà lầu rông rãi với những bàn ghế đày đủ tiện nghi như bây giờ, mà chỉ là những bãi trống hay những sân đình, sân miếu; do đó sĩ tử còn phải mang theo cả lều để che mưa che nắng và trõng để ngồi, để viết. Ấy vậy mà không hiểu tại sao thiên hạ vẫn cứ ùn ùn rủ nhau đi thi tấp nập.

Không biết câu “Phi Cao Đẳng bất thành Phu Phụ” xuất phát từ đâu mà chị em bạn gái chúng ta cứ bị đổ diệt là thủ phạm. Thử hỏi, thời các cụ ta, cụ nào mà chẳng lấy vợ từ trước khi đi thi ? Có cụ còn lấy vợ trước cả khi đi học nghiã là khi còn thò lò mũi xanh nữa là khác. Vả lại đối với các cụ ta ngày xưa thì công danh mới là quan trọng, còn vợ con chỉ là thứ yếu chứ đâu như mấy anh chàng Tây học sau này, đầu óc đày tính toán. Chính cụ Nguyễn Công Trứ đã nói :

Có công danh nên đứng trong trời đất,

Không công danh thà nát với cỏ cây.

hoặc :

Đã mang tiếng ở trong trời đất,

Phải có danh gì với núi sông,

Vậy thì sao lại dám nói là tại chị em bạn gái chúng ta ra điều kiện như vậy ? Có người cho rằng câu này phát ra vào thời Tây học. Điều này cũng không đúng hẳn. Chính một số các cậu có bằng cấp cao chỉ ngấm nghé các cô con gái nhà giầu nên mới có một vài cô, hay nói cho đúng hơn, một vài bà mẹ lên mặt đòi hỏi như vậy. Thực vậy, vào thời này tức khoảng thập niên 20, 30, 40, con gái đâu có mấy cô được đi học qúa bậc Tiểu Học ? Mà dù có được phép đi nữa thì sự giao tiếp với bên ngoài cũng rất hạn chế. Suốt ngày các cô chỉ quanh quẩn trong nhà giúp mẹ lo việc bếp nước hay may vá thêu thùa, vì thế có chàng nào con nhà tử tế, có chút danh phận tới hỏi là ưng liền, đâu dám chê bai, kênh kiệu. Nhiều cô tới ngày cưới còn chưa biết mặt người chồng tương lai của mình ra sao nữa là khác.  

Vào những thập niên 50, 60 sau này, câu “Phi Cao Đẳng bất thành Phu Phụ” cũng không phải phát ra từ cửa miệng của chị em bạn gái chúng ta mà lại chính từ trong đàu óc tính toán của những anh chàng có bằng Luật Sư, Bác Sĩ, Kỹ Sư. v.v...

Thực vậy, vào thời này, số người có bằng Luật Sư, Bác Sĩ, Kỹ Sư, không còn hiếm hoi như trước mà số con nhà giầu vẫn chẳng gia tăng là bao; Hơn nữa lấy con gái nhà giầu nhiều khi cũng chẳng sơ múi gì mà lại mang tiếng là đào mỏ. Do đó họ thích để ý tới những cô có bằng cấp Đại Học. Phải nói rằng đây là thời kỳ khổ sở nhất của chị em bạn gái chúng ta, vì hầu hết các chị em bạn gái chúng ta đều là con nhà công chức thanh bạch, tiền chi tiêu trong gia đình nhiều khi còn không đủ, cha mẹ lấy đâu tiền để tậu nhà, tậu xe cho con gái làm của hồi môn ?

Các cụ ta lại vốn có đầu óc thủ cựu, trọng nam khinh nữ, con trai thi trượt thì không sao, con gái thi trượt là diếc móc đủ điều. Các cụ bắt lấy chồng, hoặc phải đi kiếm việc làm để phụ giúp gia đình. Lấy chồng thì chắc cũng không thể có chồng khá được, mà đi kiếm việc làn thì cũng vậy, khá lắm là thư ký văn phòng.

Chính vì thế mà chị em chúng ta chỉ còn cách là học, học và học. Nhiều chị em bạn gái chúng ta đã phải học đến phát điên , phát khùng. Có chị thi trượt Tú Tài, buồn không chịu nổi đã mua thuốc chuột, dấm thanh về uống để tìm cái chết. Có chị khi đi nghe kết quả kỳ thi Tú Tài đã ngất sỉu vì không thấy tên mình. Không buồn sao được khi mà mộng vào Đại Học đã không thành thì dĩ nhiên bao mộng đẹp khác cũng tan thành mây khói.

Đã có biết bao nhiêu cô gái nhan sắc cũng chẳng kém ai, có khi còn hơn cả các mệnh phụ phu nhân nữa là khác, nhưng chỉ vì nghèo, chỉ vì ''phi Cao Đẳng'' nên đã bị phụ tình, hoặc phải chịu số phận hẩm hiu.

Một số người không mang nợ đèn sách nên không biết; họ thường nghĩ rằng chỉ có nam nhi mới phải khổ sở, điêu đứng vì thi cử vì vào những thập niên 50, 60, giấy gọi quân dịch luôn luôn chờ đợi họ, chỉ cần thi trượt một hai keo Tú Tài là coi như tàn cuộc đời; không Quang Trung thì cũng Đồng Đế, khá lắm là Thủ Đức. Điều này không phải là không đúng, nhưng số phận của chị em ta như đã nói trên cũng đâu có khá hơn gì, chỉ cấn trượt vài ba kỳ là cái gìa nó sồng sộc tới ngay. Tới lúc đó có muốn lấy chổng cũng khó. Không biết anh chàng thi sĩ quái ác nào đã làm hai câu thơ dưới đây khiến nó ám ảnh suốt đời con gái chúng ta vì :

Trai ba mươi tuổi đang soan,

Gái ba mươi tuổi đã toan về gìa.

Bởi vậy, nếu có chị em nào thi trượt mà lại may mắn có được cậu Cử, cậu Kỹ ( Kỹ Sư ) nào ngù ngờ tới hỏi thì thật không khác gì trúng số độc đắc, mặt cứ vác lên tận trời. Còn thì tuy không phải vào Quang Trung, Đồng Đế hay Thủ Đức, Đà Lạt, nhưng cuộc đời cũng không khá hơn mấy chàng thi trượt là bao.

Kể ra thi trượt tuy là một cái tai họa lớn của đời học sinh thật; nhưng nếu không có thi cử thì cuộc đời học sinh cũng trở thành vô nghiã và thiếu thi vị. Vì có thi thì phải có kẻ đậu, người trượt, kẻ vui, người buồn. Chính vì những sự vui buồn này mà cuộc đời học sinh đã trở thành có ý nghiã và thi vị hơn. Làm học sinh mà không biết mùi vị thi cử thế nào; nhất là không biết mùi vị thi trượt thì cũng chẳng khác gì mấy cô gái không biết mùi vị yêu đương, mùi vị thất tình.

Ngày nay, nhất là ở xứ cờ hoa này, học sinh, nhất là học sinh Trung Học, hầu như chẳng biết thi cử là gì, chỉ chấm chấm với khoanh khoanh hoặc Yes với No, True với False cũng vào Đại Học, nhưng yêu đương thì lại hết sẩy. Nhiều cô không những biết yêu từ thuở 13, mà còn biết cả làm tình, khiến nhiều bậc làm cha mẹ cũng phải điên đầu.

  

  * * *      

NĂM MẸO XIN ĐỪNG CỨ MÃI

LÀ CON MÈO CỦA TRẠNG

Phiếm luận, 

Đoàn Văn Khanh, CVA59

Theo như cái thứ tự trong chi bộ 12 con giáp được các cụ con Trời thành lập ở bên Tàu thì sau con Cọp là con Thỏ, nhưng không hiểu sao khi các cụ ta rập theo khuôn mẫu đó để thành lập một chi bộ riêng cho xứ mình thì không thấy thỏ đâu cả, phải chăng vì loài thỏ ở xứ ta bị chồn cáo ăn thịt gần hết, chỉ còn lại đám “nhát như thỏ đế” không dám chường mặt ra, thành thử các cụ ta đành phải rà soát lại đám gia súc của mình, và khi thấy mèo chưa được cất nhắc, bèn vớ ngay lấy ả mèo nhà thế vào, làm cho các ông thầy bói xứ ta từ đó mới gieo quẻ như sau:

Tuổi Mẹo là con mèo ngao

Ăn cấu ăn cào ăn vụng thành tinh.

Cái chuyện tại sao mấy ông thầy bói không gọi là mèo nhà mà lại gọi là mèo ngao thì thật tình tôi không biết. Tôi chỉ biết là mèo - hay có khi còn gọi bằng tên chữ là “miêu”, hoặc nôm na mách qué là “mỉu” - thường quanh quẩn trong nhà, nhưng thật ra thì tổ phụ của mèo xưa kia cũng là dân ở rừng, cùng một họ với cọp, beo, sư tử… và căn cứ theo như bộ gia phả truyền khẩu còn lưu lại thì “con mèo là dì con cọp” cho nên nhìn chung về hình dạng và đặc tính, mèo vẫn có nhiều nét giống cọp và beo, nhưng vì cái tội quá nhỏ con cho nên chỉ uy hiếp được mấy con vật cỡ như chuột, rắn mối, thằn lằn v.v… chứ đối với những loài thú dữ to con hơn, và riêng đối với “thằng cháu cọp”, thì vẫn phải nể sợ một phép. Còn cái cơ duyên xui khiến cho mèo được người rước về sống chung dưới một mái nhà với mình, rồi đẻ ra cái chi phái “mèo nhà” tách rời với những chi phái mèo rừng vẫn sống đời hoang dã thì lại do chuột mà ra.

Số là từ khi con người bắt đầu biết cất nhà để ở thì loài chuột không biết từ đâu bỗng dưng không ai mời cũng tự động bồng bế kéo nhau về sống chung, lại còn thi nhau đào hang khoét vách ăn phá gặm nhắm tan hoang của người, mà người thì đành bó tay, do đó khi người vừa khám phá ra mèo rất giỏi săn bắt chuột thì liền rước ngay về để trị chuột giúp mình. Thế là cái cộng đồng súc vật lâu nay sống chung hòa bình với người nhờ thế mà càng thêm đa dạng, tuy nhiên về vấn đề ăn ở thì bọn trâu bò ngựa dê gà heo quá đông, lại quen sinh hoạt một cách “thiếu văn hóa”, cho nên chủ buộc lòng phải cất chuồng cho ở riêng trong vườn, chỉ có chó là hàng thân tín nên mới được phép chung một mái nhà với chủ, bây giờ có thêm ả mèo nữa thì cái đáng lo là lo “ăn hết nhiều chứ ở hết bao nhiêu”, cho nên chủ bèn cho ở chung luôn cho tiện.

Sở dĩ người sắp đặt như thế là vì thấy mèo nhỏ con, không có khả năng như cọp để bắt người làm mồi cho mình xực (theo đúng nghĩa đen, còn nghĩa bóng thì không kể), nên thường tỏ ra rất nhu mì, lại hay lân la quấn quýt bên người để được người vuốt ve chiều chuộng, chỉ khi nào bị chọc giận thì mới giương móng vuốt ra mà quào cấu cho hả cơn bực tức thế thôi. Đây có lẽ cũng là cái điểm mà sau này người học được của mèo cho nên các cụ ta mới hay dùng tiếng “mèo” để chỉ người yêu hay người tình của mình, còn cụ nào đã có “sư tử” rồi mà còn đèo bòng “có mèo”, thì cái việc rước “mèo hai chân” này về nhà là cả một vấn đề nhiêu khê phức tạp, chứ không đơn giản như đối với mèo bốn chân, vì trường hợp mèo bốn chân thì chủ chỉ cần ghép luôn cái bộ ba chó mèo chuột thành một “tổ tự quản”, cho sinh hoạt theo quy chế dành riêng cho loài vật trong khi chung sống dưới một mái nhà với mình là xong.

Kể ra cách giải quyết vấn đề một cách nhanh và gọn như thế xem ra vẫn có vẻ rất “lô-gích”, nhưng khi nhìn lại mới thấy là thiếu thực tế, vì bao năm qua chỉ có chó “đồng cam cộng khổ”, lại tận tụy trung thành với chủ mà công lao thì vẫn chưa được đền đáp xứng đáng, nay thấy chủ bỗng nhiên đem mèo về sống chung mà không thèm “đả thông tư tưởng” với mình trước, lại còn đem chút tình thương vốn đã keo kiệt ra san sẻ hết cho mèo thì sinh lòng ganh ghét, cho nên hễ gặp mèo đâu là sừng sộ đó. Còn mèo cho dù chân ướt chân ráo mới về đi nữa, nhưng vẫn tự hào mình thuộc giòng họ chúa tể sơn lâm chứ đâu phải loại hèn, cho nên cũng vểnh tai trừng mắt gườm gườm, miệng thì gào lên như thể muốn xơi tái luôn cả chó, làm cho người khi chứng kiến cảnh này cũng phải bấm bụng mà than trời bằng câu: “gấu ó như chó với mèo”.

Nhưng không phải chỉ mèo với chó mới có chuyện hiềm khích mà nhà chủ nào lắm gạo nhiều cơm, ngô khoai đầy bồ, làm cho lũ chuột ăn nhiều nên sinh sản nhanh và ngày càng thêm đông, đến nỗi chủ phải rước dăm bảy mèo về sống chung mới đủ lực lượng để tảo thanh chuột, thì ngay giữa đám mèo với mèo cũng không mấy khi thuận thảo với nhau được, chỉ vì mèo nào cũng ganh tỵ, cho nên mới xảy ra những cảnh gầm gừ nhau, khiến cho bầu không khí sinh hoạt trong nhà lúc nào cũng có vẻ phập phồng vì “chưa biết mèo nào cắn mỉu nào”.

Thật tình mà nói thì dù sao cái cộng đồng bé nhỏ lâu nay cũng chỉ mới nghe có tiếng chuột chút chít ban đêm, tiếng gà gáy sáng, tiếng lợn ủn ỉn đòi ăn, tiếng con trâu nghé ngọ về chuồng, tiếng chó sủa cầm canh, cho nên cuộc đời nghe ra vẫn bình thản trôi êm, nhưng kể từ ngày có mèo về thì cuộc đời mới thực sự bắt đầu có nhiều lúc sôi động, vì lâu lâu bất chợt lại nghe có thêm tiếng gấu ó giữa mèo với chó, tiếng gầm gừ nhau giữa mèo với mèo, và trội lên vang vang át cả tiếng của chó và mèo là tiếng của người “mắng chó chửi mèo”, làm cho cái cộng đồng bé nhỏ cứ ầm cả lên, tạo điều kiện cho đời có cơ hội “thêm mắm dặm muối” để cho mình mua vui.

Cái lý do tại sao mèo nhỏ nhắn thế mà dám kên lại chó cũng không có gì khó hiểu, vì chó lúc nào cũng cần bám vào mặt bằng để “xuống tấn”, và môn “cầu quyền” của chó lại vỏn vẹn có hai chiêu “sủa và cắn” thì nhằm nhò gì với mèo, trong khi theo như tục truyền thì mèo đã từng là thầy dạy võ cho cọp. Tuy nhiên vì tính cọp hung dữ cho nên khi truyền nghề cho cọp, mèo vẫn giữ lại cái bí kíp leo trèo cho riêng mình để phòng thân, nhờ thế mà sau này khi cọp đã lên ngôi chúa tể sơn lâm có muốn hại mèo cũng không được, vì khi gặp nguy mèo chỉ việc thót lên cây là yên chí tai qua nạn khỏi ngay. Đây cũng là một điều may cho người vì nếu cọp cũng được mèo dạy cho biết leo trèo thì e rằng loài người đã tuyệt chủng từ lâu. Có điều là sau này loài người chỉ thấy cọp mới hay diệu võ giương oai, cho nên khi nói tới môn võ này thì người ta thường gọi là “hổ quyền” chứ không ai biết nguồn gốc của nó vốn xuất phát từ “miêu quyền”, họa chăng có nhắc tới mèo thì chỉ nói về cái tài leo trèo của mèo thôi như trong bài ca dao:

Con mèo trèo lên cây cau,

Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà.

Chú chuột đi chợ đường xa,

Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo.

Cái chuyện mèo leo cau tìm chuột thì cũng không có gì đáng nói, nhưng còn cái việc giỗ cha con mèo thì có dính dáng gì tới chuột đâu mà chuột phải lặn lội đường xa đi chợ mua mắm mua muối về cúng? Điều này hoàn toàn không phải do tình nghĩa mà phải nói đây chính là một lời than cay đắng của loài chuột, vì cả mèo và chuột hình như lúc nào cũng bị một mối hận ngàn đời nào đó ám ảnh cho nên mèo mà gặp chuột là không bao giờ tha, còn chuột mà thoáng nghe hơi mèo là toàn thân bủn rủn, và nếu không nhanh chân chạy trốn kịp thì chỉ còn cách đấm ngực than “trời sinh ra chuột sao lại còn sinh mèo” rồi nằm chết trân chờ nộp mạng. Không những thế, mèo còn ác đến độ mỗi khi vồ được chuột thì lại chưa chịu ăn tươi nuốt sống ngay, mà lại còn vờn tới vờn lui cho đến khi chuột không còn lết nổi mới bắt đầu cắn xé từng tí một, làm cho người yếu bóng vía trông thấy cảnh “vờn như mèo vờn chuột” này cũng phải sợ khiếp vía theo.

Do cung cách ăn uống của mèo rất khoan thai từ tốn chứ không vồ vập ào ào như cọp cho nên mấy người thích nói chữ mới hay ví von “nam thực như hổ, nữ thực như miêu”. Nhưng mèo lại có biệt tài ăn vụng nổi danh, cho nên khi nói đến mấy bà mấy cô “ăn như mèo hửi” hoặc “khảnh ăn như mèo” phải chăng cũng chỉ là một cách nói khéo để người khác tưởng lầm là các bà “ăn ít lắm”, nhưng hễ mà nhìn kỹ lại thì thấy hầu như bà nào bà nấy cũng càng ngày càng “tròn trịa phúc hậu” ra, trong khi đám mày râu mang tiếng “thực như hổ” lại không thiếu gì kẻ luôn cảm thấy “xấu hổ” mỗi khi phải sánh vai các bà chỉ vì cái vóc dáng cà tong cà teo của mình.

Vào cái thủa còn sống lang thang giữa núi rừng thì mèo có lẽ chỉ thích ăn thịt sống như cọp. Tuy nhiên kể từ lúc về với người rồi được người dạy cho biết ăn cơm, nhai xương cá, thì mèo nhiều khi cũng quên luôn cái món thịt chuột truyền thống mà đâm ra mê những món ăn đã được chế biến dành cho người, nhưng khoái nhất có lẽ là món mỡ thì phải, cho nên các cụ ta mới có câu ví “như mèo thấy mỡ”. Chính vì lẽ đó mà nhà ai có lỡ để mỡ trong nhà thì cũng xin đừng hớ hênh rồi trách mèo, vì “mỡ treo miệng mèo” thì làm sao mèo nhịn thèm được. Còn như “mèo mà chê mỡ” thì chỉ là đồ vứt đi, hết xài được rồi. Riêng cái tật ăn vụng thành tinh của mèo như mấy ông thầy bói đã lên án thì chắc chắn không phải do bẩm sinh, mà chỉ là một sự “phát huy sáng kiến” chung của mèo và chó từ khi về chung sống với người.

Sở dĩ gọi là sáng kiến chung vì chó cũng như mèo một khi đã mang thân về quy thuận và dốc lòng phò tá cho người rồi thì không còn màng đến chuyện tự lập nữa, cho nên lỡ mà số trời sắp đặt cho đầu quân nhằm gia chủ thuộc hạng “của khó người khôn” (kiểu người còn chưa có ăn thì đào đâu ra cho mèo cho chó), nên áp dụng triệt để chủ trương “chó treo, mèo đậy”, khiến cho chó với mèo mới nảy sinh ra cái thói “đói ăn vụng, túng làm càn”. Có điều mèo thường quanh quẩn xó bếp để lục lạo đáy niêu gầm chạn cho nên còn có lúc “mèo mù vớ cá rán” rồi tha đi ngon ơ tìm chỗ thanh vắng nằm ăn một mình, trong khi chó hay lùng sục ngoài sân trước ngõ, thì dễ mấy khi tìm thấy đồ ăn để cho mình được “lấm lét như chó ăn vụng bột”. Không những thế, chó lại còn ngờ nghệch đến độ hễ nghe chủ lục lạo nồi niêu thì lại xun xoe chạy đến ve vẫy đuôi mong chờ ơn trên bố thí. Bữa nào chủ được ăn thịt thì chó cũng còn có mẩu xương để gặm, nhưng bữa nào không may chỉ có cái đầu cá kho chủ còn để dành mà lại bị mèo hay chuột gì đó cuỗm tha đi mất tiêu rồi khiến cho chủ nổi cơn lôi đình, trong khi chó lại cứ lảng vảng bên cạnh thì tránh sao cho khỏi ăn vài cú đá của chủ. Họa hoằn có lần nào chủ khám phá ra thủ phạm không phải là chó thì bất quá cũng chỉ được chủ chép miệng thương hại ban cho một câu: “mèo già ăn vụng, chó vá phải đòn” để gọi là cũng có chút an ủi cho cái ngu quá cỡ này là cùng.

Tuy thích thịt nhưng thỉnh thoảng người ta cũng thấy mèo đi tìm cây cỏ để gặm. Điều này không có nghĩa là mèo nhờ sống gần đám trâu bò trong nhà quen ăn chay trường nên cũng học đòi ăn chay để sám hối tội lỗi, mà chỉ vì mèo có tật hay liếm lông làm cho những sợi lông rụng dính vào lưỡi mà không thể nhả ra nên cứ phải nuốt vào rồi tích tụ trong dạ dày lâu ngày không tiêu hoá được, làm cho mèo bị đau bụng, phải tìm cây cỏ ăn vào để xổ mớ lông ra. Vì vậy chủ nào hay nhốt mèo ở trong nhà, đôi khi có thấy cây kiểng trong nhà cũng bị mèo cắn nát thì đừng đánh đập mèo về cái tội phá hoại mà oan cho mèo, vì mèo chỉ chủ tâm tìm thuốc để chữa bệnh thôi.

Nếu chó hay dùng đuôi ve vẫy để bộc lộ tình cảm với người thì mèo hình như chỉ biết làm dáng với cái đuôi của mình cho nên mới có chuyện “mèo khen mèo dài đuôi”. Mà đuôi mèo dài thật. Tuy nhiên, mèo chỉ hay đi rình chuột ban đêm còn ban ngày mèo lại thích ngủ, do đó mỗi khi thấy mèo ăn no rồi hay tìm chỗ ấm áp nằm lim dim, buông thõng cái đuôi dài lê thê ra đàng sau một cách vô tư thì cũng xin đừng tưởng mèo ngủ say mà đụng vào vì tai của mèo rất thính. Có điều vành tai của mèo trông cứng nhưng lại mỏng và nhạy cảm cho nên lúc nào muốn hỏi tội mèo người ta vẫn hay nắm tai mèo mà xách chứ không ai dại gì nắm đuôi mèo mà kéo để rồi bị mèo phản ứng quay mình lại quào cho rướm máu liền.

Móng của mèo rất nhọn và sắc nhưng chỉ giương ra khi quào cấu hay cần bám vào vật nào đó để leo trèo, chứ lúc bình thường thì lại co rụt vào dấu dưới lớp da của bàn chân, cho nên đừng thấy bàn chân của mèo mềm mại rồi tưởng lúc nào cũng êm như nhung mà lầm. Mèo lại có thói quen hay chuốt móng chân cho thêm sắc bằng cách quào cấu vật này vật nọ, và khi mèo cần mài giũa móng mà không có gì để quào cấu thì coi chừng mùng mền chiếu gối của chủ cũng sẽ rách bươm luôn. Ngoài ra, vì tứ chi của mèo đều là chân cho nên mèo chỉ có thể có “hoa chân” chứ không tài nào có “hoa tay”, do đó những vết quào của mèo trông ra cũng thiếu thẩm mỹ không khác gì những nét chữ nguệch ngoạc của mấy anh học trò lười, vừa dở văn, vừa vụng bút, cho nên mấy ông thầy giáo mới hay dùng câu “gà bươi, mèo quào” để ví von và răn đe mấy anh học trò này.

Mèo cũng có râu làm cho mặt mèo đôi lúc trông cũng có vẻ bớt hiền dịu đi. Tuy vậy, mèo lại có được đôi mắt tròn và trong đến nỗi người ta đã dùng để đặt tên cho một loại ngọc có màu xanh là “ngọc mắt mèo”. Không những thế, mắt mèo lại có khả năng nhìn rõ trong đêm tối, cũng như có khả năng phản chiếu ánh sáng cho nên đang đêm mà chủ nhà có bất chợt nghe tiếng động nên thức dậy đi rình mò bắt trộm nhưng không thấy trộm đâu, trái lại chỉ thấy ánh mắt của mèo - cũng đang đi tìm đồ để ăn vụng - loé lên trong bóng tối thì đâm hoảng, cứ ngỡ như là mình nhìn thấy yêu tinh. Có lẽ cũng vì thế mà mấy ông thầy bói mới bảo mèo là thứ “ăn vụng thành tinh”. Một lẽ nữa khiến cho các cụ xưa cho mèo là tinh vì các cụ tin rằng nếu trong nhà có người chết chưa được tẩm liệm mà không lo bắt mèo nhốt lại hoặc cắt người canh xác để lỡ có con mèo nào - nhất là mèo mun - vô tình nhảy qua là cũng đủ làm cho xác chết phải bật dậy theo.

Mèo cũng rất hay săn sóc bộ lông của mình, nhưng chỉ bằng cách le lưỡi liếm thôi chứ không bao giờ dám tắm vì mèo rất sợ nước. Mèo mà lỡ té ao hay mắc mưa khiến cho bị ướt sũng thì trông cũng co ro cúm rúm thật thảm hại không khác gì con chuột lột, cho nên người ta cũng hay ví mấy người nhút nhát chẳng bao giờ dám làm một thứ gì cho ra hồn là thứ ‘mèo ướt”, “mèo mắc mưa”. Lạ một điều là cọp còn dám vọc nước, thế mà vẫn cứ hôi, ngược lại mèo chỉ tắm khô thôi nhưng lúc nào cũng có vẻ sạch sẽ, có điều là những gì mà mèo phế thải ra thì nồng nặc mùi khỏi chê đến nỗi người ta vẫn hay ví “chua như nước đái mèo”. Còn cứt mèo thì có lẽ chính mèo cũng còn sợ đạp phải nên mỗi lần muốn trút cái của nợ chất chứa trong lòng, mèo đều tìm chỗ kín đáo đào lỗ chôn, cho nên người ta mới bảo: “giấu như mèo giấu cứt”.

Mèo thường hay kêu “meo meo” cho nên mấy cụ có tí máu dê trong người hễ mà nhậu say ngà ngà rồi bày trò “đố vui để chọc”, thế nào cũng có màn xách tai mèo lôi vào cho mèo bị đau kêu lên “meo méo” để các cụ dùng đó làm lời giải đáp cho cái câu đố về một vật trời sinh ra “vốn sẵn là méo chứ không tròn”, rồi cùng nhau cười hỉ hả. Trái lại mấy bác thuộc diện quanh năm chật vật với miếng cơm manh áo thì lại cho rằng tiếng mèo kêu nghe cứ như “ngheo ngheo” rồi liên tưởng đến cái phận nghèo của mình mà tủi thân, cho nên chỉ thích nghe tiếng chó sủa “gâu gâu” để còn diễn ra cái ý “giàu” mà hy vọng. Đó cũng là cái lý do khiến cho các cụ xưa thường tin rằng “mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang”, có điều khi buồn tình thì các cụ lại thích lôi chó ra mà làm rựa mận để đánh chén với nhau chứ không có cụ nào dám bắt mèo ra làm món ra-gu, có lẽ vì sợ mèo bị chết oan như thế sẽ thành tinh quay trở lại ăn thịt các cụ chăng? Họa hoằn mới có một vài tay bợm nhậu cỡ “coi trời bằng vung” mới cả gan bắt mèo làm thịt để giải quyết cho cái nhu cầu túng mồi của mình.

Cũng vì tin rằng mèo hay mang lại xúi quẩy cho nên các cụ bảo đầu năm mà thấy mèo thì cũng không khác gì xuất hành “ra ngõ gặp gái”, tức là cả năm coi như không tài nào khấm khá nổi. Tuy thế, vẫn có nhiều cụ thích lân la làm bạn với “bác thằng bần” thì lại hay bảo nhau là ai mà kiếm được cái nhau mèo đẻ làm bùa lận lưng rồi thì tha hồ yên chí mà “xóc, xoa, xoè, binh, tố…” để được thấy “tiền bạc vô như nước”, vì nhau mèo đem lại sự may mắn. Không biết điều này có đúng không, nhưng mèo vốn nổi tiếng cứt còn biết giấu thì dễ gì có cái nhau của mình đẻ ra lại để rơi rớt cho các cụ lượm, cho nên nếu có cụ nào khoe mình có lận nhau mèo trong lưng thì e rằng đó cũng chỉ là nhau mèo dởm thôi, vì xưa nay chưa từng thấy có cụ nào ghé chơi nhà “bác thằng bần” rồi trở về làm nên sự nghiệp cả, mà chỉ thấy các cụ lần lượt rủ nhau đem sự nghiệp cúng hết cho mấy tay xì thẩu, rồi mình thì tự nguyện gia nhập “làng bị gậy”.

Sở dĩ làng này có cái tên “bị gậy” là vì ngày xưa dân làng này mỗi khi đi hành nghề đều phải trang bị tối thiểu cho mình một cái bị và một cây gậy. Bị là cái bắt buộc phải có để đựng của ăn xin được, còn gậy thì trước nhất là để chống đi cho đỡ mỏi, sau nữa là còn để phòng hờ đáp lễ mấy con chó, vì hễ chó mà thoáng thấy bất cứ cụ nào thuộc “dân bị gậy” lò dò đến là thế nào cũng đem món võ gia truyền ra thị oai, nên buộc lòng các cụ phải vừa dùng gậy “huơ loạn xà ngầu”, vừa từ từ từng bước “thụt lui trong vòng trật tự” nếu không muốn bị chó ngoạm vào chân. Chó chỉ trung với chủ thôi chứ với người lạ và nhất là với mấy cụ thuộc “hàng bị gậy” thì chó không bao giờ niềm nở. Đó cũng là cái lý do khiến cho chó phải chịu cảnh người thương thì ít mà kẻ ghét thì nhiều, cho nên chó mới hay gặp cái nạn bị mấy bác bợm ghiền rựa mận rình rập đánh bã hay bắt cóc đem về bỏ vào nồi đun lên cho bõ ghét. Chỉ có mèo mới biết chủ trương “dĩ hòa vi quý” đối với mọi người, cho nên gặp chủ cưng cũng “hẩu lớ”, mà có ai lạ vuốt ve cũng “ô kê”, còn kẻ đi qua người đi lại thì mèo chỉ nhìn bằng đôi mắt bàng quan nên dễ sống.

Cũng vì trong cái tổ tự quản theo quy chế súc vật sống chung dưới một mái nhà với chủ chỉ có chó và mèo mới được chủ ban cho chức phận, cho nên nếu lỡ như có một biến cố nào đó xảy ra khiến cho lạc mất chủ, hoặc cái mái ấm bỗng dưng bị tan tành thì chỉ có mèo và chó mới phải lâm vào cảnh “sẩy nhà ra thất nghiệp” rồi bị đời gọi là mèo hoang, chó hoang, riêng chuột trước sau gì cũng chỉ là dân ở chui cho nên không hề lo, mà ngay cả khi có “cháy nhà lòi mặt chuột” đi nữa thì chuột vẫn có thể bồng bế nhau “di tản” qua nhà hàng xóm mà tiếp tục sống kiếp chuột nhà chứ không bao giờ bị gọi là chuột hoang cả. Mèo hoang còn có cơ may săn được chuột đồng chuột cống mà ăn chứ chó mà lang thang thì chỉ ăn cứt thôi, vì “chó mà không ăn cứt thì không phải là chó”, các cụ dân “Hà lội” vẫn thường “ní nuận” như thế. Chính vì chó có nhiều cái ngu quá cho nên người đời mới hay ví “ngu như chó”. Còn mèo có thông minh không thì căn cứ vào câu truyện dân gian Trạng Quỳnh ăn cắp mèo sẽ thấy mèo cũng không hơn gì chó bao nhiêu.

Truyện kể rằng vua ta có nuôi một con mèo tam thể rất xinh nên cưng lắm, bữa nào cũng cho mèo ăn toàn cao lương mỹ vị. Trạng Quỳnh thấy thế sinh tức tối bèn lập tâm ăn trộm mèo đem về nhốt ở nhà. Hằng ngày Trạng lại xách mèo đặt trước một chén cơm có thịt cá và một bên là đống cứt. Hễ mèo vừa mon men lại gần chén cơm là Trạng Quỳnh dùng roi đánh đập tới tấp. Sau nhiều lần thấm đòn, mèo đói quá bèn lân la qua đống cứt thì thấy Trạng để yên cho nên mèo đành ăn thử. Tập như vậy một thời gian mèo trở thành quen, cứ mỗi lần thấy chén cơm và đống cứt là mèo tự động chạy đến đống cứt ăn ngay chứ không còn màng đến cơm nữa.

Nhà vua mất mèo tiếc lắm mới cho người đi tìm. Có người mách vua nhà Trạng Quỳnh có một con mèo tam thể rất giống mèo của nhà vua. Thế là vua truyền lệnh cho Trạng Quỳnh phải đem mèo vào cung trình cho vua xem. Trạng Quỳnh ung dung mang mèo vào. Vua thấy con mèo này giống y con mèo của mình bị mất nên đòi Trạng Quỳnh trả mèo lại. Quỳnh tâu rằng con mèo này chính là mèo của Trạng vì nhà Trạng nghèo nên chỉ quen cho mèo ăn cứt thôi. Vua không tin nên ra lệnh cho quân lính bày ra một chén cơm đầy cao lương mỹ vị và một đống cứt để thử. Trạng Quỳnh bèn thả mèo ra thì mèo chạy ngay lại đống cứt ăn liền. Thế là Trạng Quỳnh lại ung dung ôm mèo về, còn nhà vua thì đành chịu mất mèo.

Có thể nói cái sáng kiến đem mèo ra làm thực nghiệm này của Trạng Quỳnh cũng là một công trình còn đi trước công trình đem chó ra làm thí nghiệm của nhà tâm lý học Palov ở bên Nga hàng trăm năm, nhưng có lẽ vì chuyện “mèo nhà khó không bằng chó nhà sang”, nên Trạng ta mới không công bố kết quả ra cho thế giới biết, mà chỉ đúc kết thành cái bí quyết: “Không có chó bắt mèo ăn cứt”, rồi giấu vào trong cái “túi khôn” của mình, sau đó mới truyền miệng cho dân ta biết để áp dụng vào việc giải quyết cái vấn đề “tồn tại” của một dân tộc vốn tự hào có hàng ngàn năm văn hiến nhưng lại không hề biết cái cầu tiêu là gì, vì người lớn thì đã có sẵn cái thú “thứ nhất quận công, thứ nhì ỉa đồng”, còn thằng cu cái hĩm chưa có thể tự mình bò ra đồng để hưởng cái thú vị trên, thì lại cứ tự nhiên bạ đâu phóng bừa ra đấy, do đó, lỡ mà thiếu chó để làm cái công tác dọn dẹp những thứ “tồn tại” ấy thì từ nay đã có thể bắt mèo thay chó thanh toán gọn.

Kể ra cái chuyện nuôi chó nuôi mèo ở trong nhà thì dân xứ nào cũng có, nhưng cái chuyện bắt chó mèo phải ăn cứt thì có lẽ chỉ những dân tộc được Trời phú cho cái tính thích trông vào “cái khó ló cái khôn” để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống như ở xứ ta mới xảy ra thôi. Khổ một nỗi “cái khôn ló ra từ cái khó” này thường chỉ là những cái mánh khoé dạy cho người ta cái cách để có thể thích nghi với hoàn cảnh theo kiểu “khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”, “chịu đấm ăn xôi” v.v… chứ không phải cái khôn của sự hiểu biết dựa trên nền tảng của suy luận khoa học, nên không làm thay đổi được hoàn cảnh, mà chỉ làm cho đời cứ phải đẻ ra các “cụ khôn luẩn quẩn ” để cho các “cụ khôn” có cơ hội lên lớp “khôn cho người ta rái, dại cho người ta thương” rồi cứ nhằm đầu thằng “dại” mà trút hết cái lòng “thương cho roi cho vọt” xuống để cho lòng mình nhẹ nhõm mà “ngồi mát ăn bát vàng”, còn “dại” thì cứ an tâm mà “đói nghèo” từ đời này sang đời khác.

Mãi đến khi các dân tộc bên trời tây nhờ phát triển được khoa học mà trở nên hùng cường rồi rủ nhau đi làm mưa làm gió khắp bốn bể năm châu thì một số dân ta mới bừng tỉnh, nhưng vì đa số thì vẫn không thoát ly khỏi cái não trạng co cụm của mình cho nên hễ nghe “lời thật thì mất lòng”, lại còn hay “cãi chày cãi cối” với nhau toàn những chuyện “ăn ốc nói mò”, khiến cho đất nước bị Tây đô hộ, rồi sau đó lại thêm những cụ “khôn nhà dại chợ” dòng họ “vẹm” bị mấy tay đại ca quốc tế chính hiệu “búa liềm” xúi bẫy mà chia bè kết đảng rồi lôi kéo dân ta đi theo con đường “cắt mạng” chí choé đầy xương máu trong suốt 30 năm để giành dựt “cơm no áo ấm”, bắt đầu từ cái mùa thu khói lửa của “năm con gà chết đói” cho đến một ngày cuối tháng mùa xuân “năm con mèo gặp nạn”, khi các cụ vẹm lùa xong dân cả nước vào chung một chuồng mới thôi. Có điều là đến đây thì cơm no áo ấm đâu chả thấy mà chỉ thấy dân cả nước bị biến thành những “con mèo của Trạng” để cho các cụ vẹm ra tay “thắt lưng buộc bụng” giùm và tập cho “ăn độn”, còn các cụ vẹm thì đang là “vô sản” bỗng một bước nhảy vọt thành “hữu sản” và tha hồ mà “ăn quả cướp được của kẻ trồng cây”, còn đất nước có tan hoang thì đã có dân “ngu thì ráng chịu”.

Ba chu kỳ 12 con giáp đã trôi qua kể từ cái năm con mèo mắc nạn ấy, trên thế giới đã có không biết bao chủ nghĩa cũng như chế độ đi ngược lại trào lưu tự do dân chủ và tôn trọng quyền con người lần lượt bị đào thải, nhưng riêng tại xứ sở của con Rồng cháu Tiên thì các cụ khôn dòng họ vẹm lại càng “thừa thắng xông lên”, xén luôn cả cái “gia tài của mẹ” đem ra bán cho “láng giềng gần”, và không quên xớt luôn những “đồng tiền tình nghĩa” của những “khúc ruột ngàn dặm” đã có lần từng bị các cụ thảy ra biển làm mồi cho cá mập mà không chết lại còn nhờ trôi giạt qua xứ người mà làm ăn ra, rồi vì xót xa cho người ở lại mà cứ phải gửi tiền về giúp đỡ, để cho các cụ vẹm càng có tiền xây thêm “nhà cao cửa rộng” cho mình ở thoải mái mà “ăn sung mặc sướng”, rồi đẻ thêm một đàn “con cháu khôn nối dõi”, hòng sau này kế tục cái sự nghiệp đục đẽo rất “hoành tráng” của các cụ. Còn những người dân mang thân phận con mèo của Trạng thì cứ bị ám ảnh bởi cây roi oan nghiệt lúc nào cũng hờm sẵn trên đầu cho nên cứ phải ngoan ngoãn mà nhận lấy cái lòng “thương lòi xương ra ngoài” để mà thấm thía hơn cái “chân lý không bao giờ thay đổi” của các cụ vẹm: “khôn nhờ dại chịu, sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”.

Không biết rồi đây năm con mèo này, dân ta có chịu mở mắt ra mà nhìn lại mình, nhìn lại người rồi thực sự “đổi mới tư duy” ngõ hầu có thể tìm ra một lối thoát cho dân tộc hay chưa, hay là vẫn cứ luẩn quẩn trong cái vòng “đóng cửa dạy nhau” bằng nhữmg trò “dại khôn, khôn dại”, để cho “khôn” thì vẫn cứ “đè đầu cưỡi cổ” kẻ “dại” mà sống cho riêng mình, còn “dại” thì cứ “nín thở qua sông”, lâu dần rồi cũng quen, cho nên mỗi khi được các cụ khôn nương tay cho thở một tí là cũng cảm thấy như mình đang được hưởng tự do hạnh phúc, do đó nhiều khi không còn dám mơ tưởng đến những chuyện đổi thay, mà có khi lại còn “cầu cho bạo chúa sống lâu”, để cho mình cứ được yên tâm trong cái chuồng của mình.

ĐOÀN VĂN KHANH

http://www.aosauvuon.net/

* * *

Tinh Thần Chu Văn An

Tinh thần do cụ Chu để lại,
Cho người, các thế hệ Viêt Nam.
Khắp nơi, mọi nẻo đường thế giới,
Là tấm gương sáng chói ngàn thu.

                         *
Khi còn đi học, phải siêng năng,
Kính thầy, mến  bạn, thương mẹ cha …
Không bao giờ phí phạm ngày xanh,
Cố nên người phục vụ xã hội.

                         *
Khi ra đời luôn luôn cố gắng,
Việc khó khăn quyết chí hòan thành.
Tìm kiếm niềm vui sau thiên hạ,
Lo lắng, ưu tư trước đồng bào. 

                         *
Tinh thần Chu Văn An sống giản dị, 
Không tham lam, ích kỷ, xa hoa.
Cố rèn luyện “Cần”, “Kiệm”, “Liêm”, “Chính”,
“Nhân”, “Nghĩa” ,“Lễ’’, “Trí”, “Tín” tu than.

                         *
Triết lý Chu Văn An chỉ đạo,
Các công dân ở khắp mọi nơi.
Biết sống cho Quê Hương, Tổ Qưốc,
Và ấm no, hạnh phúc Đồng Bào.

                         *
Tư tưởng Chu Văn An công minh,
“Chém đầu” bầy bán nước, buôn dân.
Cắt Quê Hương dâng bọn Bắc Kinh,
“Tàn ác với dân, hèn với giặc!”.       

Trần Khánh Hồng

 * * *

 

THẰNG KHÙNG

Đỗ Khắc Sưu tầm 

Lời giới thiệu:

Nhà thơ Phùng Quán viết lại bài này theo lời kể của thi sĩ Nguyễn Tuân (trùng tên với nhà văn Nguyễn Tuân – người viết bài tùy bút “Phở”) khi cùng ở trong tù.

“… Anh ta vào trại trước mình khá lâu, bị trừng phạt vì tội gì, mình không rõ. Người thì bảo anh ta phạm tội hình sự, người lại bảo mắc tội chính trị. Nhưng cả hai tội mình đều thấy khó tin. Anh ta không có dáng dấp của kẻ cướp bóc, sát nhân, và cũng không có phong độ của người làm chính trị. Bộ dạng anh ta ngu ngơ, dở dại dở khùng. Mình có cảm giác anh ta là một khúc củi rều, do một trận lũ cuốn từ một xó rừng nào về, trôi ngang qua trại, bị vướng vào hàng rào của trại rồi mắc kẹt luôn ở đó. Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi, có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta gầy choắt, rúm ró, tàn tạ, như một cái bị cói rách, lăn lóc ở các đống rác. Người anh ta cao lòng khòng, tay chân thẳng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ toàn da, gân với xương.

Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay cho quần áo. Lúc đầu mình cứ tưởng anh ta bị câm vì suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ để nhếch mép cười. Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp ai trong trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen… Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính. Hầu như tất cả các trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta. Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc. Ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai tranh được, và cũng không ai muốn tranh. Đó là khâm liệm tù chết. Mỗi lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi "thằng khùng" (tên họ đặt cho anh ta) và giao cho việc khâm liệm. Với bất cứ trại viên chết nào, kể cả những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh ta đều khâm liệm chu đáo giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm rửa cho đứa con nhỏ. Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ mấp máy nói cái gì đó không ai nghe rõ. Anh ta rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc cho người chết, nếu người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành lặn nhất của người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan được đóng bằng gỗ tạp sơ sài. Anh ta cuộn những bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho người chết. Nếu người tù không có áo xống gì, anh ta đẽo gọt một khúc cây làm gối. Khi đã hoàn tất những việc trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên trán người tù chết, và bật khóc. Anh ta khóc đau đớn và thống thiết đến nỗi mọi người đều có cảm giác người nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh ta. Với bất cứ người tù nào anh ta cũng khóc như vậy. Một lần giám thị trại gọi anh ta lên:

- Thằng tù chết ấy là cái gì với mày mà mày khóc như cha chết vậy?

Anh ta chấp tay khúm núm thưa:

- Thưa cán bộ, tôi khóc vờ ấy mà. Người chết mà không có tiếng khóc tống tiễn thì vong hồn cứ lẩn quẩn trong trại. Có thể nó tìm cách làm hại cán bộ. Lúc hắn còn sống, cán bộ có thể trừng trị hắn, nhưng đây là vong hồn hắn, cán bộ muốn xích cổ, cũng không xích được.

Thằng khùng nói có lý. Giám thị trại mặc, cho nó muốn khóc bao nhiêu thì khóc. Nhưng mình không tin là anh ta khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt vàng úa, nhăn nhúm của anh ta chan hòa nước mắt. Cả thân hình gầy guộc của anh ta run rẩy. Mình có cảm giác cả cái mớ giẻ rách khoác trên người anh ta cũng khóc… Trong tiếng khóc và nước mắt của anh ta chan chứa một niềm thương xót khôn tả. Nghe anh ta khóc, cả những trại viên khét tiếng lỳ lợm, chai sạn, "đầu chày, đít thớt, mặt bù loong" cũng phải rơm rớm nước. Chỉ có nỗi đau đớn chân thật mới có khả năng xuyên thẳng vào trái tim người. Mình thường nghĩ ngợi rất nhiều về anh ta. Con người này là ai vậy? Một thằng khùng hay người có mối từ tâm lớn lao của bậc đại hiền?… Thế rồi, một lần, mình và anh ta cùng đi lùa trâu xuống con sông gần trại cho dầm nước. Trời nóng như dội lửa. Bãi sông đầy cát và sỏi bị nóng rang bỏng như than đỏ. Trên bãi sông mọc độc một cây mủng già gốc sần sùi tán lá xác xơ trải một mảng bóng râm bằng chiếc chiếu cá nhân xuống cát và sỏi. Người lính gác ngồi trên bờ sông dốc đứng, ôm súng trú nắng dưới một lùm cây. Anh ta và mình phải ngồi trú nắng dưới gốc cây mủng, canh đàn trâu ngụp lặn dưới sông. Vì mảng bóng râm quá hẹp nên hai người gần sát lưng nhau. Anh ta bỗng lên tiếng trước, hỏi mà đầu không quay lại:

- Anh Tuân này - không rõ anh ta biết tên mình lúc nào - sống ở đây anh thèm cái gì nhất?

- Thèm được đọc sách - mình buột miệng trả lời, và chợt nghĩ, có lẽ anh ta chưa thấy một cuốn sách bao giờ, có thể anh ta cũng không biết đọc biết viết cũng nên.

- Nếu bây giờ có sách thì anh thích đọc ai? - Anh ta hỏi.

- Voltaire! - một lần nữa mình lại buột miệng. Và lại nghĩ: Nói với anh ta về Voltaire thì cũng chẳng khác gì nói với gốc cây mủng mà mình đang ngồi dựa lưng. Nhưng nhu cầu được chuyện trò bộc bạch với con người nó cũng lớn như nhu cầu được ăn, được uống… Nhiều lúc chẳng cần biết có ai nghe mình, hiểu mình hay không. Đó chính là tâm trạng của anh công chức nát rượu Marmeladov bất chợt nói to lên những điều tủi hổ nung nấu trong lòng với những người vớ vẩn trong một quán rượu tồi tàn, mà Dostoievsky miêu tả trong Tội ác và trừng phạt. Anh ta ngồi bó gối, mắt không rời mặt sông loá nắng, hỏi lại:

- Trong các tác phẩm của Voltaire, anh thích nhất tác phẩm nào?

Mình sửng sốt nhìn anh ta, và tự nhiên trong đầu nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ: một người nào khác đã ngồi thay vào chỗ anh ta… Mình lại liên tưởng đến một cậu làm việc cùng phòng hồi còn ở Đài phát thanh, tốt nghiệp đại học hẳn hoi, đọc tên nhạc sĩ Chopin (Sôpanh) là “Cho Pin.”

Mình trả lời anh ta:

- Tôi thích nhất là Candide.

- Anh có thích đọc Candide ngay bây giờ không?

Không đợi mình trả lời, anh ta nói tiếp:

- Không phải đọc mà nghe… Tôi sẽ đọc cho anh nghe ngay bây giờ.

Rồi anh ta cất giọng đều đều đọc nguyên bản Candide. Anh đọc chậm rãi, phát âm chuẩn và hay như mấy cha cố người Pháp, thầy dạy mình ở trường Providence . Mình trân trân nhìn cái miệng rúm ró, răng vàng khè đầy bựa của anh ta như nhìn phép lạ. Còn anh ta, mắt vẫn không rời dòng sông loá nắng, tưởng chừng như anh ta đang đọc thiên truyện Candide nguyên bản được chép lên mặt sông…

Anh đọc đến câu cuối cùng thì kẻng ở trại cũng vang lên từng hồi, báo đến giờ lùa trâu về trại. Người lính gác trên bờ cao nói vọng xuống: "Hai đứa xuống lùa trâu, nhanh lên!"

- Chúng mình lùa trâu lên bờ đi! - anh nói.

Lội ra đến giữa sông, mình hỏi anh ta:

- Anh là ai vậy?

Anh ta cỡi lên lưng một con trâu, vừa vung roi xua những con trâu khác, trả lời:

- Tôi là cái thanh ngang trên cây thập tự đóng đinh Chúa.

Rồi anh ta tiếp:

- Đừng nói với bất cứ ai chuyện vừa rồi…

Giáp mặt người lính canh, bộ mặt anh ta thay đổi hẳn - ngu ngơ, đần độn như thường ngày. Cuối mùa đông năm đó, anh ta ngã bệnh. Nghe các trại viên kháo nhau mình mới biết.

Thằng chuyên gia khâm liệm e đi đong. Thế là nếu bọn mình ngoẻo, sẽ không còn được khâm liệm tử tế và chẳng có ai khóc tống tiễn vong hồn… - những người tù nói, giọng buồn.

Mình gặp giám thị trại, xin được thăm anh ta.

Giám thị hỏi:

- Trước kia anh có quen biết gì thằng này không?

Mình nói:

- Thưa cán bộ, không. Chúng tôi hay đi lùa trâu với nhau nên quen nhau thôi.

Giám thị đồng ý cho mình đến thăm, có lính đi kèm. Anh ta nằm cách ly trong gian lán dành cho người ốm nặng. Anh ta nằm như dán người xuống sạp nằm, hai hốc mắt sâu trũng, nhắm nghiền, chốc chốc lại lên cơn co giật…

Mình cúi xuống sát người anh ta, gọi hai ba lần, anh ta mới mở mắt, chăm chăm nhìn mình. Trên khoé môi rúm ró như thoáng một nét cười. Nước mắt mình tự nhiên trào ra rơi lã chã xuống mặt anh ta. Anh ta thè luỡi liếm mấy giọt nước mắt rớt trúng vành môi. Anh ta thều thào nói:

- Tuân ở lại, mình đi đây… Đưa bàn tay đây cho mình…

Anh ta nắm chặt bàn tay mình hồi lâu. Một tay anh ta rờ rẫm mớ giẻ rách khoác trên người, lấy ra một viên than củi, được mài tròn nhẵn như viên phấn viết. Với một sức cố gắng phi thường, anh ta dùng viên than viết vào lòng bàn tay mình một chữ nho. Chữ NHẪN.  Viết xong, anh ta hoàn toàn kiệt sức, đánh rớt viên than, và lên cơn co giật.

Người lính canh dẫn mình lên giám thị trại với bàn tay có viết chữ Nhẫn ngửa ra. Người lính canh ngờ rằng đó là một ám hiệu.

Giám thị hỏi:

- Cái hình nguệch ngoạc này có ý nghĩa gì? Anh mà không thành khẩn khai báo, tôi tống cổ anh ngay lập tức vào biệt giam.

Mình nói:

- Thưa cán bộ, thật tình tôi không rõ. Anh ta chỉ nói: tôi vẽ tặng cậu một đạo bùa để xua đuổi bệnh tật và tà khí.

Nghe ra cũng có lý, giám thị trại tha cho mình về lán…

Chú thích

THẰNG KHÙNG trong tù này là Cha Chính Vinh, tức là Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH (1912-1971), của Nhà thờ lớn Hà Nội (1). Giáo sư Dương Minh Kính cho biết: “Tôi rất may mắn được cha Nguyễn Văn Vinh dậy tiếng Pháp và tiếng Anh hồi tôi còn học lớp Đệ Ngũ, Đệ Tứ và Đệ Tam…Cha Vinh rất nổi tiếng vì trong khi Pháp còn đang hoành hành ở VN, Cha đã dám chống lại De Latre de Tassigny, Tổng Tư Lệnh và cao Ủy của Pháp ở Đông Dương”.      

Cha Vinh cũng là giáo sư trường Chu Văn An và Hiệu Trưởng trường Dũng Lạc Hà Nội. Dưới đây là một bài nói về TẤM GƯƠNG CAN TRƯỜNG của cha Vinh;

Cha Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh chào đời ngày 2 tháng 10 năm 1912 tại làng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

Cậu Vinh, một thiếu niên vui vẻ, thông minh, có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh về âm nhạc, ca hát. Cậu biết kính trên, nhường dưới, trong xứ đạo, ai cũng quý yêu. Cha xứ Ngọc Lũ thời đó là Cố Hương, một cha người Pháp tên là Dépaulis giới thiệu cậu lên học tại trường Puginier Hà Nội. Năm 1928, cậu học Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, Phú Xuyên, Hà Tây.

Năm 1930, thầy Vinh được cố Hương dẫn sang Pháp du học. Năm 1935, thầy vào Đại Chủng viện St Sulpice, Paris. Ngày 20-6-1940, thầy được thụ phong linh mục ở Limoges .

Chiến tranh thế giới xảy ra, cha Vinh phải ở lại Pháp và tiếp tục học tập. Ngài học Văn Khoa - Triết tại Đại Học Sorbone, học sáng tác và hòa âm tại Nhạc viện Quốc Gia. Ngài phải vừa học vừa làm. Vóc dáng nhỏ nhắn dễ thương của ngài đã làm cho nhiều người Pháp tưởng lầm ngài là phụ nữ nên cứ chào: “Bonjour Madame!” Nhưng ẩn trong cái dáng vóc nhỏ bé đó là một tâm hồn rộng lớn, sau đôi mắt sáng là tính cương trực, dưới nụ cười là ý chí sắt son.

Sau khi tốt nghiệp cử nhân Văn Triết ở Sorbone, ngài gia nhập dòng khổ tu Biển Đức tại Đan Viện Ste Marie.

Sau 17 năm du học, năm 1947 cha Vinh về nước, nhằm góp sức xây dựng Giáo Hội Công Giáo Việt Nam vững mạnh về mọi mặt. Khi ấy, Đức cha François Chaize - Thịnh, Bề trên Giáo phận đã bổ nhiệm ngài làm cha xứ Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Ngài xin Bề trên lập dòng Biển Đức ở Việt Nam , nhưng không thành.

Cha Vinh, dù tu học ở Pháp nhưng luôn có tinh thần yêu nước, độc lập, không nệ Pháp. Năm 1951, Nhà Thờ Lớn Hà Nội tổ chức lễ an táng cho Bernard, con trai tướng De Lattre de Tassigni. Trong thánh lễ, tướng De Lattre kiêu căng đòi đặt ghế của ông trên cung thánh và bắt chuyển ghế của Trần Văn Hữu, Thủ tướng Việt Nam xuống dưới lòng nhà thờ. Vì lòng tự trọng dân tộc, danh dự quốc gia, cha Vinh cương quyết không chịu. Tướng De Lattre rất tức giận, gọi cha Vinh tới, đập bàn quát tháo, đe dọa. Cha Vinh cũng đập bàn, lớn tiếng đáp lại, quyết không nhượng bộ, nhưng Thủ tướng ngại khó nên tự nguyện rút lui. Sau vụ đó, để tránh căng thẳng, Đức Cha Khuê đã chuyển cha Vinh làm giáo sư của Tiểu Chủng Viện Piô XII, phụ trách Anh văn, Pháp văn, âm nhạc, triết học; ngài khiêm tốn vâng lời. Ngài cũng giảng dạy Văn Triết ở trường Chu Văn An.

Năm 1954, Đức cha Trịnh Như Khuê cho phép cha Vinh và cha Nhân đưa chủng sinh đi Nam, nhưng cả hai đều xin ở lại sống chết với giáo phận Hà Nội, dù biết hoàn cảnh đầy khó khăn, nguy hiểm. Đức Cha Khuê bổ nhiệm ngài làm Cha Chính, kiêm Hiệu Trưởng trường Dũng Lạc.

Ngài tổ chức lớp học giáo lý cho các giới, có những linh mục trẻ thông minh, đạo đức cộng tác, như cha Nguyễn Ngọc Oánh, cha Nguyễn Minh Thông, cha Phạm Hân Quynh. Lúc đầu, lớp học được tổ chức thành nhóm nhỏ tại phòng khách Tòa Giám Mục, về sau, con số người tham dự tăng dần, lớp học được chuyển tới nhà préau, và ngồi ra cả ngoài sân. Lớp học hiệu quả rất lớn, những tín hữu khô khan trở thành đạo đức nhiệt thành, ảnh hưởng lan tới cả giới sinh viên và giáo sư đại học, nhiều người gia nhập đạo. Sau chính quyền ra lệnh ngừng hoạt động vì lý do an ninh.

Khi cha Vinh đang làm Hiệu Trưởng Dũng Lạc, Chính phủ ra chỉ thị phải treo ảnh lãnh tụ thay vào ảnh Thánh Giá ở các lớp học. Ngài không tuyên đọc chỉ thị cũng không tháo bỏ Thánh giá, nên năm 1957, trường bị đóng cửa.

Thời bấy giờ, Đại học Y khoa Hà Nội thiếu giáo sư, nên đã đề nghị Đức Cha Khuê cử cha Vinh đến trường dạy La tinh. Nhiều sinh viên cảm phục ngài. Một hôm, Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Quốc đến thăm trường, thấy bóng dáng chiếc áo chùng thâm linh mục, ông nói với đoàn tháp tùng:

“Đến giờ này mà còn có linh mục dạy ở Đại Học quốc gia ư?”  

Ít lâu sau trường Đại học Y khoa không mời cha dạy nữa.

 Biết tài năng và kiến thức âm nhạc của ngài, nhiều nhạc sĩ ở Hà Nội tìm cha Vinh tham khảo ý kiến và nhờ xem lại những bản nhạc, bài ca họ mới viết.

 Cha Vinh, một trong những nhạc sĩ tiên phong của Thánh nhạc Việt Nam , và là một nhạc sĩ toàn tài. Ngài chơi vĩ cầm và dương cầm thật tuyệt, chính ngài là người Việt Nam đầu tiên chơi vĩ cầm ở Hà Nội. Ngài có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc, lại được học tập chu đáo nên đã sáng tác và để lại nhiều nhạc phẩm thánh ca tuyệt vời. Cha Vinh trình bày bản hợp tấu “Ở Dưới Vực Sâu” nhân cuộc đón tiếp phái đoàn Việt Nam do ông Hồ Chí Minh dẫn đầu sang dự Hội Nghị Fontainebleau năm 1946.

 Ngài cộng tác với Hùng Lân sáng tác “Tôn Giáo Nhạc Kịch Đa-Vít.” Sáng tác nhiều nhạc phẩm lớn: “Mở Đường Phúc Thật,” “Tôn Vinh Thiên Chúa Ba Ngôi,” “Ôi GiaVi,” “Lạy Mừng Thánh Tử Đạo.” Ngài phổ nhạc cho các Ca Vịnh 8, Ca vịnh 16, Ca vịnh 23, Ca vịnh 41, Ca vịnh 115 và nhiều bài hát khác như Đức Mẹ Vô Nhiễm, Thánh Tâm Giêsu. Ngài còn viết những bài ca sinh hoạt: Sao Mai, Đời Người, phổ nhạc bài “Bước Tới Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan.

 Hằng tuần ngài đến dạy nhạc, xướng âm và tập hát bên chủng viện Gioan. Cha Vinh có giọng nam cao, âm hưởng thanh thoát, lôi cuốn.

Ngài tổ chức và chỉ huy dàn đồng ca trong nhiều cuộc lễ và rước kiệu lớn như cuộc Cung Nghinh Thánh Thể từ Hàm Long về Nhà Thờ Lớn Hà Nội.

Năm 1957, Nhà nước muốn tỏ cho dân chúng trong nước và thế giới thấy là ở Việt Nam đạo Công giáo vẫn được tự do hành đạo và tổ chức được những lễ nghi long trọng, tưng bừng. Dịp Lễ Noel, chính quyền tự động cho người đến chăng dây, kết đèn quanh Nhà Thờ Lớn, sau lễ họ vào đòi nhà xứ Hà Nội phải thanh toán một số tiền chi phí lớn về vật liệu và tiền công. Năm 1958 cũng thế, gần đến lễ Noel, không hề hỏi han, xin phép, một số người của Nhà nước ngang nhiên đưa xe ô tô chuyển vật liệu, tự động bắc thang, chăng dây treo bóng điện màu trang trí ở mặt tiền và trên hai tháp Nhà Thờ Lớn. Cha xứ thời đó là cha Trịnh Văn Căn bảo vệ chủ quyền Giáo Hội trong khuôn viên cơ sở tôn giáo, không đồng ý, nhưng họ cứ làm. Để phản đối, cha Căn liền cho kéo chuông nhà thờ cấp báo, giáo dân kéo đến quảng trường nhà thờ rất đông ủng hộ cha xứ, hai bên to tiếng.

Cha Căn gọi Cha Vinh ra can thiệp, sau một hồi tranh luận không kết quả, cha Vinh kéo những người của Nhà nước đang leo thang chăng đèn xuống, rồi chính ngài leo lên thang, hai tay đưa cao trước mặt, hai bàn tay nắm lại, hai cườm tay đặt lên nhau, làm dấu hiệu còng tay số 8, và nói lớn:

 “Tự do thế này à!”

 Vụ giằng co lộn xộn kéo dài suốt buổi sáng, công cuộc trang trí không thành.

Cha Căn, cha Vinh cùng một số giáo dân bị cơ quan an ninh thẩm vấn, đem ra xét xử. Tòa án Hà Nội tuyên án: Cha Trịnh Văn Căn, Chính xứ Nhà Thờ Lớn, người chịu trách nhiệm tổ chức lễ Noel năm 1958 chịu án 12 tháng tù treo. Cha Chính Nguyễn Văn Vinh chịu án 18 tháng tù giam, với tội danh: “Vô cớ tập hợp quần chúng trái phép, phá rối trị an, cố tình vu khống, xuyên tạc chế độ, gây chia rẽ trong nhân dân” (!).

Sau phiên tòa, cha Vinh bị đưa đi giam ở Hỏa Lò, sau bị chuyển đi nhiều trại giam khác như Chợ Ngọc, Yên Bái, cuối cùng là trại “Cổng Trời”, nơi dành riêng cho các tù nhân tử tội.

Khi cha Vinh mới đến trại Yên Bái, ngài còn được ở chung với các tù nhân khác, nhiều giáo dân, chủng sinh, tu sĩ đến xin cha giải tội, vì thế ngài bị kỷ luật, phải biệt giam, bị cùm chân trong xà lim tối. Mấy tháng sau được ra, ngài lại ban phép giải tội. Cán bộ hỏi:

 “Tại sao bị cùm, bị kỷ luật, được ra, anh tiếp tục phạm quy?”

Ngài đáp:

 “Cấm là việc của các ông, giải tội là việc của tôi, còn sống ngày nào, tôi phải làm bổn phận mình!”

Ở tù đói rét là đương nhiên, lúc nào cũng đói, hằng ngày mỗi bữa một bát sắn độn cơm, ăn với lá bắp cải già nấu muối, khi chia cơm phải cân đong từng chút một... Một lần cha Vinh nhận được gói bưu kiện do cha Cương, quản lý Nhà Chung Hà Nội, gửi lên, trong đó có ít thức ăn, lương khô và vài đồ dùng cá nhân, ngài đem chia sẻ cho anh em trong nhóm, cả Công giáo lẫn lương dân, ăn chung, dùng chung. Anh em tù hình sự thân thương gọi ngài là “Bố.”

Ngay trong nhà tù, cha Vinh vẫn can đảm bảo vệ người bị áp bức, có lần một tổ trưởng đánh đập tù nhân, ngài lên tiếng bênh vực, liền bị người tổ trưởng này xông đến giang tay đánh, ngài đưa tay gạt, anh ta ngã khụy. Từ đó trong trại có tiếng đồn cha Vinh giỏi võ, mọi người phải nể vì.

 Một cán bộ cao cấp ở Hà Nội lên Cổng Trời gặp cha Vinh, nói: “Đảng và Chính phủ muốn anh được tha về, nhưng với điều kiện phải cộng tác với linh mục Nguyễn Thế Vịnh (Chủ tịch Ủy Ban Liên Lạc Công Giáo). Nếu anh đồng ý, anh có thể về Hà Nội ngay bây giờ với tôi”. Ngài khẳng khái đáp: “Ông Vịnh có đường lối của ông Vịnh. Tôi có đường lối của tôi”.

 Vì không khuất phục được ngài, nên bản án từ 18 tháng tù giam, không qua một thủ tục pháp lý án lệnh nào, đã biến thành 12 năm tù kiên giam, xà lim, biệt giam và án tử. Năm 1971, khi ngài từ trần không ai được biết, một năm sau, chính quyền mới báo cho Đức Cha Khuê và cha Cương quản lý Nhà Chung:

 “Ông Vinh đã chết. Không được làm lễ áo đỏ cho ông Vinh!”

 Suốt đời mình, trong mọi tình huống cha Chính Vinh làm tròn trách vụ của mình. Ngài đã mạnh mẽ rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho đức tin, khi thuận tiện cũng như khó khăn. Vượt mọi thử thách gian khó, không chịu khuất phục trước cường quyền, luôn trung kiên với Thiên Chúa và Giáo Hội.

 Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh là một chứng nhân của thời đại, một linh mục Công Giáo Việt Nam can trường, hậu thế kính tôn và ghi ân ngài.  

TGP Hà Nội BBT (Theo HĐGMVN)


 

 * * *

Về Miền Nắng Ấm

Phạm Gia Đại, CVA65

(Lời Tác Giả: "Về miền nắng ấm" là bài viết bổ túc cho "Chuyến tầu xuôi phương Nam" cùng một tác giả trong hồi ký NNTCC nhằm vinh danh những người tù chính trị chế độ cũ trong tập trung "cải tạo".

Họ là những người trước kia từng đối mặt với quân thù ngoài trận tuyến và giờ đây vẫn phải chịu sự trừng phạt tàn khốc trong trại giam, đối đầu hàng ngày với kẻ thù, và nhiều người đã gục ngã trong âm thầm và lặng lẽ.")

Đoàn xe buýt chở tù vào đến ga Nam Định thì trời vừa tối và họ chỉ định cho chúng tôi một góc tường nhà ga làm nơi tạm thời nghỉ ngơi trước khi có lệnh lên tầu hỏa.

Chúng tôi người đứng dựa vào bức tường hay dựa vào nhau, không ai dám trải tờ báo ngồi xuống đất bởi chung quanh đó không có một chỗ nào tương đố sạch sẽ một chút, toàn những đất đen lẫn những miếng gạch vỡ và ẩm thấp.

Một vài người dân trong những bộ quần áo nghèo nàn ăn mặc thật giống nhau đi bộ gần đấy hay đạp xe vội qua nhìn chúng tôi có vẻ hơi thắc mắc bởi vì tụi tôi bấy giờ đều ăn mặc các bộ quần áo dân sự do gia đình gửi vào nhưng lại bị còng tay cứ hai người một cái còng số tám.
Quả thật tôi không thể ngờ rằng cuộc đời nhiều lúc đắng cay và nghịch lý như hoàn cảnh của tôi.

Năm một chín sáu lăm, tôi là một học sinh Chu Văn An mang trong người mảnh bằng Tú Tài II với nhiều mộng ước vào đời, nhưng đúng mười năm sau đó là Định Mệnh đau thương khi miền Nam sụp đổ và tôi lại quay về đúng ngôi trường thân yêu ấy trong thân phận người tù chờ xe đến để chở vào trại tập trung "cải tạo".

Không gì đau lòng hơn hôm nay nữa khi tôi ghé lại nhà ga Nam Định, nơi chôn nhau cắt rốn của mình trong tư thế một tù nhân chuyển trại. Cứ ngỡ rằng nếu có một ngày nào về thăm quê hương Nam Định của tôi thì đó phải là một ngày trong vinh quang.

Khi trời đã về khuya, các gian hàng trong khu nhà ga đã lên từ lâu, thứ đèn bóng tròn hắt ra một thứ ánh sáng vàng vọt yếu ớt không đủ chiếu dù chỉ là một khoảng sân ga thì chúng tôi được lệnh lên tầu.

Từng hai người một bước lên con tầu cũng cũ kỹ như cái ga Nam Định, có lẽ đã nhiều chục năm vẫn mang một bộ mặt không thay đổi đó.

Bấy giờ là vào tháng Năm năm một chín tám tám, các tù nhân chính trị chế độ cũ còn bị giam giữ tại miền Bắc chỉ còn lại đúng chín mươi người trong số hàng trăm ngàn tù nhân bị di chuyển vội vã bằng mọi phương tiện từ Nam ra Bắc mười hai năm trước. Cộng với một tù hình sự nghe nói có người chú là Thiếu Tướng VC nên được ưu đãi cho vào Nam tiếp tục thụ án.

Chúng tôi chiếm hai toa đầu tiên và các cán bộ và cán binh đi áp tải thì một toa nữa thứ ba để ngăn cách chúng tôi với dân chúng hay những người buôn bán bị dồn xuống các toa tầu phía sau.

Cứ hai người ngồi một ghế băng bằng gỗ thì khá rộng rãi nhưng nếu nhét bốn người thì không lọt nên chúng tôi ngồi thành hai cặp đối điện nhau.

Tôi và anh hai Hầu may mắn ngồi thuận theo hướng tầu chạy nên nhìn được nhiều cảnh vật bên ngoài. Cổ tay phải tôi khóa với tay trái anh Hầu cho nên tôi ngồi bên cạnh cửa sổ bên trái toa tầu và anh Hầu cạnh lối đi.
Tôi để cây đàn ghi ta và giỏ mây đựng các thứ cần thiết lên trên giá gỗ cho rộng chỗ và vừa ngồi xuống chưa bao lâu thì con tầu bắt đầu chuyển bánh một cách nặng nhọc rời nhà ga.

Gió bên ngoài thổi vào trong toa mát rượi như xua đi bao mệt nhọc trong ngày di chuyển từ trại Ba Sao Nam Hà đến đây và bây giờ đang ở trên con tầu xuôi về Nam.
Quả thật đây là giấc mơ bất ngờ mà bao nhiêu năm nay chúng tôi chờ đợi vì ít ra nếu không được thả ra khỏi trại thì cho về Nam cũng dễ thở hơn, cũng như án tù của mình được giảm đi một phần rồi.

Chúng tôi đang xa rời dần xứ Bắc theo tiếng máy tầu xình xịch chạy trên đường ray làm tôi chợt nhớ đến anh Hiến, Đại Úy Biệt Động Quân tác giả bài hát "Chuyến Tầu Xuôi Phương Nam" mà tôi rất thích: "Chuyến tầu xuôi phương Nam, xin từ giã từng đoạn đường ... Mái trường Phan Chu Trinh em còn nhớ lời hẹn hò, bao giọng nói lời hỏi chào, dòng kỷ niệm quấn quít bên nhau...Mãi mãi vườn xưa xanh tươi, môi hồng thắm lại nụ cười, phố phường sống dậy tình người, Mẹ già ngồi bếp cũ năm xưa, qua một thời dĩ vãng thương đau..."

Người tù và nhạc sĩ BĐQ tài hoa ấy vẫn mơ về một ngày mà đất Mẹ sẽ có lại được những nụ cười thương yêu, những khuôn mặt rạng rỡ, có lại được tình người nồng thắm trong một không gian đầm ấm của hạnh phúc ngày xưa, và tất cả những đau thương do chiến tranh và tù đầy đổ xuống quê hương tang tóc sẽ chỉ còn là dĩ vãng.

Nhưng niềm mơ ước ấy đã không thể trở thành hiện thực vì những người tù vẫn còn bị giam giữ không có ngày tháng, người dân vẫn còn bị đọa đầy; và khi tôi nghe tin anh sau một thời gian thả về đi vượt biên đã bị mất tích.

Nếu đúng vậy thì anh đã có thể trở về cái ngày xưa ấy khi còn giòng máu nóng trong người và cầm súng trên tay cùng các đồng đội đi săn lùng diệt địch.

Anh hai Hầu ngồi bên cạnh tôi đã ngủ từ lúc nào, anh thật là hiền hậu vô tư và thật là dễ ngủ dù là trong tư thế ngồi và đôi khi xe chạy qua những quãng đường không được êm lắm. Tôi rất mến anh vì tính tình đôn hậu giản dị của người miền Nam nên coi anh như người anh và ăn chung với nhau kể từ ngày thầy Tâm, thầy tôi và các vị trong Nha Tuyên Úy được thả về.

Anh thường nhìn tôi cười cười :

- “Mỗi lần anh nghe Đại thuyết trình về tin tức thời sự, về sự can thiệp của Mỹ và các hội đoàn cho anh em mình sớm được trả tự do thì anh lại lên tinh thần.”

Tôi nhìn lối đi qua toa bên cạnh nơi chứa số còn lại của anh em tù nhân trong đó có các ông Tướng và nhớ đến những lúc tôi đánh liều vượt tường qua khu giam các Tướng để thuyết trình theo sự yêu cầu - vì sống trong đó các anh không có nhiều tin tức như tụi tôi ở ngoài này.

Hơn nữa, tin tức về các cuộc thương thuyết giữa Hoa Kỳ và Hà Nội để sớm thả các tù nhân này ra khỏi trại giam vẫn là những đề tài nóng bỏng nhất mà mọi người đều muốn biết vì tin tức ấy đã nhen nhóm lên trong chúng tôi một ánh lửa hy vọng.

Một điểm nữa là các tù nhân còn lại sau mười ba năm trong trại giam thì đa số đều thuộc các thành phần mà họ gọi là có nhiều "nợ máu với nhân dân và nguy hiểm cho chế độ" như tình báo, an ninh quân đội, cảnh sát đặc biệt và những thành phần này sẽ còn bị giữ trong các trại rất lâu, không có thời gian tính, nếu không có sự can thiệp từ bên ngoài từ phía chính quyền Mỹ và các hội đoàn tại hải ngoại.

Bởi vậy đó là lý do tại sao chúng tôi phải săn lùng các tin tức liên quan đến các tù nhân chính trị để biết chắc được rằng thế giới bên ngoài vẫn còn nhớ tới mình.

Anh Hầu đang ngủ gật gù và bỗng dưng chúi xuống đất, may mà tôi dùng tay trái chụp được vai của anh níu lại kịp lúc. Anh tỉnh dậy:

- “Chuyện gì đó Đại?”

- “Anh ngủ gục. Không được rồi tôi chẳng có thể ngồi canh anh như thế này suốt đêm được rất nguy hiểm. Bây giờ anh nằm xuống sàn tầu đi rồi gần sáng tôi đổi chỗ cho anh lên ghế nằm chứ ngủ ngồi không xong rồi.”

Bên ngoài trời tối đen không còn nhìn thấy gì nữa vì tầu đang đi qua một vùng hoang vu không có người ở, không một ánh đèn, chỉ thấy những vì sao long lanh xa tít trên trời như cũng lấp lánh chung vui với chúng tôi trên chuyến tầu xuôi về Nam hôm nay.

Đây là đất nước mình đây ư! quê hương của mình đây ư! nhưng tại sao chúng tôi lại vẫn còn bị giam giữ và đầy đọa ngay trên quê hương mình khi cuộc chiến tranh khốc liệt, kéo dài hai thập niên với bao nhiêu triệu người chết, đã tàn rồi từ mười ba năm trước?

Hầu hết các bạn tôi đều đang say ngủ và toa tầu thật yên lặng, thỉnh thoảng mới có một vài cán binh chạy lên xuống xem chừng chúng tôi mà thôi rồi lại trở về toa của họ.

Ánh đèn vàng nhỏ trên nóc toa tỏa ra một ánh sáng mờ mờ theo tiếng xình xịch của bánh xe lửa lại càng làm thêm buồn ngủ, nhưng không hiểu sao dù rất mệt mỏi nhưng tôi vẫn chưa ngủ được.

Có thể vì hôm nay là một cái ngày gì rất đặc biệt trong quãng đời tù tội của chúng tôi, những người tù cuối cùng đang rời xa dần đất Bắc.

Tất cả là chín mươi người, con số thật là bé nhỏ, những người trước kia từ các trại khác nhau trên miền Bắc về tụ hội tại Nam Hà, và bây giờ đây năm một chín tám tám, chín mười người còn lại ấy vẫn còn sống và đang ngồi trên chuyến tầu này xuôi Nam, sau mười ba năm giam cầm và lưu đầy.

Nếu nói đây là một sự thành công kỳ diệu của sức người đã vượt qua được những thử thách của thời gian thì phải cảm ơn Ông Trời đã sinh ra con người, tuy bằng xương bằng thịt nhưng trong gian nan nguy khốn, đã có được một sức chịu đựng bền bỉ ngoài sức tưởng tượng.

Những người tù cuối cùng này còn sống sót và còn minh mẫn, chính là nhờ vào sức chịu đựng phi thường của họ, chính là nhờ Ơn Trên vẫn che chở cho họ, và cũng chính nhờ gia đình trong đó người vợ với tấm lòng son sắt, đã không quản ngại khó nhọc đi thăm chồng suốt bao nhiêu năm trường.

Viễn ảnh đang trở về miền nắng ấm có lẽ cũng làm cho tôi thao thức không ngủ được chăng. Trên trời ông Trăng vừa ra khỏi được cụm mây để tỏa xuống trần gian một làn ánh sáng yếu ớt cho đêm bớt tăm tối.

Có thể một tương lai tốt đẹp hơn đang chờ chúng tôi trong miền Nam nhiều tình người hơn, gần gũi với gia đình hơn, và gần với Sàigòn hơn.

Hai chữ Sàigòn gây cho tôi một cảm giác xao xuyến mà đã bao nhiêu năm rồi tôi đã cố chôn chặt nó trong lòng để cố quên nó đi, nhất là những đêm Đông giá buốt, bởi vì mỗi khi nghĩ đến Sài gòn thì cả môt vùng trời kỷ niệm sống dậy và nó dằn vặt tôi trong nỗi nhớ khôn nguôi.

Hai chữ đó như nhắc nhở tôi về một thời gian có vẻ như xa xưa lắm rồi tôi đã có những năm tháng yên vui hạnh phúc bên những người thân yêu, bên Mẹ, anh em, bên vợ bên con, bên bạn bè, rồi bỗng dưng tất cả sụp đổ tan tành và thân tôi bỗng nhiên thành tù tội ngay trên quê hương mình.

Rồi tôi bắt đầu làm quen với lao động để “cải tạo” tại trại Long Thành và rồi đột ngột chuyển trại ra Miền Bắc trong một đêm không trăng sao và ở lại ngoài đó mười hai năm.

Cuối cùng thì giờ này tôi đang bỏ lại sau lưng cả một quãng đời tù đầy cơ cực trên xứ Bắc.

Bỏ lại mười hai mùa Hè nóng như nung người, những đêm trong buồng giam ngộp thở hơi người, chúng tôi ngồi tại chỗ nằm chỉ mặc cái quần đùi mà mồ hôi nhỏ từng giọt cho đến khi mệt lả đi thì mới ngủ thiếp được. Hoặc phải tìm ít nước thấm ướt cái mùng rồi chui vào ngay khi còn ít hơi mát để tìm giấc ngủ, khổ nhất lúc đó là phải chui vào trong mùng bởi không thể ngủ bên ngoài vì từng đàn muỗi sẽ đến hỏi thăm sức khỏe ngay.

Ban ngày thì lao động khổ sai ban đêm thì chống chỏi từng giờ với cái nóng ghê gớm của mùa Hè.Cái nóng ghê gớm đến nỗi mà một anh bạn thân tôi là cò Lạt đã phải than rằng chỉ cầu Trời cho một cơn mưa chứ chẳng còn cầu ngày về nữa.

Bỏ lại sau lưng mười hai mùa Đông mưa phùn gió Bấc, những làn gió lạnh buốt như quất vào da thịt người tù như thấm vào tận xương tủy, nhiều lúc như không còn cảm giác ở hai bàn tay.

Những buổi sáng thức dậy khi trời còn đầy sương trắng đục, mây mù giăng mắc khắp núi rừng chung quanh, cảnh vật như mờ mờ ảo ảo có lẽ không phải trên trần thế, mà người tù vẫn phải thức dậy chuẩn bị cho một ngày lao động mới.

Nói về mùa Đông, tự dưng tôi nhớ đến một người tù trẻ tuổi cũng rất đặc biệt, anh chỉ là Thiếu Úy nhưng không hiểu sao cũng bị đưa ra Bắc trong tình trạng gần như đã mất trí nhớ.

Anh tự xưng là Nguyễn Huệ, ban đầu tôi tưởng tên anh là Huệ thật nhưng sau đó các bạn cho biết là anh tự nhận như vậy. Anh thường quanh quẩn trong trại, đúng ra loanh quanh trong buồng giam mà thôi, nhiều lúc nói những gì nghe không hiểu và lại mỉm cười một mình. Tôi đoán rằng anh đã trải qua một giai đoạn nào khủng khiếp lắm trong đời, có thể là sau khi bị bắt, bị tra tấn hay ngược đãi, hoặc vì tình cảnh gia đình nên đã mất trí luôn.

Có điều rất lạ lùng là trong mùa Đông xứ Bắc lạnh căm căm như vậy, ngay cả những ngày buốt giá vì nhiệt độ hạ thấp đột ngột bởi những đợt khí lạnh từ bên đất Tầu thổi xuống thì anh vẫn phong phanh bộ quần áo tù và để đầu trần mà vẫn bình thường. Có anh trong buồng thấy vậy bèn cho anh cái áo len để mặc nhưng cũng chỉ một hai ngày rồi lại thấy anh bỏ cái áo len đâu mất.

Như thế suốt mùa Đông mà anh không hề bệnh tật gì trong khi tôi mặc mấy lớp áo kể cả áo len và trên đầu còn trùm một cái mũ nỉ nữa mà vẫn thấy khí lạnh nó thấm vào tận da thịt.

Lúc đó tôi mới thấy cái kỳ diệu của cơ thể con người mà ông Trời đã cho chúng ta, có thể vì hệ thống thần kinh của anh đã bị tổn thương cho nên không còn cảm nhận được cái lạnh khủng khiếp đó của những ngày mùa Đông? Nhưng điều làm cho tôi ngạc nhiên là anh không hề bị bệnh tật gì hay tỏ ra giá lạnh vì ăn mặc như vậy suốt mấy tháng trời mùa Đông.

Có thời gian khi anh mua được một miếng thịt tươi, như các anh em khác thì nấu nướng lên rồi ăn nhưng anh lại đem chôn nó xuống đất. Tôi có hỏi anh là chôn để làm gì thì anh nói là để dành cho mùa Đông.

Một bác nữa ở cùng chung buồng giam với tôi, bác Hưởng cũng cùng đợt chuyển ra Bắc với anh Thiếu Úy tự xưng là "Nguyễn Huệ". Bác tuy lớn tuổi nhưng rất là tỉnh táo sáng suốt tuy rằng móm mém vì các răng cỏ đều rụng hết. Bác được anh em đều rất thương mến vì tính tình hòa nhã và hiền hậu, có anh gọi bác rất thân thương là Tía nữa.

Tôi còn nhớ rất rõ hình dáng còm cõi, da sạm nắng và cái lưng hơi gù cùng tướng đi còn nhanh nhẹn của bác. Bác Hưởng luôn vui cười với mọi người và hay kể những chuyện về miền quê hương của bác ở miệt Tiền Giang với đủ loại trái cây và các món ăn ngon ít nơi nào có được.

Tôi không có dịp về thăm Tiền Giang và Hậu Giang nên nghe bác kể một cách thích thú say mê, và đôi lúc cảm thấy hối hận vì trước kia chỉ biết lao vào làm việc mà quên cả đi thăm các thắng cảnh của quê hương mình nhưng bây giờ ân hận thì cũng đã muộn.

Giờ thì đã mất hết rồi và nếu có còn có dịp nào chăng nữa sau này mà đi du lịch thì những danh lam đó cũng không thể nào còn đẹp như xưa và cũng không còn cái không khí của ngày xưa nữa.

Có hôm nào hứng chí thì bác Hưởng lấy đôi đũa ra gõ nhịp nhịp rồi ngồi ca mấy câu vọng cổ, ca xong thì bác có vẻ hài lòng lắm và quay qua nhìn chúng tôi hỏi là tụi bay thấy tao ca có hay không rồi lại nhịp nhịp chiếc đũa.

Một buổi chiều Đông nhưng trời đã tối xuống rất nhanh, tôi thấy bác tự dưng chạy ra sân rồi la hét điên cuồng lên và chửi lung tung, than Trời xong lại trách Đất. Anh em vội kéo bác vào trong buồng nhưng bác vẫn nhìn ra ngoài cổng trại mà chửi cho đến khi khan cả tiếng không nói được nữa thì mới thôi.

Một vài ngày sau, buổi tôi bác đi ngủ như thường lệ nhưng sáng hôm sau thì bác đã không còn tỉnh dậy nữa.

Người tù đó đã tìm được sự bình yên nơi không còn thù hận, có thể bây giờ thì bác đã được thong dong trở về thăm miệt quê Tiền Giang yêu thương nhiều trái cây và thức ăn ngon của bác.

Một anh nghĩa quân nữa không hiểu mắc vào tội gì mà cũng bị đưa ra Bắc giam giữ. Anh rất hiền lành ít nói nhưng vài năm sau anh dần dần bị lãng trí và cũng ra đi bất ngờ trong một ngày đầu Đông không biết vì lý do gì. Hay như anh Thiếu Tá Cảnh Sát nằm cạnh tôi một sáng ngủ dậy đang nằm nhai miếng bánh bột hấp bằng đầu ngón tay cái, là khẩu phần ăn cho người tù để sửa soạn lao động khổ sai trong bốn tiếng đồng hồ thì tự dưng miếng bánh vuột khỏi tay rơi xuống sàn nằm và anh đã ra đi nhẹ nhàng như một ngọn đèn hết dầu. Anh bị bệnh phù thủng nặng hai chân đã sưng vù lên và được ở lại buồng một thời gian để nghỉ ngơi, nhưng vì thiếu dinh dưỡng và thuốc men nên bệnh trở nặng và sức cũng không còn, nên đã chết đi y như ngọn đèn cạn dầu từ từ lụi tàn và tắt đi một cách tự nhiên.  

Mạng người tù trong môi trường ấy không có một chút giá trị nào đối với họ, kẻ đã chiến thắng.

Xin cầu nguyện cho tất cả các anh em tù nhân đã nằm xuống sớm về được miền Vĩnh Hằng - nơi không còn đói rét và đọa đầy thân xác.

Tôi đang bỏ lại sau lưng cả một quãng đời cơ cực với bao hiểm nguy, tôi cố quên đi hết và bỏ lại đàng sau lưng những nhục nhằn của một kiếp người lầm than. 

Chúng tôi đã mất mát quá nhiều nhưng cũng học được những bài học đắt giá và nhờ Ơn Trên mà chúng tôi đã xoay chuyển được tình thế trở nên thuận lợi hơn trong những năm gần đây.

Chúng tôi biết sống hơn để có thể tồn tại, niềm tin rằng mình sẽ có ngày về càng lúc càng được củng cố vững chắc nhất là khi về Nam Hà được một hai năm sau thì anh Toan, nghị sĩ, đã cho tôi biết về những bài thơ Đường thật là tuyệt tác và có ý nghĩa của cụ Phan mà anh em thường gọi cụ là Thánh Tùng La.

Cụ Phan chính là nhà ái quốc Phan Đình Phùng đã hiển Thánh và Ngài đã giáng cơ xuống, theo lòng thành cầu khẩn của một số anh em muốn biết số phận của mình ra sao, và Ngài dã cho những người tù từng bài thơ một, phác thảo ra một tương lai còn nhiều hứa hẹn.

Các bài thơ này đã được chuyền tay nhau đọc và chép lại và đã làm cho tinh thần người tù lên cao và niềm hy vọng tưởng như lụi tàn nay bừng cháy lại.

Xin thành kính đội ơn Thánh Tùng La đã ban những bài thơ như rồng bay phượng múa ấy để nhóm lại ngọn lửa hy vọng trong khi nhiều người tù đã trở nên bi quan và yếm thế tại trại Nam Hà.

Lúc này, ngồi trên toa xe này xuôi về Nam thì tôi đã trở thành một con người có bản lãnh và nghị lực khác hẳn so với mười hai năm trước lúc còn ngơ ngác trước ngưỡng cửa dẫn vào địa ngục của trại giam trong chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc.

Bởi vì tôi đã học được bao nhiêu là kinh nghiệm sống và tác phong quân tử từ những người bạn thân trong đó có các anh trong tổ Điện, học được từ thái độ bình thản chấp nhận cái chết đến từng ngày của ông Xuân viện trưởng, từ sự hy sinh tận tụy của anh Trung những ngày tháng cuối chăm sóc bên cạnh ông Xuân, từ sự trầm tĩnh của anh Đồng Tuy và nhiều nữa.

Tôi còn học được những điều quí báu về tôn giáo, về số phận con người, về Định Mệnh, qua Thượng Tọa Thích Thanh Long, qua thầy Tâm người thầy hiền hậu của tôi, thầy Khuê, thầy Thạnh, thầy Tùng,v.v. qua Mục Sư Kỳ, Mục sư Lộc, và quí vị Linh Mục.

Nhiều lúc so sánh tôi thấy cuộc đời tôi có một nét rất giống như câu chuyện ngày xưa tôi rất thích là "Bá Tước Monte Cristo" khi có cơ duyên trong tù đã gập được vị thầy, một Minh Sư đã làm thay đổi hẳn cuộc đời của mình sau này.

Trong truyện thì nhân vật Edmond Dantes đã bị hàm oan khi đang chuẩn bị lễ cưới thì bị bắt và bị lưu đầy đến một trại biệt giam trên đỉnh núi cao -nơi chỉ có đi mà không có về.

Nhờ cơ duyên Edmond đã gập được vị linh mục và là một nhà thông thái cũng bị biệt giam trong đó và chính nhờ gập được vị thầy này mà Edmond đã tôi luyện trở nên một con người văn võ toàn tài và vị linh mục còn tiết lộ bí mật của kho tàng cho Edmond nữa.

Lại nhờ vào may mắn lúc vị linh mục này qua đời phù hộ cho mà Edmond đã thoát ra khỏi chốn biệt giam trở về và ân đền oán trả.

Tôi cũng có cơ duyên sống với Thầy Tâm và được thầy dậy dỗ bảo ban mọi việc, nhất là về căn bản đạo Phật, nhờ đó mà tôi mới có nghị lực chống chỏi với bao phong ba bão táp như muốn nhận chìm mình xuống.

Nếu không gập được người thầy như thầy Tâm, thầy Thích Thanh Long thì chắc là tôi đã nằm lại trong bốn bức tường nhà tù.

Tôi có một điểm khác với Edmond là khi ra khỏi tù thì tôi không tìm được kho tàng như Edmond Dantes và tôi cũng chỉ trả ơn chứ không trả oán.

Nhìn ra vùng tối trước mặt với những hàng cây sậm đen, những con đường đất, những mái nhà tranh mờ mờ đang ngủ yên, những thửa ruộng thấp thoáng ánh nước trong đêm hòa trong tiếng xình xịch của bánh xe lửa, mắt tôi chợt nhòa đi khi nghĩ về những người tù hiền lành đã không còn nữa trong đó có vị viện trưởng viện đại học Cần Thơ Nguyễn Duy Xuân mà tôi vô cùng kính mến.

Họ đã phải nằm lại miền Bắc lạnh lẽo ấy chứ không có được cái may mắn như chúng tôi hôm nay đang theo con tầu cũ kỹ này xuôi về phương Nam nhiều nắng ấm.

Vĩnh biệt xứ Bắc, xin chào mười hai năm lưu đầy, xin chào những con người mà tôi đã gập ngoài đó và xin giữ mãi trong lòng không bao giờ quên các kỷ niệm đau thương xen lẫn những nụ cười của những người tù mà tôi quen.

Những tiếng xình xịch đơn điệu của con tầu trong đêm khuya lặng lẽ như đưa dòng tư tưởng tôi về với những người thân thương.

Nghĩ đến gia đình tự dưng hình ảnh hai đứa con hiện lên trong trí nhớ, có lẽ giờ này chúng lớn lắm rồi vì ngày tôi ra đi thì con gái chưa đầy năm tuổi và con trai chưa đầy bốn, bây giờ...bây giờ thì chúng đã mười tám và mười bẩy tuổi rồi, chắc khi gập lại tôi không thể nhận ra con tôi nữa.

Những làn gió mát hiu hiu thổi vào khung cửa ru tôi ngủ lúc nào không biết. Tôi chợt mơ thấy mình trở về mái nhà xưa nơi tôi đã sống hơn mười lăm năm trên con đường Trương Minh Giảng, Sàigòn thân thương, chợt nghe đâu đây tiếng cười rộn rã của hai đứa con nhưng chẳng thấy chúng đâu, rồi lại nghe thấy tiếng cười xen lẫn nước mắt của Mẹ già tóc nay đã phai mầu vì bao nhiêu năm tháng thương nhớ đứa con trong tù.

Tôi đã đi vào một giấc ngủ thật sâu lắng và êm đềm cho đến khi ánh nắng ban mai rọi chiếu vào toa tầu qua khung cửa sổ làm tôi tỉnh giấc thì trời đã sáng từ lúc nào và tầu đang đi vào địa phận miền Trung.

Miền Trung, nhất là các tỉnh Thanh Nghệ Tĩnh, miền đất cằn lên sỏi đá và thiên tai bão lụt quanh năm vốn đã nghèo nay lại còn xơ xác hơn với những mái nhà tranh vách đất xiêu vẹo, những con trâu gầy gò, những con bò ốm giơ xương và những con người bừa thay trâu cầy thật là khốn khổ.

Đâu đâu cũng nhìn thấy những khuôn mặt xanh xao thiếu ăn trong những bộ quần áo lam lũ làm chúng tôi tuy trong thân phận tù đầy không khỏi bồi hồi xúc động và thương thay cho dân mình.

Mỗi khi tầu ghé tới ga nào thì mấy tay cán binh đi theo canh giữ chúng tôi trên tầu thường hay hỏi anh em chúng tôi cần gì không họ mua dùm cho.

Mấy tay cán binh này và mấy tay Thiếu Úy nữa đi theo trên tầu, chúng tôi đếu quen mặt vì thường xuyên vào trại uống cà phê, trà lá. Họ biết chúng tôi nên đi theo canh giữ cũng dễ chịu.

Tôi mấy năm sau thì bao tử và ruột bị yếu nên rất cần nước nóng và một tay cán binh hay cầm cái phích nước của tôi và lại chạy bay xuống mua dùm nước sôi.

Có lần tầu đã chạy rồi mà chưa thấy anh ta đâu thì bất ngờ y xuất hiện và hớt hơ hớt hãi chạy theo và nhẩy lên được toa tầu thì văng mất cả nắp cái phích nước của tôi.

Mỗi lần như thế thì tôi lại cho anh ta ít tiền để uống cà phê nhờ vậy mà tôi có nước sôi mà pha trà hay cà phê hay làm gói mì ăn sáng cho tôi và anh Hầu. Cho nên chúng tôi suốt ba ngày đêm trên tầu cũng ăn uống tạm đủ.

Mấy tay cán binh này rất thích thú được anh em chúng tôi nhờ vả vì cả hai bên đều có lợi, nhưng chính họ cũng muốn tỏ sự thiện cảm đối với anh em chúng tôi như thể sự hận thù của họ đối với chúng tôi đã đi vào quá khứ và bây giờ là tình người với nhau.

Một điểm nữa đã đưa họ lại gần với chúng tôi chính là văn nghệ với các bản nhạc xưa đã làm họ say mê, những buổi văn nghệ các tối thứ Bẩy tại buồng giam mà họ ghé đến bên ngoài để cùng tham dự.

Đây cũng là một giai đoạn đáng ghi nhớ đánh dấu một thời điểm rất quan trọng là chúng tôi đã xoay chuyển được tình thế, từ lúc mới vào tù họ coi như các cặn bã rác rưởi trong xã hội và chà đạp lên nhân phẩm của người tù chính trị, cho đến ngày nay thì họ nhìn chúng tôi với con mắt nể trọng xen lẫn mến phục.

Trước ngày rời trại Nam Hà để lên xe lửa vào Nam, tay Thượng Tá trưởng trại trong một buổi nói chuyện cũng nói rằng "Chúng tôi không có khả năng để giáo dục cải tạo các anh và tôi còn bảo các cán bộ của tôi hãy vào trong trại mà thực tế học tập ở các anh nữa."

Vừa rời khỏi miền Trung chưa bao xa để vượt qua con sông Bến Hải vào địa phận trong Nam thì thấy rõ ràng cảnh vật đổi khác nhanh chóng với nhà cửa ruộng vườn xanh tươi hơn, con người cũng bớt lam lũ hơn và khí hậu như mát dịu hẳn đi.

Con tầu đi qua ba miền tuy cùng trong một đất nước nhưng tôi cảm nhận ngay được sự khác biệt của cái nghèo, sự chịu đựng và sự khổ cực của con người sống trên xứ Bắc và tại miền Trung so với sự trù phú của miền Nam cho nên dù là phải sống trong chế độ Cộng Sản thì người miền Nam vẫn có thể bươn chải mà tồn tại được dễ dàng hơn người Bắc và người Trung.

Trời đã xế chiều và con tầu chợt dừng lại để chờ đổi đầu máy mới. Khi xe đang tạm thời dừng lại chờ vào trạm, viên Thượng Úy phụ trách chuyến di chuyển nầy tưởng rằng đã đến sân ga nên ra lệnh cho các người tù xuống xe.

Sự bất cẩn của tên Thượng Úy nầy suýt nữa đã gây ra thương vong cho anh em tù nhân trong đó có tôi.

Bởi vì cứ hai người thì còng tay lại với nhau cái còng số 8, và anh Hai Hầu vừa bước chân xuống sân và tôi còn đang trên các bực thang thì bất ngờ tàu chuyển bánh, trong tư thế người trên kẻ dưới và anh Hầu hoàn toàn không biết là tầu đã chuyển bánh nên kéo tôi xuống trong khi tôi đang ghì trở lại.

Tôi thì tay trái cầm cây đàn guitar, tay phải còng với anh Hầu nhưng vẫn nắm lấy cái giỏ xách đựng thuốc men vật dụng cần thiết và bộ ấm trả bằng sứ và chưa biết phải làm sao thì tên Thiếu Úy đứng dưới sân ga và cạnh cửa toa tàu la lên một tiếng:

- “Anh Đại đưa cho tôi cây đàn!”. Trong một tích tắc động hồ như có ông bà xui khiến, tôi ném cây đàn về phía tên Thiếu Úy, tay phải buông cái giỏ ra và nhảy một cái qua hai bực thang xuống lòng sân ga trong khi toa tàu chạy vụt qua phía sau lưng.

Tôi cảm thấy hơi lạnh chạy dọc theo xương sống. Chỉ một tích tắc không nhảy xuống kịp thì hoặc anh Hầu hay tôi sẽ bị té xuống và rớt vào đường rầy xe lửa.

Lúc đó tôi nghĩ là ông bà linh thiêng đã phù hộ cho tôi, nhưng sau này khi vào Hàm Tân gập gia đình thì mới biết ông anh Cả vừa mất vài tháng trước khi tôi lên tầu vào Nam.

Tôi cứ suy nghĩ mãi về vụ thoát chết trong gang tấc đó và tin là chính anh tôi đã nhập vào tay Thiếu Úy mà cứu tôi kịp thời, bởi tay Thiếu Úy này là một trong những tay cán bộ vẫn thường ra vào trại trà lá với chúng tôi và rất thích nghe chúng tôi hát những bản nhạc của chế độ cũ.

Chỉ tích tắc đồng hồ thôi nếu tôi không nhẩy kịp ra khỏi toa tầu thì hoặc tôi hay anh Hầu đã nằm dưới bánh xe lửa.

Tôi lững thững đi theo đoàn người vào sân ga và chưa kịp hoàn hồn thì lại được lệnh leo lên cái tòa tàu mà suýt nữa tôi mất mạng vì nó để xuôi vào Nam.

Đến chiều tối ngày thứ nhì thì chúng tôi vào tới thành phố Huế nhưng tầm nhìn bị che khuất bởi bóng đêm vừa xuống và vì họ kéo rèm che hết các cửa sổ lại vì sợ dân chúng thấy chúng tôi trên tầu.

Tôi chỉ nhìn loáng thoáng thấy một cái sân ga vắng lặng như đang yên ngủ và vài hàng quán còn le lói ánh đèn nhưng đều đã đóng cửa.

Khi tầu đang chạy trên phần đất miền Bắc tôi không có nhiều cảm xúc ngoại trừ sự thương cảm cho cái nghèo cùng cực của người dân với hình ảnh tôi không bao giờ quên được của người đàn bà bụng chửa đã vượt mặt mà vẫn còn ráng chầm chậm gánh gạch vào lò hay những thửa ruộng khô cằn cỗi , nhưng không hiểu sao từ khi tầu bắt đầu chạy vào địa phận miền Nam thì tim tôi như đập nhanh hơn có thể vì như đang trở về quê hương của mình, như đang tới gần hơn gia đình mình.

Chợt một cậu soát vé còn rất trẻ lững thững đi lại phía tôi và anh Hầu rồi hỏi chuyện làm quen:

- “Hình như các bác các chú các anh từ miền Bắc chuyển trại vào trong Nam?”

Tôi nhìn cậu ta gật đầu

- “Ba của cháu trước kia làm cho Bưu Điện Sàigòn cho nên không phải đi "học tập cải tạo". Các bác đã ở tù mười mấy năm rồi nhưng trông còn rất khí phách.”

Tôi cảm động vì hai chữ khí phách mà cậu ta đã dùng và thấy cậu ta có vẻ như không phải là người của họ nên tôi mời cậu điếu thuốc lá, một cái lắc đầu cám ơn và cậu ta lại lững thững đi xuống các toa dưới sau khi gật đầu chào anh em tôi.

Đó cũng là những kỷ niệm nhỏ nhưng khó quên bởi vì điều này chứng tỏ người dân miền Nam vẫn chưa quên những người chế độ cũ và vẫn còn dành phần nào cảm tình cho chúng tôi những người tù.

Suốt thời gian hai đêm ba ngày trên tầu thì tất cả các hàng quà bánh buôn bán trên xe lửa đều bị ngăn cấm không được vào bên trong hai toa có chở tù chính trị.

Khi tầu dừng lại ở ga nào thì các cán binh thường được lệnh canh gác tại các cửa lên xuống và nếu có các người dân buôn bán nào không biết ôm rổ bánh hay thúng khoai sắn mà chen lên hai toa này để bán hàng thì đều bị đẩy xuống ngay.

Ngoài ra sự canh giữ chỉ nghiêm ngặt nhất có lẽ là tại nhà ga Diêu Trì. Tại các ga khác như Nha Trang hay tại Huế thì các cửa sổ được lệnh kéo rèm xuống hết và các cán binh cũng đứng loanh quanh cạnh hai lối đi lên xuống tầu mà thôi.

Nhưng tại ga Diêu Trì thì sự việc xẩy ra hoàn toàn khác hẳn vì khi dân chúng nghe tin tù chính trị về đến miền Nam thì từ trong cổng làng họ kéo nhau ra đông nghẹt rồi ùa lại vây quanh hai toa này và vẫy tay chào chúng tôi rất là thân thương.

Tôi nhìn về phía cổng làng thì thấy một đội võ trang đã án ngữ bên ngoài, đóng cổng xong rồi khóa nó lại bên ngoài cho nên một số dân làng ở bên trong cũng muốn ra chỗ xe lửa đang đậu để xem tù chính trị trở về nhưng vẫn không ra được vì cổng đã khóa trái.

Bất chợt có một em bé gái chỉ khoảng mười hai tuổi dáng gầy gò đã bất chấp lính gác chen vào được toa nơi tôi đang ngồi, bỏ thúng bánh lá xuống chỉ cho chúng tôi thấy rồi thoăn thoắt chạy vụt xuống xe và biến mất vào trong đám đông.

Ban đầu tôi tưởng là em muốn bán hàng nhưng khi nhìn em vụt chạy xuống tầu thì tôi mới hiểu ra là em muốn tặng thúng bánh đó cho chúng tôi.

Chúng tôi không kịp cám ơn em và cũng không kịp đứng dậy để trả lại em thúng bánh hay đưa cho em ít tiền nữa vì sự việc xẩy ra quá nhanh không ngờ. 

Lòng tôi chợt dâng lên một niềm xúc động mãnh liệt khi mắt tôi dõi theo bóng em lẫn vào trong đám đông. Chúng tôi đều nhìn nhau không ai nói được lời gì.

Ngay đám cán binh đứng gần đó cũng trở tay không kịp, cho nên sau khi em bé gái đó chạy xuống sân ga rồi thì có một toán cán bộ xộc vào trong toa tôi đang ngồi và ra lệnh cho các cán binh cầm súng làm thành một hàng rào bên ngoài hai toa này và đẩy dân chúng ra xa con tầu không cho lại gần nữa.

Những hình ảnh ấy, những khuôn mặt dân chúng xáp lại gần toa tầu để nhìn thấy những người tù cho rõ hơn, hình ảnh của em bé gái đi chân đất mặc chiếc quần đen và - cái áo nâu đã bạc mầu với cặp mắt ngơ ngác nhìn chúng tôi em là ai mà đã dám lại bỏ cả thúng bánh lá, tiền kiếm được của cả một ngày buôn bán - trên toa tầu cho những người tù là một nghĩa cử thật quí báu và là những kỷ niệm mà tôi không bao giờ quên được trong đời.

Hồi nhỏ tôi có đọc một cuốn sách rất  nổi tiếng là cuốn “Tấm Lòng Cao Thượng” bản dịch của Hà Mai Anh và tôi liên tưởng ngay đến bé gái thôn quê mộc mạc và nghèo nàn này với thúng bánh lá cho những người tù mà em chưa hề quen biết, mới chính là tấm lòng cao thượng.

Tôi cứ bâng khuâng suy nghĩ mãi không biết tối nay khi em về nhà thì nói với cha mẹ ra sao về thúng bánh lá ấy em đã tặng cho các bác các chú tù chính trị trên đường chuyển trại?

Thúng bánh ấy dù là của người dân tặng cho tù nhưng dĩ nhiên họ không phát cho chúng tôi, và tay Thượng Úy trưởng toán cán bộ giải giao tù đã ra lệnh tịch thu đem về toa của họ.

Thời gian những năm sau này tuy họ đã thả lỏng bớt không quá khắt khe trong trại giam nhưng chúng tôi vẫn bị cấm không được liên lạc với dân chúng.  

Lúc ấy dân chúng vẫn còn bao quanh toa tầu và hò reo chỉ chỏ về phía chúng tôi, anh Bửu Uy cũng ngồi gần, bước lại cạnh tôi bên cửa sổ với một anh nữa và giơ chiếc còng lên cho dân chúng thấy.

Tôi cũng đứng dậy và kéo tay anh hai Hầu với cánh tay đang còng lên vẫy vẫy để chào những người dân của Diêu Trì đã dành cho chúng tôi một tấm lòng thật là hiếm có.

Trong lòng tôi không khỏi dâng lên một chút ấm áp và một cảm xúc khó tả khi nhìn đồng bào mình bao vây con tầu và đám cán binh đang vất vả để ngăn cản họ lại gần.

Mười hai năm trước thì tôi bị xích tay bằng sợi lòi tói với anh bạn đồng nghiệp là anh Sửu ra đi vội vã trong đêm tối, còn bây giờ mười hai năm sau thì còng tay với anh Hầu xuôi Nam nhưng trong tư thế đôi chút tự hào.

Chuyến tầu tôi xuôi phương Nam lần nay thực khác hẳn với các chuyến tầu chở tù từ Nam ra Bắc một năm sau ngày mất miền Nam.

Khi ấy, các người tù bị nhét vào các toa chở súc vật đến kẹt cứng không còn có chỗ ngồi chứ đừng nói là chỗ nằm và không khí ẩm thấp hôi hám đến ngộp thở đã làm một số tù nhân ngất xỉu và chết vì thiếu dưỡng khí.

Chưa kể trên đường tầu chạy qua các làng mạc thì dân chúng đã được đạo diễn nên liệng gạch đá lên tầu kèm theo những lời chửi rủa và nhiều người tù đã bị thương hay thiệt mạng vì những cục đá oán thù đó.

Bây giờ thì tình hình đã hoàn toàn đổi khác dù là chúng tôi vẫn trong thân tù tội nhưng đang trở về miền Nam trong sự đường hoàng của một con người bởi vì lòng dân đã chuyển.

Qua hai đêm trên tầu và bắt đầu ngày thứ ba khi tầu chạy qua các tỉnh phía nam Trung phần thì tôi thấy quả thật miền Nam được thiên nhiên ưu đãi hơn hẳn miền Bắc chưa kể các bãi biển đẹp như trong tranh với các hàng dừa nghiêng nghiêng trên bãi cát trắng phau dọc theo Cà Ná, Mũi Né của Phan Rang, Phan Thiết.

Tôi hít vào những hơi thật sâu cho gió biển lùa vào trong lồng ngực vì ít khi có dịp đi qua bãi biển Cà Ná quá đẹp này nhưng tiếc thay là không dừng chân xuống được.

Có những bãi biển vắng tanh không một bóng người chỉ nghe tiếng sóng vỗ rì rào theo những đợt lăn tăn xô nhau vào bờ và chạy dài mãi đến mãi tuốt tận đàng xa xa, và tôi có cảm giác các bãi biển này rất tinh khiết như chưa hề có bước chân người đặt tới bao giờ.

Chợt có hai tay cán binh bước về phía tôi và nói với anh Bửu Uy:

- “Mấy anh có đàn đây hát vài bản đi. Chúng tôi rất thích bài Chủ Nhật Tươi Hồng (Beautiful Sunday).”

Tôi mỉm cười giơ cổ tay đang còng lên. Hai tay này sốt sắng:

- “Để tôi sẽ chạy lại ngay và mở khóa cho hai anh.”

Tôi lại mỉm cười và lắc đầu. Trong hoàn cảnh này đâu có hứng thú gì mà ca hát.

Tôi có đọc nhiều thư của các bạn được thả về trước viết vào nói là trên chuyến tầu về Nam rất là vui và họ đã hát hò suốt dọc đường và các hành khách trên xe đều tán thưởng và tặng thêm các bánh trái nữa. Nhưng trong hoàn cảnh bây giờ chúng tôi vẫn còn trong tình trạng mất tự do và trong đầu tôi còn bao nhiêu là phân vân cho bước đường sắp đến.

Sau hai đêm và ba ngày thì cuối cùng thì đoàn tầu cũng đến được nơi dừng chân. Với một đoạn đường hơn ngàn cây số mà phải mất đến ba ngày trời mới bò tới đích thì đủ biết con tầu này thuộc loại già nua như thế nào. Tôi tính vận tốc trung bình của nó không hơn vận tốc của xe đạp là bao nhiêu. Có thể nó đã từ thời Pháp để lại và tu sửa tân trang chút ít rồi đưa vào hoạt động.

Vừa bước chân xuống sân ga thì tôi thấy một dẫy xe đang chờ và chỉ biết một điều là mình đang ở trong miền Nam.

Chúng tôi lại lục tục leo lên và các xe này chay bon bon trên đường nhựa mà tôi đoán là Quốc lộ số Một để đến nơi nào chúng tôi cũng không biết.

Tôi ngồi dựa vào lưng ghế, tay phải vẫn còng vào tay trái anh hai Hầu và nhắm mắt lại tìm giấc ngủ, đến đâu thì tính đến đó, con người ta đều có số mệnh lo nhiều cũng chẳng được.

Đoàn xe rời quốc lộ và chạy vào con đường đất đá một đoạn khá xa rồi mới rẽ vào môt con đường lát toàn đá vụn, hai bên đường là những hàng cây cao vút như muốn che rợp cả bầu trời, nhưng nhìn xuyên qua những hàng cây ấy thì thấy phía sau là cả một khu rừng toàn lá Buông.

Khoảng nửa tiếng chạy trên con đường lát đá với hai hàng cây cao vút đó thì chúng tôi đến khu vực trại giam.

Chúng tôi đã đến trại Hàm Tân trong tỉnh Bình Thuận - là điểm dừng chân cho những người tù cuối cùng sau ba ngày di chuyển từ Bắc vào Nam.


* * *

 

NHÀ THƠ

NGUYỄN QUỐC CHÁNH

Nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh sinh năm 1958 ở Bạc Liêu, hiện sống tại Sài Gòn. Tác giả của nhiều tập thơ như Ðêm mặt trời mọc, Khí hậu đồ vật và Của căn cước ẩn dụ, và Ê, tao đây. Thơ của ông đã của ông đã được nhiều tác giả dịch ra tiếng Anh.

Trong bài phỏng vấn dành cho nhà văn Vi Ký, nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh nhận xét về đảng Cộng Sản: “Ðảng Cộng sản thắng Tây và Mỹ bằng máu của dân máu của dân tộc, bằng vũ khí của Nga và Tàu, rồi nộp “độc lập dân tộc”cho Cộng Sản choTầu và Nga. Ai chỉ ra tình trạng thế chấp và bán đứng đó đều bị cho là kẻ phản động. Kẻ phản động có có thể gây tai họa cho Ðảng nhưng lại là phúc của dân.

Quê Hương và Chủ Nghĩa

Chủ nghiã dạy em, thù hận hờn căm
Chủ nghiã dạy em, độc ác bất nhân
Chủ nghiã dạy em, lọc lừa xảo trá
Chủ nghiã dạy em, dối gian trăm ngả
Chủ nghiã dạy em, bội phản vong ân
Chủ nghiã dạy em, giết chết lương tâm
Chủ nghiã dạy em, vô thần đấu tố

Chủ nghiã mù, rước voi dày mả Tổ
Chủ nghiã ngu, thờ đồ tể ngoại bang
Chủ nghiã bưng bô, xây dựng thiên đàng
Chủ nghiã lừa em, những con bò sữa
Chủ nghiã bất lương, ma cô nhà chứa
Chủ nghiã tú bà, dụ dỗ thơ ngây
Chủ nghiã cò mồi, vơ vét luôn tay
Chủ nghiã cai thầu, bán buôn Tổ-Quốc
Chủ nghiã lưỡi câu, móc mồi dân tộc
Chủ nghiã bịp lừa, bánh vẽ tự do
Chủ nghiã cá ươn, tư tưởng vong nô
Chủ nghiã chết đi, Quê Hương vẫn sống

Ai nhân danh hạnh phúc
Thứ hạnh phúc ngục tù
Ai nhân danh dân chủ
Thứ dân chủ si ngu
Ai nhân danh chân lý
Thứ chân lý đui mù

Bao nhiêu năm, ai nhân danh chủ nghiã,
Tự-Do xích xiềng, Dân-Chủ dối gian
Mác-Lênin, đâu phải người Việt Nam!
Sự thật đó có làm em đau nhói ?

Vẫn chập chờn lượn bay bầy quạ đói
Chồn cáo kia có rình r