Dac San CVA 2004

ĐẶC SAN

CHU VĂN AN 2004

Hội Ai Hữu Cựu Học Sinh

Chu Văn An Bắc California.

MỤC LỤC

Lá thư Ban Chấp Hành Ban Chấp Hành 5
Chân dung Thầy CVA Hoàng Cơ Định 6
Nhà thơ Chu Văn An Hoàng Hà Thanh 12
Một thời chinh chiến Đinh Nhật Thịnh 14
Từ ngoại lai Đặng Lương Mô 22
Tiền đồn (thơ) Cung Trầm Tưởng 40
Cơn uất Hạ Lào Bùi Đức Lạc 41
Vịnh Chu Văn An (thơ) Đỗ Bưởi 67
Kỷ niệm xa xưa Trương Đăng Đệ 68
Dạ ẩm (thơ) Phạm Hữu Thuật 76
Tưởng niệm Đặng Chí Hiếu Vũ Đức Nghiêm 77
Giới trẻ dấn thân Nguyễn Xuân Vinh 81
Gặp nhau chiến trận (thơ) Phạm Quân Khanh 87
Người em gái miền Nam Đặng Tường Ngữ 88
Tình yêu như lửa ấm (thơ) Minh Viên 93
Đại bàng gãy cánh Kim Vũ 94
Sống với cười Đinh Bá Hoàn 99
Thử tìm hiểu về tâm thức Trần Ngọc 100
Độc tài Mạc Trần 110
Ông bình vôi Vị Chung 125
Bạn cũ (thơ) Phan Chừng Thanh 130
Một đám cưới ngày ấy Trần Trị Chi 131
Thêm lần nữa yêu em (thơ) Trần Anh Linh 153
Chùm hoa Cosmos Vũ Ngọc Ruẩn 154
Quy Nhơn, một kỷ niệm Phạm Văn Nhuệ 156
Thói quen Nguyễn Thạch Lục 173
Bên đời hiu quạnh Nguyễn Gia Bình 177
Về những đổi thay Đặng Gia Thoại 184
Sau cuộc chiến (thơ) Cao Mỵ Nhân 193
Đời quân ngũ Phạm Nguyên Khôi 194
Những bức hình cũ Nguyễn Đức Nguyên 206
Nỗi buồn chiến tranh Nguyễn Thượng Dực 216
Đêm Xuân nhớ mẹ (thơ) Nguyễn Văn Tài 220
Nhân một chuyến đi Nguyễn Thọ Chấn 221
Bạn có biết? Ý Nhi 234
Tiếc thay mùa hè (thơ) Trần Khánh Hồng 238
Điểm sách “Dầu Hỏa...” Lê Văn Ninh 239
Đường trường xa Đoàn Văn Khanh 242
Ray rứt Nguyễn Đình Phương 250
Những ngày tháng ghi vội Phan Phi Liêu 256
Bài thơ không tên (thơ) Đàm Trung Phán 264
Chuột và người Lê Hoàng Giang 265
Kỷ vật (thơ) Chuẩn Nghị 274
Dịch thơ bài “Kỷ Vật” Vũ Mạnh Phát 275
Giới thiệu sách “Việt Nam, ..” Đoàn Phan Trí 276
Tâm sự một thằng hèn Châu Giang 279
Đi thăm GS Kham Nguyễn Như Hùng 284
Ký sự đồng bằng Cửu Long Đặng Khắc Khánh 292
Mùa Xuân không về... (thơ) Việt Bằng 298
Sex và cao huyết áp Nguyễn Thanh Giản 299
Giận hờn Lưu An 307
Lá thư Paris Trương Bách 329
Canh Dưỡng Sinh Phạm Nguyên Khôi 336
Dịch Cân Kinh Huỳnh Bửu Khương 340
Tường trình Họp Mặt Tân Niên Phạm Nguyên Khôi 346
Tường trình Picnic Liên Trường Đ. P. Trí – P.N. Khôi 349
Tương phản (nhạc) Lê Q. Tấn phổ nhạc 352
Người cha Việt (nhạc) thơ Đào Tiến Luyện 354
Hình CVA 1956, lớp 1B2   356
Trong sương sớm (nhạc) Nguyễn Đức Chung 358
Hình CVA 1970, lớp 2B3   359
Địa chỉ liên lạc Ban Biên Tập 360
Danh sách Ban Chấp Hành Ban Biên Tập 362


Lá thư Ban Chấp Hành

Ban Chấp Hành Hội Ai Hữu Cựu Học Sinh Chu Văn An Bắc California nhiệm kỳ 2002-2004 xin kính chào toàn thể quý vị Giáo Sư và quý Đồng Môn.

Chúng tôi đón nhận tất cả mọi ý kiến xây dựng của quý vị và chúng tôi hoan nghênh mọi sự giúp đỡ của quý vị trong công việc điều hành Hội Chu Văn An Bắc California. Nếu có những lầm lỗi, ước mong sẽ nhận được sự chỉ giáo của quý vị.

Chủ đề của Đặc San 2004 là “Một thời chinh chiến”. Chúng tôi xin cám ơn quý Đồng môn đã hưởng ứng viết bài.

Để biết tin tức của hội và các bạn Đồng Môn, chúng tôi kính mời quý vị ghi danh vào diễn đàn Tin Thư Chu Văn An (This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.)

Chúng tôi cũng xin chân thành cám ơn quý vị Giáo Sư, quý Đồng môn và thân hữu đã ủng hộ tài chính và đã giúp đỡ chúng tôi trong việc điều hành hội Ai Hữu Cựu Học Sinh Chu Văn An Bắc California.

Ban Chấp Hành Hội Ai Hữu Cựu Học Sinh Chu Văn An Bắc California.


Chân Dung

Thầy Chu Văn An

CVA Hoàng Cơ Định

Vào đầu tháng 10 năm 2001, tình cờ đọc trong tờ Tuần Báo AsianWeek, nơi mục quảng cáo của Phân Khoa Sư Phạm, Đại Học CalTech, tôi thấy hình của Thầy Chu Văn An bên cạnh một số nhà giáo dục nổi tiếng trên thế giới.

Là một cựu học sinh Chu Văn An, tôi không khỏi cảm thấy vinh dự và sung sướng. Nhưng sau vài giây phút hạnh phúc, tôi bỗng cảm thấy thất vọng vì tướng mạo vị Thầy của mình trong hình vẽ trông không được sắc sảo bề thế như tôi mong đợi. Dường như đó là hình chụp từ một bức tượng khắc trên gỗ, có tô mầu, đường nét thô sơ. Trước đây, tôi đã được thấy hình này trên bìa của một cuốn đặc san cựu học sinh CVA, hồi đó cứ tưởng là tác phẩm của một "tài tử" nào đó, vẫn còn giữ được nét vẽ của ... tuổi học trò.

Hai tuần sau, trong một dịp tình cờ, tôi được gặp Mai Lân, một họa sĩ và điêu khắc gia nổi tiếng năm nay đã gần 80. Lúc chia tay Mai Lân tâm sự với tôi:

-         Anh sắp trả xong một món nợ ( ? ) với cụ Nguyễn Du ...

Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

Cứ nghĩ tới hai câu này mà anh phải cố vẽ cho xong 240 tấm tranh minh họa Truyện Kiều!

Biết Mai Lân là một họa sĩ có tài, ông đã vẽ những nhân vật của Nguyễn Du qua những đặc tính mô tả trong cốt truyện, tôi hỏi đùa họa sĩ:

-         Anh có thể giúp em vẽ tấm tranh thứ 241 được không? Em muốn có hình một ông Thầy để thờ, nhưng sinh thời cụ không có tấm hình chụp nào...

-         Thì mình cứ căn cứ vào tính khí và đức độ của cụ mà vẽ ra thôi, anh có thể giúp được chú việc đó. Nhưng độ này anh bận lắm, hứa đấy nhưng không thể làm ngay được đâu.

-         Thế thì em sẽ nhờ anh vẽ giùm chân dung Thầy Chu Văn An!

Tôi đã chia tay với họa sĩ với lời ước hẹn đó và tự nhủ sẽ cố tìm một số tư liệu về Chu tiên sinh để trao lại cho Mai Lân.

Ngày 22/10/2001, tôi gửi một Email cho danh sách cựu HS-CVA Bắc California để hỏi xem anh em có ai có tài liệu, hình ảnh, bài viết gì liên hệ tới Thầy Chu Văn An thì vui lòng cho xin.

Chỉ 40 phút sau, tôi nhận được hồi âm từ anh Dương Đình Tuấn (từ Miền Đông Hoa Kỳ thì phải ), anh Tuấn đã cho tôi tài liệu từ "Trang Nhà" của anh Nguyễn Duy Chính. Bài viết của anh Chính là một tổng hợp từ nhiều tài liệu, có cả hình của Thầy lẫn hình chụp đền thờ Thầy tại làng Thanh Liệt. Tiếp theo hồi âm từ anh Tuấn tôi cũng nhận được tài liệu từ anh Nguyễn Như Hùng và ảnh chụp hình của Thầy tại Văn Miếu Hà Nội do anh Lê Thái gửi tặng. Anh Thái cho biết tấm hình rất cổ, có thể được vẽ lúc Thầy còn sống. Tôi có viết thư hỏi anh về chi tiết đó có căn cứ trên một sự kiện cụ thể nào không, không thấy anh trả lời, nên tôi nghĩ chắc anh cũng chỉ ... đoán vậy mà thôi.

Anh Lê Duy San cũng có liên lạc và hứa giúp, nhưng cuốn báo của anh, ngoài bìa có hình Thầy lại lỡ cho bạn mượn ... đòi chưa được. (Anh vốn là người có tâm tốt, nhưng cũng có khi ... lực bất tòng tâm).

Tôi cũng nhận được từ Mai Lân tài liệu về Chu Văn An do Vũ Tuấn Sán biên soạn. Như vậy là trước khi giúp cho việc minh họa chân dung của Thầy, ông cũng đã bỏ công tìm kiếm tài liệu về Thầy, thật là tận tình và đáng quý.

Căn cứ trên các tài liệu tôi nhận được, về phương diện hình ảnh, Thầy Chu Văn An hiện có hai bức hình, tạm gọi là hình vẽ và tượng gỗ. Trong hình vẽ treo tại Văn Miếu, Thầy cầm bút ngồi xếp bằng trước án thư. Về bức tượng gỗ tại Đền Chu Văn An, Thầy có dáng ngồi bệ vệ trên ghế. Hai bức hình mới trông thấy khác biệt nhưng nhìn kỹ thì có một số điểm tương đồng về khuôn mặt, cách để râu và hình vẽ trên áo.

Như vậy là có hai giả thuyết:

Giả thuyết thứ nhất: Đây là hai sáng tác độc lập, cả hai đã được thực hiện khi Thầy còn sống và đường nét (dầu là tôi thấy không được mắt) có phảng phất giống Thầy.

Giả thuyết thứ hai: Hai tác phẩm đã không được thực hiện cùng thời và tác giả thứ hai đã phỏng theo đường nét trong tác phẩm của tác giả thứ nhất. Như vậy thì chưa chắc các tác phẩm đã được thực hiện vào sinh thời của Thầy. Cũng cần ghi nhớ là Thầy sống cách đây 7 thế kỷ và ngay cả một số sáng tác của Thầy cũng đã bị giặc Minh cướp mang về Tầu vào đầu Thế kỷ 15.

Ngày nay, bức hình Chu Văn An mà tôi được hân hạnh trình bầy cùng quý bạn trong số đặc san này là bức Chân Dung thứ ba của Thầy, thực hiện vào đầu Thế kỷ 21 do Mai Lân minh họa, với sự hưởng ứng của các môn sinh: Dương Đình Tuấn, Hoàng Cơ Định, Lê Duy San, Lê Thái, Nguyễn Duy Chính và Nguyễn Như Hùng.

Ngoài ra, với các tài liệu nhận được về Thầy Chu Văn An, tôi cũng mong muốn viết được một bài về thân thế và công đức của Thầy, nhưng vì chủ ý muốn giới thiệu cùng quý bạn xa gần về bức Chân Dung mới của Thầy, tôi xin để dành bài viết về Thầy cho một dịp khác.

Chỉ xin được chép lại vài dòng của sử gia Ngô Thì Sĩ viết về Thầy cách đây 500 năm*:

"Chu Văn Trinh đạo học thuần túy, khí tiết cao thượng, ngay thẳng không nghĩ đến thân, lòng trung không quên vua, thong dong nơi triều hội, coi thường tước lộc, khi đi khi tới, khi tiến khi lui, từ hay nhận, lấy hay cho, rất chính đáng.

Nước Việt, người được tôn là bậc tống Nho, từ xưa đến nay mới chỉ có một. Tuy không được đem hết tài năng để giúp khi thời thế gian nan mà thong dong nơi đồng ruộng, khi làm khi nghỉ tự do, nhưng vua thì kính tin, quan thì tôn trọng. Bọn quyền gian dù giận cũng nín thở chẳng dám làm gì ..."

Mong rằng quý bạn sẽ tìm thấy hình ảnh của con người chính trực và uy dũng này qua bức chân dung của Thầy Chu Văn An do Mai Lân minh họa.

CVA Hoàng Cơ Định

* * * *


Nhà Thơ CHU VĂN AN

CVA Hoàng Hà Thanh

CHU VĂN AN là một nguời thầy mẫu mực, một nhà Nho liêm khiết, một nhà Đông Y uyên bác và tất nhiên là một nhà sự phạm lỗi lạc ở cuối đời nhà Trần. Theo thần tích làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay là huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội), nơi thờ Ông làm thần thành hoàng. Ông sinh năm 1292 (Nhâm Thìn) và mất năm 1370 (Canh Tuất), năm Thiệu Khánh thứ nhất đời vua Trần Nghệ Tông. Vua làm lễ tế và đặt tên thụy là Văn Trinh.

Trong văn học cổ Việt Nam, Ông để lại nhiều tác phẩm : Thất Trảm Sớ (thất lạc), Tiều An Thi Tập, Tiều An Quốc Ngữ Thi Tập, Tứ Thư Thuyết Uớc. Nhưng chỉ còn sưu tra được 12 bài thơ của Ông, đăng trong Toàn Việt Thi Lục. Ngoài những tác phẩm văn học, Ông còn soạn bộ sách về Đông Y, Y Học Yếu Giải Tạp Chu Di Biên (hình như bộ y tế hay Viện Hán Nôm ở Hà Nội có nguyên bản, nhưng chưa được dịch ra chữ Nôm).

Trong số những học trò thành đạt ra làm quan có Phạm Sư Mạnh và Lê Quát. Hai ông Mạnh và Quát là 2 nguời bạn chí thân. Mặc dù 2 ông đã giữ những chức vụ cao trong triều đình, nhưng vẫn thường xuyên tới thăm Thầy cũ, Thầy Chu Văn An. Tuy công danh đã thành đạt, nhưng vẫn bị Thầy Chu Văn An quở mắng nếu sai phạm. Khi tới thăm Thầy, vẫn quì dưới chân giường. Có khi Thầy cấm không cho gặp mặt. Hai ông Mạnh và Quát là cái gương sáng của triết lý “Tôn Sư Trọng Đạo” trong xã hội Việt Nam. Chúng tôi xin trích đăng vài bài thơ của Thầy Chu Văn An:

Nguyệt tịch bộ Tiên Du sơn tùng kính

Hoàn hoàn bộ tùng đê

Cô thôn đạm ái mê

Triều hồi, gianh địch huýnh

Thiên khoát, thụ vân đê

Túc điều phiên thanh lộ

Hàn ngư được bích khê

Xuy sinh hà xứ khứ

Tịch mịch số sôn tê (tây)

Có nghĩa là:

Đủng đỉnh dạo bờ thông

Làng quê bát ngát trông

Nước lui còi bên thoảng

Trời lộng khói cây lồng

Chim đậu tan sương lạnh

Cá bơi vẫy nước trong

Tiếng sênh đâu vảnh tá

Hiu quạnh một non không.

(bản dịch Hoàng Việt Thi Văn Tuyển)

* * *

MỘT THỜI CHINH CHIẾN

CVA NHẬT THỊNH

Hai mươi tám năm đất nước ngập chìm trong bi thảm, giờ đây nghĩ trở lui dĩ vãng tôi không khỏi thấy dấy động nơi tâm hồn nhiều hình ảnh hãi hùng của chiến tranh, máu xương chất ngất, không gia đình nào không tránh khỏi những đau thương, đổ vỡ. Nhiều bạn tôi ngày nào còn ngồi bên nhau dưới mái trường có lá me bay, có những cánh phượng rụng đỏ sân trường báo hiệu hè sang, những chiều thứ bảy sánh vai nhau bên bóng hồng nơi hè phố, cỏ cây dát nắng vàng, đời sống thiên đường, vậy mà bỗng dưng một sáng nào đã nhận được lệnh xếp bút nghiên để lên đường theo sự vẫy gọi của non sông, làm trọn trách nhiệm của người thanh niên thời chiến, giã từ người mẹ hiền, người tình không tuổi, và khi mãn khóa ra trường đã cùng nhiều đồng ngũ khác xuôi ngược khắp bốn vùng chiến thuật, xông pha nơi trận tuyến để ngăn giữ bước chân địch.

            Những tháng năm khói lửa đặt bước chân qua nhiều chiến dịch, nhiều trận đánh đẫm máu Đồng Xoài, U Minh, Bời Lời, Đầm Dơi, Bến Cát, Đức Cơ, Pleimé, Bình Định, Bồng Sơn – Tam Quan, Quảng Ngãi, Thừa Thiên - Huế, Phù Lưu, Quảng Trị...ngoài những chiến tích lẫy lừng gặt hái được, tôi đã không khỏi đau buồn thấy trong số họ đã có những người bạn của tôi ngày nào còn ngồi bên nhau nay đã ngã xuống nơi đây. Thời chinh chiến tạo dựng nhiều ấn tượng chia ly, thương đau, chết chóc, hình ảnh này đã một thời tôi thấy quanh quất đâu đây, mỗi khi nghe giọng hát truyền cảm, âm lượng vang vọng của Thái Thanh cất cao trong ca khúc “Kỷ vật cho em” thơ của Linh Phương, nhạc của Phạm Duy, tiết tấu âm giai mạnh mẽ khơi gợi nhiều hình ảnh kinh hoàng, đi thẳng vào xúc cảm tâm hồn, nên tại miền Nam khi đó có người cho rằng nó đượm màu sắc phản chiến, nhưng xưa kia hiện trạng đó không phải hiếm có:

            “Em hỏi anh, em hỏi anh, bao giờ trở lại? – Xin trả lời, xin trả lời, mai mốt anh về – Anh trở lại, có thể bằng chiến thắng Pleimé – Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giả – Anh trở về, anh trở về, hàng cây nghiêng ngả – Anh trở về có khi là hòm gỗ cài hoa – Anh trở về trên chiếc băng ca – Trên trực thăng sơn màu tang trắng – Anh trở về, chiều hoang trốn nắng – Poncho buồn liệm kín hồn anh”

            Không phải bây giờ mà ngay từ những thời điểm chớm nở cuộc kháng chiến chống Pháp mùa Thu năm nào, trong khoảng khắc lịch sử dõng dạc tiếng kèn xung trận, hàng hàng lớp lớp thanh niên xông pha khói lửa, thôi thúc trai tráng cả nước cất bước lên đường trong bản “Xuất quân”, Phạm Duy đã nhìn thấy trước những xót đau không thể tránh khỏi của cuộc hành trình đi vào oan khuất, chia ly và tàn phá, phơi trải cốt khô nơi nhạc phẩm “Chiến sĩ vô danh”, hồn oan về hú với gió gào ngàn: “Gươm anh linh đã bao lần vấy máu – Còn xác xây thành, thời gian luống vô tình – Rừng trầm phai sắc – Trống điểm tàn canh – Hỡi người chiến sĩ vô danh.”

            Một thời chinh chiến nhìn trở lui tôi không thể xua đuổi nhiều ấn tượng chôn chặt trong tâm hồn, bởi những bạn tôi và ngay bản thân tôi đã hơn một lần giã từ trường lớp, giã từ công việc theo đuổi để dấn thân, nhập cuộc. Thành thử những trận chiến đi vào sử sách đã khó phai nhòa nơi tôi, nhưng nhiều khi nghĩ lại tôi thấy đau sót nhiều, bởi một số người tự coi mình như những chứng nhân của thời đại, làm công việc ghi chép những biến cố lịch sử đã bởi thành kiến, tư duy lệch lạc, lập trường một chiều, phản chiến, khuynh hướng thiên cộng sản, đem bóp méo sự kiện, để thiệt hại nhiều cho lớp người sau, khiến họ lâm vào thế mê hồn trận, bị rối mù trong đống sử sách, lặn ngoi tìm lối thoát, kiếm tìm lối ra.

            Trận chiến lớn nhỏ tràn ngập những thương đau, nỗi kinh hoàng ấy cho tới giờ đây không một ai có thể lãng quên, tôi nghĩ đó là trận chiến Tết Mậu Thân. Tất nhiên, trong chiến tranh những cảnh chết chóc không thể không xảy ra, thêm những cảnh tàn phá tan hoang. Tuy nhiên trong trận chiến này không nhắc lại những sự kiện thê thảm, như hình ảnh tại Phú Cam, cộng quân Bắc Việt khi tiến vào xóm làng bằng lực lượng biển người, đã xông vào nhà thờ bắt 300 đàn ông, thanh niên đem đi, trong số đó có những người từ Nam Giao chạy về đây, hy vọng trốn trong nhà thờ để tránh bom đạn, và khỏi bị đem giết tập thể tại khe Đá Mài thuộc vùng núi Đình Môn, Kim Ngọc, quận Nam Hòa, Thừa Thiên, tôi thấy một sự kiện diễn ra, vượt ngoài sức tưởng của con người về sự tàn bạo dã man.

            Đó là vợ chồng Thạc sĩ Y khoa Đại học Greifswald và Freiburg, Horst Gunther Krainick, giáo sư Raymund Discher, bác sĩ Alterkoster, chấp nhận xa dời tất cả đến tận một xứ sở xa xôi, chiến tranh, truyền đạt kiến thức của họ cho lớp người địa phương, đã phải trả một giá quá đắt bằng chính bản thân mình, chỉ bởi tận tụy phục vụ cho khoa học và nhân loại. Họ bị cộng quân bắt trói thúc ké bằng dây điện thoại truyền tin, người nọ dính người kia, ở tư thế quỳ thẳng đứng, bắn từ thái dương trái sang phải và vùi nông tại chùa Tường Vân nằm về hướng tây nam núi Ngự Bình.

            Một chuyện vô cùng cảm động khó thể ai ngờ tới đã diễn ra ngay tại Tòa Viện Trưởng Huế, mà tôi được nghe kể lại là khi Đức Tổng Giám Mục Huế Nguyễn Kim Điền chủ tế, những chiếc quan tài của họ được quàng tại đây làm lễ, trước khi di chuyển máy bay vào Sàigòn để đưa về quê hương Tây Đức. Trong sự tĩnh lặng trang nghiêm của buổi lễ bỗng vang lên từ cửa tiếng thổn thức, mọi người vội quay trở lại nhìn theo phía ống kính của máy quay phim, chầm chậm thu từng thước hình sử liệu, bỗng thấy xuất hiện một thiếu nữ thùy mị, đoan trang trong y phục dài đen, ngang đầu quấn vành tang trắng, nức nở tiến vào, tay ôm một vòng hoa, trên dải băng tím hiện lên hàng chữ trắng: “To you with all my sacred and humble love...” thật kín đáo và đầy nghĩa tình. Thiếu nữ nọ nhẹ đặt vòng hoa trước linh cữu của bác sĩ Alterkoster, khóc sướt mướt trước quan tài. Những người biết chuyện cho hay cô phụ trách Thư viện Y khoa Huế đã thầm yêu người thầy thuốc nọ, bỏ quê hương ngàn đời yêu dấu của mình đặt chân tới xứ sở chiến tranh này, ôm ấp lý tưởng đào tạo một thế hệ trẻ dấn thân phục vụ cho nhân sinh, không ngờ đã trả đền nợ máu. Họ yêu nhau kín đáo, thầm lặng dường tựa vẻ u tịch của những lăng tẩm uy nghi đất thần kinh, không mấy ai hay biết.

            Lý tưởng cao cả xưa nay vẫn là những lý tưởng đớn đau, tương tự bác sĩ Carlo Urbani gốc người Ý đã sớm nhận ra chứng bệnh hô hấp cấp tính SARS tại bệnh viện Việt Pháp Hà Nội, phát sinh từ thứ vi khuẩn mới trong loài “coronavirus” bắt nguồn từ miền Nam Trung quốc. Ba năm qua bác sỹ Udali sống với vợ và ba con nhỏ tại Hà Nội, thực hiện chương trình nghiên cứu phương pháp điều trị các căn bệnh truyền nhiễm của Á Châu. Ngày 11.3.2003 bác sỹ Udali qua Bangkok chủ tọa một cuộc họp, bất thần bị sốt cao, đưa vào phòng cách ly và mất ngày 29.3.2003, hưởng dương 47 tuổi. Người ta nghi ngờ bác sĩ Udali đã chết bởi nhiễm căn bệnh bí mật do chính mình phát hiện, hy sinh thân mình để cứu chữa.  

            Một thời chinh chiến, quê hương luôn luôn u ám một màn tang đen, buồn ảm đạm. Bao nhiêu trận chiến đẫm máu tiếp diễn đêm ngày, thậm chí cộng quân Bắc Việt đã xông xáo vào tận trường học bắt đi những thiếu niên tuổi đời chưa chớm nở gửi đi chiến trường miền Nam, tiêm thuốc kích thích trước khi cho xung trận, đẩy chiến tranh sang một giai đoạn mới, dùng chiến thuật biển người để càn quét theo kiểu Trung cộng áp dụng tại chiến trường Triều Tiên những năm 1951. Trận Đồng Xoài thuộc quận Đôn Luân tỉnh Phước Long, khởi đầu lúc 11 giờ 30 đêm ngày 9.6.1965, trong “Portrait of ennemy” D. Chanoff và T.V. Đoan kể chuyện một cán bộ cộng sản phụ trách về Hoa vận, nghĩa là lo đi tuyển mộ các người gốc Hoa đưa vào bộ đội đi tham chiến cho cộng quân Bắc Việt, phác giác khi tới rừng tỉnh Tây Ninh, cộng quân được huấn luyện về quân sự và chính trị trong khoảng ba tháng trước khi gửi ra chiến trường, thành thử tuổi thọ của chúng rất phù du ngắn ngủi.

            Chúng bị đánh đổi xương máu một cách “phí phạm” trong thứ chiến thuật biển người. Nga đã thử nghiệm vào chiến tranh vệ quốc năm 1941, bị tổn thất nặng nề nhân mạng, khiến Thống chế G. Zhukov phải hủy bỏ sau đó. L. McAuley trong “The battle of coral” tiết lộ một binh sĩ Úc tham chiến tại đây đã tỏ ra đau sót khi thấy cộng quân bị lợi dụng làm vật “tế thần”, sự tổn thất nhân lực trẻ trung như thế thật ác độc, chứng tỏ tập đoàn lãnh đạo có nhiều khả năng mê hoặc họ.

            Điều này người ta thấy sáng tỏ nhiều trong trận đánh Pleime diễn tiến ngày 19.10.1965, Việt cộng sau trận chiến đã tử thương 726 cán binh, không kể số bị thương trong khi quân đội miền Nam chỉ tổn thất 30 người và Hoa Kỳ 3 người. C.A. Beckwith và D. Knox trong “Delta Force” cho biết một sĩ quan Mỹ đã thấy hai xác địch quân bị xích vào khẩu súng đại liên, ý chừng sợ họ kinh hoàng bỏ chạy, buộc họ phải sống chết với trận địa, và đây chỉ là điển hình của nhiều vụ khác vậy.

            Từ những trận chiến này Việt cộng đã thể hiện nhiều chứng tích tàn ác, thất thoát nhiều nhân mạng, phá hoại tài sản dân chúng. Trận Khe Sanh, không người dân miền Nam nào trước năm 1975 không nghe nhắc tới, chia trận chiến thành từng giai đoạn, hai bên tranh giành các ngọn đồi 881, 861, 558, 881, 950, 471, trải dài từ ngày 24.4.1967 đến ngày 12.4.1968, nhằm mục đích khám phá các các hoạt động của Việt cộng trong vùng. Chiến trận này người Mỹ tử thương khá nặng nề, có tới 13 phi công, tổng cộng lên tới 205 người chết, 816 bị thương nặng phải di tản và 852 bị thương nhẹ, và lần đầu tiên Việt công dùng chiến xa trợ chiến. Việt cộng tử trận 2000 người và bỏ lại chiến trường sau khi rút quân 182 hỏa tiễn, đạn súng cối, 260.000 đạn các loại, 13.000 đạn súng cộng đồng, 8700 mìn bẫy, lựu đạn và hàng trăm khẩu AK 47.

            Thoạt đầu vị trí này chỉ là một làng nhỏ được các nhà trồng tỉa người Pháp khai khẩn đồn điền cà phê, nằm ở phía đông bắc tỉnh Quảng Bình. Ông Eugène Poilane sinh năm 1888 tại Saint Sauveur de Landemont, trong một gia đình nông dân, đặt chân tới Khe Sanh năm 1918. Ngoài công việc khai khẩn đồn điền ông còn nghiên cứu các loài thảo mộc và tính đến năm 1947 ông đã gửi về viện bách thảo Sàigòn được khoảng 5000 mẫu thực vật. Bà Bordeauducq sau khi ly dị ông Poilane đã xây dựng một đồn điền cà phê, kể từ đó nhiều người Pháp khác đã lần lượt lui tới đây. Năm 1954 đồn Pháp tại Khe Sanh bị Việt cộng tấn công, ông Poilane bị thương. Năm 1962 hai vợ chồng ông John và Carolyn Miller thuộc tổ chức Wycliffe Bible Translator tới đây nghiên cứu ngôn ngữ các sắc dân thiểu số Bru thuộc chủng tộc Mon Khmer có khoảng 50.000 người và dịch kinh thánh.

            Tháng 3.1964 linh mục Poncet dòng “Father of Foreign Mission” từ Paris tới phụ trách giảng đạo cho giáo dân đã cùng bà Madelaine Poilane tức con dâu ông Poilane và các binh lính thuộc Lực lượng Đặc biệt Mỹ đảm nhiệm công tác dân sự vụ. Ngày 13.2.1968 linh mục Poicet bị Việt cộng thảm sát trong biến cố Tết Mậu Thân tại Huế. Ngày 30.4.1964 trong khi di chuyển lọt vào ổ phục kích của Việt cộng, ông Linarès thoát nạn, nhưng ông Poilane bị tử thương. Năm 1967 sau khi giải tỏa căn cứ Khe Sanh, Felix con của ông Poilane trở lại thăm đồn điền đã bị tử nạn, máy bay C.130 đáp lố phi đạo.

            Nghĩ tới chiến tranh, mường tưởng những tang thương đổ nát một thời chinh chiến, tôi không thể không quên những hậu quả di lụy của nó. Nhiều vành khăn tang trắng trùm vội lên đầu những thiếu phụ bên bầy con thơ dại núp bên mẹ khe khẽ hỏi: “Ba đi đâu chưa về hở mẹ”. Tôi không nhớ rõ tôi đã chứng kiến tới lần thứ mấy những hình tượng này trong thời gian động viên trong quân ngũ. Những lễ phủ cờ trang nghiêm và trầm buồn mỗi khi có những tử sĩ được phi cơ trực thăng đưa về từ chiến trường xa, những góa phụ tay run run đón nhận những lá cờ gấp chéo trao tay trước khi quan tài được hạ huyệt, những bông hoa, những vốc đất vội vàng ném theo xuống huyệt. Tôi đã chứng kiến cảnh tượng họ ngồi dài trên ghế chờ thành lập hồ sơ mười hai tháng tử tuất, tiền cấp dưỡng quả phụ, cô nhi, đớn đau nghĩ tới chồng mình gục ngã ngoài chiến trường, không kể những bà vợ mà chồng được báo cáo mất tích hay bị kẻ thù giam cầm, đầy đọa.

            Đã có những người vợ trẻ, nhìn vành khăn sô trắng toát họ chít vội lên đầu, không ai tránh khỏi ứa lệ, khi biết họ mới mất chồng không bao lâu sau ngày hợp hôn, lạc lõng trước Bộ Cựu Chiến Binh, chờ đợi làm thủ tục trợ cấp. Và không ai không khỏi trầm ngâm mỗi lần nhìn thấy trên quốc lộ một chiếc xe Lambretta ba bánh chở một quan tài phủ lá quốc kỳ, quẹo vào con đường thôn lồi lõm ổ gà, kế bên một phụ nữ tay ôm đứa trẻ dại, đi nhận xác chồng về. Mí mắt đỏ hoe đã khô cạn dòng lệ, sưng húp đớn đau. Tôi bỗng dưng nhớ tới một một mục nhỏ kiểu tâm tình độc giả do ký giả Abigail Van Buren phụ trách trên tờ nhật báo “San Francisco Chronicle” số phát hành ngày 29.5.2000, kể chuyện một phụ nữ Mỹ có chồng là một quân nhân Thủy quân Lục chiến đi dạo khu thương xá. Nhiều người nhìn chồng bà trong bộ quân phục. Một thiếu phụ bỗng tiến tới gần ngỏ lời cám ơn chồng bà về những gì đã cống hiến cho xứ sở. Thiếu phụ cho biết trước đây chồng bà cũng phục vụ binh chủng này trong nhiều năm, nay đã yên nghỉ tại nghĩa trang Arlington.

            Nghĩ tới những bà vợ chiến sĩ, ai đã trải qua đời quân ngũ mà không nghĩ tới những mất mát hy sinh của họ. Họ chung thủy chờ đợi ngày về của chồng mình trải qua những lần từ biệt đầy nước mắt mỗi khi hết phép 24 giờ, hay ngủ trên những chiếc giường trống trải, an ủi đàn con thơ dại và mỗi khi có việc đi đâu, không dám nán lại lâu, bởi chỉ lo những tiếng reo điện thoại từ xa vọng về. Người vợ chiến sĩ sau ngày lịch sử sang trang năm 1975 đã chịu nhiều nỗi cơ cực, mỏi mòn chờ chồng đi tù gọi là cải tạo trở về. Họ gặp nhiều nỗi khó khăn mỗi khi đi thăm nuôi, tiếp tế thuốc men cho chồng, lặn lội trên tuyến đường Nam Bắc vượt hàng ngàn cây số để nhìn thấy mặt chồng trong thoáng chốc, gày còm bởi nghịch cảnh kỳ thị lý lịch và trả thù, đầy ải cho chết. Tôi chưa chứng kiến tận mắt nhưng đọc báo có thấy đề cập tới một số bà vợ trên đường vào Thanh Phong thăm chồng đã bị giết chết, có người bị cưỡng hiếp và đâm chết bằng lưỡi lê ở nhà tiếp tân trại Phước Long. Còn việc cướp giật là chuyện đời thường ở huyện.

            Không kể một thiểu số đã không chịu đựng nổi những đắng cay của đời sống, tự vượt qua nổi, trong một xã hội ngập ngụa những hành động dã man của kẻ thù, lầm lỡ, hay bị cám dỗ đã nhắm mắt đưa chân kết hôn với các cán bộ cộng sản. Hoặc một số những bà vợ nào khác vội phụ bạc chồng bởi bản chất xấu, ôm cầm thuyền khác khi chồng còn mắc vòng lao lý. Nói lên sự kiện đớn đau này tôi không có ý phê bình một ai mà chỉ muốn dành cho những bà vợ thủy chung, giữ trọn bản sắc cao đẹp của người Đông phương, còn thấm đượm nền Nho học xưa cũ, những bông hồng thắm tươi. Những gia đình binh sĩ không bị tù cải tạo, thì bị phân biệt đối xử, đuổi đi vùng kinh tế mới nơi đồng không mông quạnh, lam sơn chướng khí, con cái không có trường học, bị bắt đi thanh niên xung phong tải đạn, hay ép buộc đi nghĩa vụ bỏ thây bên Kampuchia.

            Chiến tranh triền miên trải từ thời Bắc thuộc, Pháp thuộc, Nhật “xâm chiếm” đất nước, cộng sản áp đặt, bao nhiêu chuyện thương tâm diễn biến theo khía cạnh này khía cạnh khác, không mấy ai thoát khỏi nạn nhân của thời cuộc. Thanh niên Mỹ đã bỏ quê hương sang tham chiến tại miền Nam, nhiều người bỏ mình nơi đây mà tới nay, sau hai mươi tám năm, tiếng súng đã lịm tắt, thân xác họ vẫn chưa tìm thấy, nhưng tên tuổi họ được ghi khắc chói lọi trên các tượng đài kỷ niệm. Người Việt tự do tỵ nạn cộng sản không chỉ tri ân họ trong tâm tưởng, tri ân đất nước của Nữ thần Tự Do đã phù trợ họ, và nay họ đã đáp đền xứng đáng. Con em họ đã đem chất xám tiếp nhận được nơi trường lớp, dựng tô xứ sở của ân nhân mình ngày nào về mọi lãnh vực, đóng góp tiền bạc thuế khóa cho quốc gia họ thêm giàu mạnh, giữ vững được thế đứng hàng đầu trên thế giới, và hơn thế nữa trong những trận chiến xảy ra mới đây như Chiến tranh vùng Vịnh, chiến tranh Afghanistan và tới nay tại Iraq máu xương của con em họ cũng đã đổ xuống. Họ không bởi giàu sang danh vọng, tự đắc với cấp bằng nọ kia, để quên đi nhiệm vụ đền ơn trả nghĩa, sống trọn vẹn với niềm sắt son nhân bản.

           

Thủ phủ của California ngày 31.7.2003.

CVA ĐINH NHẬT THỊNH.

* *


Từ ngoại lai

CVA Đặng Lương Mô

Lời Toà Soạn:

Bài này đã được Giáo Sư Tiến Sĩ Đặng Lương Mô thuyết trình trước cuộc Hội Thảo Công nghệ Thông tin - Điện tử - Viễn thông (ICT) 2003, ngày 28-29 tháng 8 năm 2003 tại Trung tâm Triển lãm Quốc tế (International Exhibition and Convention Center HIECC), quận Tân bình, Thành phố Sài Gòn. Trước một cử toạ gồm những cột trụ khoa học và doanh nghiệp, các giáo sư đại học, các giám đốc xí nghiệp, các kỹ sư chuyên môn, bài trình bày đã được sự tán thưởng và tán đồng nhiệt liệt. Chủ tịch Hội Vô tuyến Điện tử Việt Nam, Giáo sư Tiến sĩ Phan Anh, trong lời tổng kết cuộc Hội thảo đã hứa phổ biến rộng rãi ý kiến của giáo sư Đặng Lương Mô và sẽ nỗ lực chuyển đạt nội dung của bài viết tới những hội đoàn khác.

Tóm lược:

Bài này mạn đàm về từ ngoại lai, chủ yếu là những từ mới du nhập vào tiếng Việt gần đây, nhất là những từ gốc Hoa ngữ. Từ ngoại lai gốc Hoa ngữ gần đây có xu hướng được du nhập một cách tùy tiện, thiếu một qui củ nhất định, khiến gây ra một số bất cập. Sau khi phân tích những bất cập hiện nay, bài viết đề nghị một phương pháp dịch nghĩa và dịch âm thống nhất cho từ ngoại lai: Khi dịch nghĩa thì dịch đúng ngữ nguyên, khi dịch âm thì đọc âm tiếng Việt theo cách viết bằng mẫu tự La-tinh của ngôn ngữ gốc. Bài viết cũng kiến nghị sự giảng dạy chữ nho trong chương trình học phổ thông để khôi phục khả năng tạo ngữ của tiếng Việt.

. Từ ngoại lai và nguồn gốc

Từ ngoại lai là từ vựng từ bên ngoài du nhập vào tiếng Việt. Tiếng Việt vốn không có những từ đó, nhưng trong quá trình giao tiếp với người nước ngoài, hoặc tiếp thu những tri thức mới của Tây Âu, tiếng Việt đã mượn của tiếng ngoại quốc. Từ ngoại lai có thể phân biệt thành hai loại khác nhau, tạm gọi là từ ngoại lai Âu-Hán và từ ngoại lai Âu ngữ. Từ ngoại lai Âu-Hán là từ Âu ngữ dịch nghĩa ra chữ Hán rồi đọc theo âm Việt.

Từ ngoại lai Âu ngữ là phiên âm của từ Âu ngữ, trước kia phần lớn là tiếng Pháp, nhưng gần đây phần lớn là tiếng Anh-Mỹ. Trong bối cảnh xã hội tin học ngày này, nhất là trước thềm hội nhập, từ ngoại lai đã, nói theo nghĩa đen, "xâm nhập" một cách tràn lan, bừa bãi, đáng ái ngại.

Từ ngoại lai Âu ngữ dịch âm, lại còn có thể phân chia thành hai loại. Loại thứ nhất là dịch theo âm vận tiếng Việt. Loại thứ hai là mượn từ dịch âm sẵn có của tiếng Hoa, rồi đọc theo âm Việt của chữ nho. Ở đây, để tiện việc, loại thứ nhất sẽ được gọi là từ ngoại lai Âu-Việt và loại thứ hai là từ ngoại lai Âu-Hán-Việt.

Từ ngoại lai Âu-Việt được phiên âm hoặc theo cách đọc của mẫu tự tiếng Việt, hoặc theo âm cảm lúc nghe từ gốc. Vài ví dụ cho loại thứ nhất là từ laser, dịch âm là laze (đọc là la-de), transistor dịch là tranzito[1] (đọc tơ-răng-di-to). Ví dụ của loại thứ hai là champagne, dịch là săm-banh hay săm-pan hay săm-pa-nhơ[2], savon, dịch là xà-phòng hay xà-bông[3].

Từ ngoại lai dịch âm Âu-Hán-Việt sẽ được khảo sát kỹ càng ở một tiết riêng dưới đây.

Từ ngoại lai dịch nghĩa qua chữ Hán rồi đọc âm chữ nho của tiếng Việt, có hai nguồn gốc: tiếng Hoa và tiếng Nhật. Những từ này hoặc do người Hoa, hoặc do người Nhật, dịch một từ Tây Âu, rồi tiếng Việt mượn dùng. Để dễ phân biệt và tránh trùng hợp với từ Hán-Việt cổ truyền, ta hãy tạm gọi những từ này là từ Âu-Hán, dù cho chúng có gốc là Hoa ngữ hay Nhật ngữ. Những từ Âu-Hán mới này một phần khá lớn là do người Nhật dịch ra chữ Hán trước, nhất là những từ liên quan tới khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ và khoa học xã hội nhân văn. Người Hoa đồng thời cũng làm công tác dịch thuật như vậy. Trong quá trình dịch thuật đó, cả người Nhật lẫn người Hoa, đều đã học hỏi lẫn nhau. Cho nên ngay trong những từ như vậy của tiếng Hoa, có một phần đáng kể là những từ do người Nhật dịch sẵn, rồi người Hoa mượn dùng. Người Việt ta đã mượn lại, chủ yếu từ Hoa ngữ, để dùng. Rất nhiều từ như vậy, ngày nay chúng ta sử dụng thoải mái hàng ngày, mà không hề biết rằng đó vốn là Nhật ngữ, thậm chí còn cho là Hoa ngữ nữa, như trường hợp, thủ tục, dẫn độ, kinh tế[4], vân vân. Từ ngoại lai Âu-Hán đã và hiện còn đang du nhập vào tiếng Việt rất nhiều.

Dưới đây, chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về cả hai loại từ ngoại lai: từ ngoại lai dịch nghĩa Âu-Hán, tức là từ có gốc là Âu ngữ dịch ra chữ Hán-Việt, và từ ngoại lai dịch âm, tức là từ ngoại lai Âu-Việt và nhất là từ ngoại lai Âu-Hán-Việt.

Đến đây, để định ý, chúng ta hãy tóm tắt cách phân loại trên thành bảng dưới đây.

Bảng phân loại Từ ngoai lai:

1. Từ dịch âm từ Âu ngữ:

1.1 Từ Âu-Việt:

1.1.1 Dịch theo âm vận tiếng Việt. Ví dụ: laze, tranzi(s)to.

1.1.2 Dịch theo âm cảm lúc nghe. Ví dụ: săm-banh, săm-pan, săm-pa-nhơ.

            1.2 Âu-Hán-Việt. Ví dụ: Nga, Pháp,...

   2. Từ dịch nghĩa từ Âu ngữ

       2.1 Từ Âu-Hán gốc Nhật. Ví dụ: trường hợp, thủ tục,...

       2.2 Từ Âu-Hán gốc Hoa. Ví dụ: xuất khẩu, nhập khẩu,...

Dưới đây, chúng ta sẽ chỉ lưu ý tới những từ ngoại lai dịch âm Âu-Hán-Việt và những từ dịch nghĩa Âu-Hán. Chúng ta sẽ phân tích những bất cập của phương pháp dịch âm Âu-Hán-Việt đối với những danh từ riêng. Từ đó, chúng ta đề nghị một phương pháp dịch âm thống nhất: Dịch âm trên cơ sở cách viết ra mẫu tự La-tinh của ngôn ngữ gốc.

Về sự dịch nghĩa của những từ Âu-Hán, ta sẽ phân tích những sai sót của những từ gốc Hoa ngữ, kể cả những từ không nhất thiết có gốc Hoa ngữ, nhưng có thể coi như bị ảnh hưởng của ngữ pháp tiếng Hoa. Ta cũng sẽ bàn đến bất cập của phương pháp dịch thoát, để cuối cùng đề nghị áp dụng triệt để sự dịch nghĩa căn cứ vào ngữ nguyên.

. Từ ngoại lai gốc Hoa ngữ trong Việt ngữ

Từ ngoại lai gốc Hoa ngữ, vốn sẵn viết bằng chữ Hán và được đọc ra âm Hán của tiếng Việt một cách dễ dàng, cho nên nhiều khi người dùng tưởng là tiếng Việt. Từ ngoại lai gốc Hoa ngữ du nhập liên tục vào tiếng Việt, từ đã lâu cho tới ngày nay, nhiều khi một cách bừa bãi, không những làm hại tới ngữ pháp tiếng Việt, mà đôi khi còn tỏ ra ngô nghê nữa.

Một thí dụ cho sự ngô nghê, sự phi Việt ngữ của danh từ riêng ngoại lai dịch âm kiểu Âu-Hoa-Việt là từ "(nước) Nga."

Thật ra "Nga" này là tên rút ngắn của ba chữ "Nga La Tư," cụm từ chữ Hán do người Hoa phiên âm từ Rossia, tức là РОССИЯ. Thật ra hầu hết tất cả những tên nước, như Pháp, Anh, Mỹ,...đều thuộc phạm trù này, nghĩa là đều là những từ do người Hoa dịch âm ra chữ Hán, rồi được đọc theo âm Việt. Ở đây chỉ lấy ví dụ từ "Nga" thôi vì từ này cho thấy rõ một đặc điểm phát âm của tiếng Hoa khác hẳn với tiếng Việt.

Nhiều người có lẽ thắc mắc: tại sao РОССИЯ lại có thể thành ra "Nga La Tư" được?

Vâng, đây là vì chữ R của người Rossia (Nga) được phát âm với đầu lưỡi uốn cong lên cho rung đập vào khẩu cái, và như vậy từ РОССИЯ người Rossia (Nga) sẽ đọc giống như "rrrơs-xi-ia" hay có thể na ná là "rrras-xi-a," bởi vì chữ "o" trong âm tiết đầu của một từ Rossia (Nga) thường phát âm thành chữ "a[5]". Khi người Hoa phiên âm ra thì nó trở thành "éluôsi = 俄羅斯." Người Hoa vì không có âm R cổ họng nên đã phải dùng hai chữ Hán "é-luô" để phiên âm một âm tiết РО (rơ, ra) của tiếng Rossia (Nga). Sang tiếng Việt, thì như đã nói ở trên, người ta đã làm biếng, không phiên âm thẳng từ РОССИЯ hay Rossia ra, mà lại chỉ đọc âm Việt Nam của ba chữ Hán "俄羅斯" thành "Nga La Tư." Thế rồi, vì ba chữ vừa dài, vừa nghe "ngang tai," nên người ta đã chỉ giữ lại một chữ "Nga" mà thôi.

Ở chỗ này, chúng ta thấy người Nhật làm việc nghiêm túc hơn nhiều. Cũng là một dân tộc dùng chữ Hán để dịch âm những danh từ riêng ngoại lai Âu-Mỹ, nhưng họ đã dịch theo lối phát âm của họ, chứ không dễ dàng chấp nhận lối phiên âm của người Hoa. Chẳng hạn, từ РОССИЯ ở trên, người Nhật đã dùng chữ Hán phiên âm thành "?西." Nếu đọc ba chữ Hán này theo âm Nhật, thì đó là "Rô-si-a," y hệt từ gốc РОССИЯ vậy. Nếu đọc ba chữ Hán của người Nhật theo âm tiếng Việt, ta sẽ đợc "Lộ Tây Á," nghe còn giống tên gốc hơn "Nga La Tư" nhiều. Thế nhưng, ngưi Việt đãbằng lòng không thắc mắc gì cả với cái tên "Nga La Tư" do người Hoa dịch, không giống gì tên gốc РОССИЯ một chút nào cả

Còn nhiều, nhiều vô kể, những danh từ riêng ngoại lai Âu-Hán-Việt "hai tầng" như trên, nghĩa là những "từ Âu ngữ dịch âm qua Hoa ngữ rồi đọc chữ Hán theo âm Việt Nam." Nào Montesquieu (nhà văn người Pháp) đã trở thành Mạnh Đọc Tư Cưu, La Fontaine (nhà thơ ngụ ngôn người Pháp) đãthành Lã Phụng Tiên, vân vân. Cũng may hay ngao ngán thay, gần đây, người ta đã du nhập nguyên xi những tên riêng viết theo tiếng Anh-Mỹ, nên tình trạng tên ngoại quốc nghe ngô nghê vì đọc qua chữ Hán do ngưi Hoa dịch âm đã bớt đi, song ngưc lại, những từ Anh-Mỹ-hóa đã tràn lan trong tiếng Việt. Chúng ta may mắn không còn phải đọc những nhân danh kỳ khôi như "tổng thống Mỹ Bố Thập (Bush)," "tổng thống Nga Phổ Kinh (Putin)," vân vân và vân vân nữa. Song ngưc lại, những ngươi không có một số vốn tiếng Anh-Mỹ kha khá thì sẽ không biết phải phát âm tên mấy vị tổng thống đọc như thế nào. Putin thì còn tương đi dễ phát âm bằng cách cứ đọc theo tiếng Việt, Pu-tin, chứ Bush thì khá khó đọc. Hãy nghe các phát thanh viên của các đi truyền hình, ngươi ta sẽ thấy "Bút" có, "Bút-sư" có, thậm chí "Bú-sư" cũng có.

Ảnh hương của Hoa ngữ trong tiếng Việt, không chỉ dừng lại ở những từ Âu-Hán-Việt ngô nghê như trên, mà cò khi còn làm đo lộn cả ngữ pháp của tiếng Việt.

Một thí dụ điển hình, là từ "vật lý trị liệu" mà chúng ta thấy nhan nhản trên báo chí. Thoạt mới đọc từ "vật lý trị liệu" này, ngưi ta tưng đây là một môn "vật lý," cũng như "vật lý hạt nhân (nuclear physics)" hay "vật lý lưng tử (quantum physics)." Thế nhưng thực ra đây chỉ là một phương pháp chữa trị trong y học, bởi ta sẽ chỉ thấy nó ở trong các bệnh viện đa khoa, chứ tuyệt nhiên không thấy nó ở trong các trường đời học khoa học tự nhiên. Từ "vật lý trị liệu" là dịch nghĩa tiếng Anh-Mỹ "physical therapy" hoặc "physiotherapy." Đó là sự chữa trị bằng những phương pháp vật lý, như đm bóp, nhiệt, điện, vận đng, đi lại với sự trị liệu bằng phương pháp hóa học, tức là chữa trị bằng thuốc. Ở đây, "therapy (phép chữa trị, liệu pháp)" là danh từ, còn "vật lý (physical)" chỉ là tính từ. Người Hoa có thể dịch thành "vật lý đích trị liệu pháp" hay "vật lý liệu pháp" hay "lý liệu" thì được. Song, tiếng Việt phải nói là "phép chữa vật lý," hoặc "liệu pháp vật lý" mới đúng ngữ pháp. Tiếng Việt nói "trời xanh," "mây trắng" chứ không nói "xanh trời" với nghĩa tiếng Anh-Mỹ là "blue sky," hay "trắng mây" với nghĩa tiếng Anh-Mỹ là "white cloud."

Ngay trong ngành giáo dục, tức là nơi đáng lẽ phải làm gương mẫu cho việc sử dụng tiếng Việt, người ta cũng thấy ảnh hưng tai hại của ngữ pháp Hoa ngữ như chỉ trích ở trên, khiến đã có những từ lai căng tương tự, như "trường phổ thông trung học." Rõ ràng đây không phải là tiếng Việt, mà là tiếng lai căng Hoa ngữ. Bởi vì tiếng Việt phải nói "trường trung học phổ thông" mới đúng ngữ pháp. Rất may là gần đây, đi dọc đường Thành phố Hồ Chí Minh, người ta thấy có nhiều trường đã xóa bảng chữ "trường phổ thông trung học" đi và viết lại đè lên trên thành "trường trung học phổ thông." Tuy nhiên vẫn còn có trường vẫn giữ nguyên bảng chữ "trường phổ thông trung học," đồng thời báo chí, đi truyền hình vẫn còn quen bút quen miệng viết hoặc đọc "trường phổ thông trung học" khá nhiều.

. Sư dịch sai của từ ngoại lai gốc Hoa ngữ

Như trên đã nói, từ ngoại lai gốc Hoa ngữ viết bằng chữ Hán, nên tất cả đu có thể đọc thành tiếng Việt một cách dễ dàng. Sự việc này, một mặt, làm cho nhiều người lầm tưng rằng chúng đã phát sinh ra ở Việt Nam và tiếp tục dùng một cách không suy nghĩ nữa, mặt khác, nó đã tạo ra tình trạng ngang trái của những từ vựng ngô nghê, không đúng ngữ pháp tiếng Việt, như đãnêu ra ở trên. Hơn nữa, chính vì sự dễ dãi của việc vay mưn Hoa ngữ như vậy mà chúng ta càng thấy cần phải dè dặt, cần phải thận trọng, cần phải cân nhắc kỹ lưng trưc khi vay mưn, trưc nhất để tránh những trường hợp bất cập như "Nga," như "vật lý trị liệu," như "phổ thông trung học" đã nêu ra ở trên, sau nữa để tránh những sai lầm mà người Hoa đã mắc phải trong khi phiên dịch những từ Âu Mỹ

Chúng tôi xin đơn cử dưi đây một vài trưng hợp dịch sai của tiếng Hoa, để chứng tỏ chúng ta nên thận trọng trong khi du nhập nguyên xi từ Hoa ngữ

Ngưi Hoa dịch từ Anh-ngữ IMPORT là "Nhập khẩu[6]" và EXPORT là "Xuất khẩu[7]." Tiếng Việt vài chục năm gần đây cũng dùng hai chữ "nhập khẩu" và "xuất khẩu," mặc dù trư?c kia tiếng Việt đãquen dùng "nhập cảng[8]" và "xuất cảng[9]."

Trưc hết, chúng ta cần tìm hiểu xem IMPORT và EXPORT nghĩa là gì?

Lời giải thích của Từ điển American Heritage Dictionary (AHD)[10] có thể rút gọn như sau.

IMPORT: v.tr. 1. To bring or carry in from an outside source, especially to bring in (goods or materials) from a foreign country for trade or sale (Mang từ một nguồn bên ngoài vào, nhất là mang (phẩm vật hay vật liệu) từ một nư?c ngoài vào để mậu dịch hay bán).

2. To carry or hold the meaning of; signify (Có nghĩa là; hàm ý).

v.intr. To be significant (là đáng kể).

n. 1. Something imported (Vật đ?ợc mang vào). 2. The act or occupation of importing goods or materials (Việc hoặc nghề mang phẩm vật hay vật liệu vào).

EXPORT: v.tr. 1. To send or transport (a commodity, for example) abroad, especially for trade or sale Gửi hay chuyên chở (một đ vật, chẳng hạn) ra ngoài nưc, nhất là để mậu dịch hay bán). 2. To cause the spread of (an idea, for example) in another part of the world; transmit (Truyền bá (một ý tưng, chẳng hạn) ra một nơi khác trên thế giới).

v.intr. 1. To send or transport abroad merchandise, especially for sale or trade (Gửi hoặc chuyên chở ra ngoài nưc hàng hóa nhất là để mậu dịch hay bán).

n. Exportation (Sự chuyên chở ra ngoài nưc).

Xem như trên, ta thấy: Tiếp đu ngữ IM dịch là "nhập," EX là "xuất" thì được. Nhưng PORT mà dịch là "khẩu" thì sai. PORT đây không phải là "cửa," không phải là "khẩu," không phải là "cảng." PORT được giải thích trong tự điển AHD kể trên, hoặc bất cứ một cuốn tự điển tiếng Anh-Mỹ có kích cỡ nào, như Concise Oxford Dictionary, Webster, v.v., là dịch âm của từ PORTERA của tiếng La-tinh, nghĩa là "khuân vác," là "chuyên chở."

Vậy, đây có hai lỗi lầm trong sự phiên dịch từ IMPORT, EXPORT của tiếng Anh-Mỹ ra thành "nhập khẩu," "xuất khẩu". Thứ nhất, chữ PORT ở đây vốn là Đng từ, chứ không phải là Danh từ. Vậy dùng từ "khẩu" để dịch PORT là sai. Thứ hai, hai tiếp đu ngữ IM và EX tuy có nghĩa là "vào (nhập)" và "ra (xuất)" thật, nhưng chúng không phải là Động từ, nên không thể dịch thành động từ "mang vào (nhập)" và "mang ra (xuất)" được, mà phải dịch thành "trạng từ, phó từ" tức là "vào, trong, (in=nhập)" và "ra, ngoài (out=xuất)."

Phân tích như trên, ta thấy phải dịch như sau mới đúng.

IMPORT: Tải nhập, vận nhập, mang vào, chở vào, v.v.

EXPORT: Tải xuất, vận xuất, mang ra, chở ra, v.v.

Xem như trên, tiếng Việt dịch IMPORT là "nhập cảng" và EXPORT là "xuất cảng" cũng không đúng ngữ nguyên.

Cũng là một dân tộc dùng chữ Hán như người Hoa và người Việt, nhưng người Nhật đãdịch đúng ngữ nguyên như đã phân tích ở trên. Họ dịch IMPORT là "Du nhập," và EXPORT là "Du xuất." Chữ Du nghĩa là khuân vác đi chỗ khác, tức là đồng nghĩa với chữ Vận, chữ Tải. Tiếng Việt cũng đã du nhập từ "du nhập" này từ lâu rồi.

Một trường hợp khác tuy không phải là dịch sai, nhưng với thời gian, nó có thể trở thành dịch sai, hay ít nhất cũng trở thành ngô nghê: Đó là sự dịch thoát.

Một từ khoa học mà người Hoa dịch thoát nghe ngô nghê là từ "tinh thể quản[11]" dùng để dịch từ transistor của tiếng Anh-Mỹ. TRANSISTOR, đã có nhắc đến ở trên, là từ mới xuất hiện khoảng nửa thế kỷ nay, do bộ ba phát minh ra TRANSISTOR, tức là Shockley, Bardeen và Brattain, bịa ra bằng cách ghép hai từ "TRANSfer" "resISTOR" thành một từ. Transfer nghĩa là "chuyển đi," là "hoán chuyển," và resistor là "điện trở." Vậy nếu cố tình dịch nghĩa, ta có thể dịch TRANSISTOR thành "hoán trở" một cách hoàn toàn chính xác. Thế nhưng, thói quen trên thế giới là dùng ngay từ gốc, hoặc viết y nguyên như vậy, như tiếng Pháp, hoặc phiên âm như tiếng Nhật (tôranjisưta), tiếng Việt (tranzisto). Người Hoa dịch thành "tinh thể quản" là dịch thoát, là giải nghĩa. "Tinh thể" là bởi vì transistor được chế ra từ một tinh thể bán dẫn, và "quản" là tàn tích của từ "điện tử quản" dịch từ "electron tube" hoặc "electronic tube" của tiếng Anh-Mỹ. Nói cách khác, xưa những linh kiện điện tử có công dụng tương tự như transistor là "electron tube," làm bằng một "ống" thủy tinh rút chân không trong đóđặt những điện cực cần thiết. Loại linh kiện điện tử này tiếng Việt gọi là "đèn điện tử." Vì vậy, người Hoa đã dùng chữ "quản (ống=tube)" cho cả trường hợp transistor. Tuy nhiên, trong suốt hơn nửa thế kỷ của lịch sử transistor, cũng như từ nay về sau, người ta có thể khẳng định là đã và sẽ không bao giờ có một transistor nào có hình ống ở trạng thái hoàn thành cả. Xưa, có một nhà khoa học người Pháp đng ra một loại transistor đạt tên là TECNETRON[12], nhái theo hình thù của loại transistor UNIPOLAR của Shockley, quả thật có hình ống vi ti chìm trong một tinh thể, song không trở thành hình ống như "đèn điện tử" ở trạng thái hoàn thành.

Ở đây, chúng tôi đơn cử trường hợp từ "tinh thể quản" mà người Hoa dùng để dịch từ TRANSISTOR, trưc nhất để cho thấy sự phiên phiến, sự ngô nghê của phép dịch thoát, sau nữa muốn lôi cuốn sự chú ý của các nhà khoa học Việt Nam trong trường hợp dịch một từ khoa học từ tiếng nưc ngoài, nhất là cần phải thận trọng trong sự vay mưn từ Hoa ngữ

Chúng tôi xin đan cử thêm một ví dụ cho thấy cái rắc rối, cái bất cập của sự dịch thoát. Đó là trường hợp từ "xe hơi" dùng để dịch từ "automobile." Từ "xe hơi" thật ra là từ dịch lại từ "khí xa?" của Hoa ngữ. Đây cũng là dịch thoát chứ không phải dịch thẳng.

Khi automobile mới ra đi khoảng một thế kỷ trưc đây, thì nguồn động lực là máy hơi nưc, về sau và hiện nay chủ yếu là máy nổ (máy đt trong) dùng hơi xăng, cho nên gọi là "xe hơi" cũng đưc đi. Nhưng ngày nay, người ta đã thấy xuất hiện nhiều automobile chạy bằng điện, hoặc nửa điện nửa hơi xăng đt, gọi là hybrid car, ta mới thấy kẹt. Chẳng lẽ gọi là "xe hơi nửa hơi nửa điện?"

Cũng may là sự bất cập vừa nói, đã được nhận thức, nên trong luật giao thông cũng như trong nhiều sách báo, từ "xe hơi" đã được lần lần thay thế bằng "xe ô-tô" hoặc "ô-tô."

Ở đây, ta cũng thấy người Nhật làm việc nghiêm túc hơn. Họ đã dịch đúng ngữ nguyên từ automobile, nghĩa là auto=tự, mobile=đng, thành "tự động xa," tức là "xe tự đng."

Tóm lại, khi dịch nghĩa một từ ngoại quốc, không nên dịch thoát, mà chỉ nên dịch đúng ngữ nguyên (hoặc từ nguyên=etymology).

. Quy luật dịch âm từ ngoại lai khoa học

Chúng ta hãy trở lại với từ la-de kể trên. Từ này vốn là dịch âm từ LASER, một từ chuyên ngành điện tử mới được bịa ra khoảng vài chục năm nay, bằng cách ghép những chữ đ?u của cụm từ Light Amplification by Stimulated Emission of Radiation, dịch từng chữ là sự "Khuếch đi Ánh sáng bởi sự Phát xạ Kích thích của Bức xạ," hay có thể rút ngắn đi một chút thành sự "Khuếch đi Ánh sáng bởi Bức xạ Kích thích." Đây là một hiện tưng tương tự với một hiện tượng khác cùng một nguyên lý được phát hiện trưc, nhưng ở tần số thấp hơn tần số ánh sáng. Đó là hiện tượng gọi là MASER (Microwave Amplification by Stimulated Emission of Radiation, nghĩa là sự "Khuếch đi Vi ba bởi Bức xạ Kích thích"). Hai cụm từ gốc tiếng Anh-Mỹ này đu có tính cách giải thích một hiện tượng vật lý điện tử, và như vậy không tiện dùng làm thuật ngữ. Do đó, người Mỹ đã chỉ lấy những mẫu tự đu của mỗi từ ghép lại thành những từ mới[13] là LASER và MASER. Nếu bắt chưc tiếng Anh-Mỹ, ta có thể bịa ra từ KABƯK để thay cho cụm từ "Khuếch đi Ánh sáng bởi Bức xạ Kích thích," tức là LASER và VIBƯK cho "Khuếch đi VI ba bởi Bức xạ Kích thích," tức là MASER. Song tiếc rằng hình như chưa có ai nghĩ ra làm như vậy, mà chỉ đơn thuần tiếp nhận từ tiếng Anh-Mỹ LASER và MASER rồi đọc nó theo tiếng Việt. Theo phép phát âm của tiếng Mỹ, hai từ này đáng lẽ phải đọc là "lê-dơr" và "mê-dơ-r," nhưng người ta đã quen chỉ đọc thành "la-de," và "ma-de" có lẽ là bắt chưc lối phát âm sai của tiếng Pháp (?) và nay đã trở thành quen miệng mất rồi.

Từ ví dụ điển hình trên, cũng như từ thí dụ tranzito đã nêu trên, ta thấy phương pháp phiên âm danh từ Hóa học của Hoàng Xuân Hãn[14] đãđược áp dụng rộng rãi để dịch âm danh từ khoa học. Phương pháp này có thể tóm tắt như sau.

"Một từ khoa học ngoại lai Âu ngữ được dịch âm bằng cách đọc từ gốc theo âm vận của tiếng Việt."

Trong từ LASER kể trên thì âm A và âm E đãđược đọc theo âm tiếng Việt. Chữ L của tiếng Anh-Mỹ cũng đọc tương tự như chữ L tiếng Việt nên không có vấn đ gì cả. Nhưng chữ S thì đọc theo quy luật tiếng Anh-Mỹ thành chữ Z (chữ D tiếng Việt) khi nó được kèm hai bên bởi hai mẫu âm. Còn chữ R cuối cùng thì bỏ luôn. Có thể kết luận tương tự với từ MASER.

. Đề nghị một phương pháp dịch âm từ ngoại lại

Nếu áp dụng phương pháp dịch âm như trên cho các từ thưng thức (không phải là từ khoa học), thì chúng ta sẽ dễ dàng dịch âm được tất cả những từ ngoại lai, dù cho là chúng từ nưc nào tới đi chăng nữa. Chúng ta sẽ áp dụng phương pháp sau đây.

Những ngôn ngữ nào đã sẵn viết được ra mẫu tự La-tinh rồi thì ta cứ việc phiên âm theo cách đọc mẫu tự của tiếng Việt. Đây là trưng hợp tiếng Anh-Mỹ, tiếng Pháp, tiếng Indônêsia, tiếng Italia, vân vân. Những ngôn ngữ nào viết bằng những mẫu tự khác, như chữ Hoa, chữ Nhật, chữ Ả Rập, chữ Hindi (Ấn Đ), chữ Thái, chữ Campuchia, chữ Rossia (Nga), vân vân, thì chúng ta áp dụng thể thức sau.

(1) Nếu ngôn ngữ gốc có cách viết ra mẫu tự La-tinh riêng của ngôn ngữ ấy, thì chúng ta lấy ngay cách viết đ làm cơ sở để dịch âm. Thí dụ:

  1. (tiếng Nhật) bonsai, judo, karate, kimono, ninja, samurai, wasabi, thì ta cứ đ y nguyên như vậy, rồi đọc theo âm tiếng Việt thành ra bon-xai, giu-đ, ka-ra-tê, ki-mô-nô, nin-gia, xa-mu-rai, oa-xa-bi.
  2. (tiếng Thái) Chulalongkorn, Chiengmai, Bangkok thì ta cũng cứ đ y nguyên như vậy và đọc thành chu-la-lông-coọc, chiêng-mai, băng-cốc.
  3. (tiếng Hoa) Tiếng Hoa là trường hợp ngoại lệ, bởi vì tất cả các từ Hoa ngữ đu có thể đọc theo âm Việt ngữ cả. Tuy nhiên, ta vẫn có thể áp dụng quy luật trên, vì như vậy sẽ gần với âm gốc hơn. Nghĩa là chúng ta chấp nhận cả cách viết Mao Trạch Đông lẫn cách viết Mao Ze Dong (Mao Tse Tung). Cách viết Mao Trạch Đông là cách viết chữ Hán theo âm tiếng Việt, còn cách viết Mao Ze Dong (Mao Tse Tung) là cách phiên âm của chính người Hoa ra mẫu tự La-tinh.

(2) Trường hợp ngôn ngữ viết bằng mẫu tự Kyrillos[15], tức là tiếng Rossia (Nga), tiếng Bulgaria, thì chúng ta có thể lập ra một bảng đi chiếu giữa mẫu tự Kyrillos này với mẫu tự La-tinh, chẳng hạn: А→A, Б→B, В→V, Г→G, Д→D, vân vân. Bảng đi chiếu mẫu tự này sẽ được dùng đ viết tất cả những từ Rossia (Nga) viết bằng mẫu tự Kyrillos ra mẫu tự La-tinh. Sau đó, từ Rossia (Nga) đ viết ra mẫu tự La-tinh như vậy, sẽ được đọc theo âm của mẫu tự Việt ngữ

Như vậy, РОССИЯ sẽ trở thành Rossiya (hoặc Rossia), МОСКВА sẽ thành Moskva, và ta sẽ đọc là Rô-xi-a hoặc Rôs-xi-ia, Mô-scư-va hoặc Mô-scơ-va.

. Thay lời kết

Tóm lại, khi dịch nghĩa, dịch đúng ngữ nguyên, chứ không nên dịch thoát. Khi dịch âm, căn cứ trên lối viết bằng mẫu tự La-tinh của ngôn ngữ gốc rồi đọc theo cách phát âm của Việt ngữ

Trên đây chỉ là một đ nghị, một góp ý làm cơ sở thảo luận. Một vấn đ ngôn ngữ trọng đi như vấn đ từ ngoại lai này, không thể có kết luận hấp tấp có tính cách làm cho xong chuyện được. Nhất là, trong khung cảnh cơ chế thị trường trưc ngưõng cửa hội nhập, trưc sự tràn ngập của tiếng ngoại quốc, của thông tin ngoại quốc, của công nghệ ngoại quốc, của kỹ thuật ngoại quốc, tất cả đu phải phiên dịch ra tiếng Việt đ phục vụ người Việt một cách đúng đn, một cách chính xác, chúng ta không nên làm ngơ, đ mặc cho mạnh ai nấy làm, gặp đâu làm đy như hiện nay được. Nên có ngay một nỗ lực đng bộ và tập trung đ giải quyết vấn đ từ ngoại lai, nói riêng, tiếng Việt tiêu chuẩn, nói chung, một cách toàn diện, một cách bao quát và hợp lý. Đồng bộ là mọi ngành mọi nghề đâu cần có nỗ lực tương tự, và tập trung là đ tiến tới một giải pháp chung, nhất quán.

Người ta nói, ở Pháp, công tác chuẩn đnh ngôn ngữ là việc làm của Viện Hàn lâm Pháp từ thời Hoàng đế Napoléon. Chính vì sự quan tâm chăm sóc và gọt rũa ngôn ngữ như thế, người Pháp rất tự hào về ngôn ngữ của họ. Thế giới cũng thưng coi tiếng Pháp là một ngôn ngữ chính xác, ít mơ hồ, cho nên qua nhiều thế kỷ, tiếng Pháp được công nhận là một ngôn ngữ ngoại giao, một ngôn ngữ của những hiệp ưc quốc tế

Ở Nhật, công tác chuẩn định ngôn ngữ là của một cơ quan quốc gia gọi là Kokugo Shingi Kai (Ủy Ban Thẩm Nghị Quốc Ngữ). Nhật Bản thường được coi là quốc gia duy nhất ở châu Á vừa không bị thuộc đa hóa bởi các cường quốc Tây Âu trong quá trình công nghiệp hóa của những cường quốc này, đng thời lại là nưc Á châu duy nhất đãvưt lên ngang hàng với các cường quốc công nghiệp Âu Mỹ[16]. Có nhiều yếu tố đã khiến Nhật Bản làm nên sự nghiệp như vậy, song yếu tố quan trọng nhất là họ đã bảo tồn được ngôn ngữ của họ không bị lai căng, đ duy trì được chữ viết truyền thống không bị La-tinh hóa, và đ làm phong phú được từ vựng, từ từ vựng truyền thống tới từ vựng ngoại lai, tất cả một cách có hệ thống, có quy củ, và nhất là đồng bộ với sự phát triển của khoa học công nghệ

Phần lớn những quốc gia hoặc khu vực Á châu đang mạnh tiến trên con đường công nghiệp hóa và phát triển kinh tế, như Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc, Đi Loan đu dập theo khuôn mẫu Nhật Bản, tức là duy trì chữ viết riêng,trong quá trình hiện đi hóa xã hội, phát triển kinh tế và công nghiệp hóa.

Việt Nam ta, sau khi đã du nhập mẫu tự La-tinh vào đ thay thế cho chữ viết truyền thống phức tạp, tức là chữ nho và chữ nôm, những tưng là có chữ viết đơn giản nên có thể tăng gia tốc trong quá trình hiện đi hóa xã hội, công nghiệp hóa và phát triển kinh tế qua giáo dục. Nhưng, thực tế là thế nào? Nay, đã sang thế kỷ thứ 21, chúng ta vẫn còn lẹt đt theo đuôi những nưc xung quanh. Người ta sẽ có thể viện ra một trăm nguyên nhân đ bào chữa cho sự ta tiến chậm như ngày nay: nào là thực dân nọ áp chế, nào là thực dân kia bòn vét, nào là chiến tranh nọ tàn phá, nào là chiến tranh kia hủy hoại, vân vân và vân vân. Nhưng suy đi nghĩ lại, người ta sẽ lại tìm ra đợc một trăm lẻ một lời phản bác đ gạt bỏ sự bào chữa đó. Câu phản bác thứ một trăm lẻ một chính là "tiên trách kỷ, hậu trách nhân."

Ngày nay, không còn đế quốc nào bòn vét cả, không còn cuộc chiến tranh nào tàn phá cả. Có chăng, chỉ là sự bòn vét kiểu "gà què ăn quẩn," chỉ là chiến tranh giao thông, chiến tranh ngộ đc thực phẩm, chiến tranh môi trường,... tất cả đu xuất phát từ trình đ thấp kém của dân trí. Xem như vậy, vấn đ chữ viết đơn giản không hẳn đã là một lợi thế trong việc giáo dục đi chúng. Tiếng Việt chỉ cần học ba tháng là đọc và viết được thành thạo, trong khi đó tiếng Nhật cần chín năm, sáu năm tiểu học và ba năm trung học, mới cho một đa trẻ Nhật có đ chữ đ đọc và viết một cách thỏa đáng. Thế nhưng trình đ hiểu biết của một người học ba tháng thì không thể nào so sánh với người học chín năm được, cho dù người Việt có thông minh vưt trội hơn người Nhật đi chăng nữa. Chính cái cơ sở vững chắc của người học chín năm so với cái nông cạn của người học ba tháng, thậm chí còn có người không học tháng nào cả, khiến khó có thể đem so sánh hai bên trên cùng bình diện được.

Hơn nữa, chính vì ỷ rằng chữ Việt La-tinh hóa dễ học, cho nên ta đã sao lãng không học chữ Hán nữa, đã mất cả cái khả năng tạo ngữ, tức là cái khả năng đt thêm chữ mới dựa vào chữ Hán.

Âu ngữ, như tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Bồ, thậm chí tiếng Anh-Mỹ, đu có một phần từ vựng khá quan trọng vốn là tiếng La-tinh và tiếng Hi-lạp. Tiếng La-tinh ngày nay hầu như không còn thông dụng ngoài đi nữa, nhưng vẫn được giảng dạy một cách nghiêm túc ở bậc trung học tại các nưc Âu châu.

Ngày nay, tất cả những từ Âu ngữ mới về khoa học tự nhiên, y học, sinh vật học, vân vân, đu được tạo ra dựa vào chữ La-tinh, và một phần chữ Hi-lạp. Chính nhờ vậy mà Âu ngữ mỗi ngày một trở nên phong phú hơn về mặt từ vựng, mỗi ngày một trở nên hoàn chỉnh hơn đ đáp ứng được mọi yêu cầu về từ vựng mới của sự phát triển khoa học.

Tiếng Anh-Mỹ, còn may mắn hơn nữa là có thêm nguồn tiếng Anglo-Saxon, nên đã trở nên rất phong phú về từ vựng. Có thể nói là đ diễn tả một hiện tưng trừu tưng, tiếng Anh-Mỹ hay có một bộ đi từ vựng, một gốc La-tinh và một gốc Anglo-Saxon. Ví dụ: liberty và freedom, fraternity và friendship, equality và evenness, force và strength, vân vân. Một thống kê những từ vựng xuất hiện trên sách báo phổ thông cho thấy rằng người ta chỉ cần 5 ngàn từ vựng đ đọc thông hiểu thạo tiếng Pháp, nhưng với tiếng Anh-Mỹ thì con số này phải là 7 ngàn từ vựng. Đây là một lợi thế của tiếng Anh-Mỹ trong khả năng diễn tả sự việc và diễn đạt tư tưng.

Tiếng Nhật, nhờ duy trì được chữ Hán nên đã trở nên rất phong phú về mặt từ vựng. Cũng như những Âu ngữ, tiếng Nhật cũng có khả năng sáng tạo ra những từ vựng mới bằng cách vận dụng chữ Hán.

Hàn Quốc, với trào lưu dân tộc chủ nghĩa, đãchỉ dùng chữ viết riêng của họ, tức là chữ Han-gul, và gần như bỏ hẳn chữ Hán trong những thập niên 1970, 1980. Thế nhưng, vào khoảng những năm 1990, trưc tình trạng suy thoái về khả năng diễn đạt tư tư?ng cũng như khả năng tạo ngữ của sinh viên học sinh, giới giáo dục Hàn Quốc đã phản tỉnh. Họ bắt đu dùng lại chữ Hán trong giáo dục và trong sách báo phổ thông.

Tiếng Việt tuy ngày nay không còn giữ được chữ viết truyền thống, tức là chữ nho và chữ nôm, và do đã bị mất phần lớn khả năng vận dụng chữ Hán đ tạo ra những từ vựng mới. Thế nhưng, tiếng Việt ngày nay lại có lợi thế của lối chữ viết La-tinh hóa đơn giản và dễ cơ giới hóa. Nếu ta khéo léo kết hợp cái lợi thế của mẫu tự La-tinh hóa với sự vận dụng chữ Hán một cách sáng tạo, và tức thời chấn chỉnh cách viết từ ngoại lai chứ đng du nhập nguyên xi tiếng Anh-Mỹ hoặc tiếng Hoa vào tiếng Việt một cách bừa bãi như ngày nay, thì mới mong phát triển tiếng Việt theo chiều hư?ng lành mạnh, làm cho tiếng Việt phong phú hơn về mặt từ vựng, từ từ vựng phổ thông tới từ vựng khoa học.

   Chúng tôi thiết nghĩ:

1) Đã đến lúc nên tức khắc thiết lập một Ủy ban Quốc gia Nghiên cứu và Chuẩn đnh tiếng Việt. Trưc mắt, các ngành nghề, các học hội, như Hội Kỹ Sư Vô tuyến Điện tử đây chẳng hạn, nên có ngay mỗi nơi một Tiểu ban làm công tác chuẩn định lại cách viết tiếng Việt chuẩn hóa cho ngành nghề của mình.

          2) Hãy đem sự học chữ Hán trở lại học đường, ít nhất là từ bậc trung học. Trưc mắt, các học hội, các hội ngành nghề nên có một Tiểu ban duyệt xét lại những thuật ngữ của ngành nghề mình, nhất là những thuật ngữ Âu-Hán và những từ mưn của Hoa ngữ xem có thích đáng hay không.

Phụ lục: Phần chữ Kyrillos (Cyrillic) và chữ Hán

_

* * *


TIỀN ĐỒN

CVA Cung Trầm Tưởng

(Trích trong thi phẩm “Những dấu chân ngang trên một triền phiếm định” vừa mới xuất bản)

Về nơi mù phủ mái đầu

Một vung trời nặng, lá nhàu nhợt mưa

Miếu thương tích mở đạn thừa

Xác tăng quỳ gỉ, thây dừa ngửa hoang

Rét cưa xẻ xám đôi đằng

Nửa dàn sông quạnh, nửa giăng bãi buồn

Chiều về lại lẻ lũy đồn

Mình trơn đứng tuột, nóc hồn nằm ươn.

* * *


CƠN UẤT HẠ LÀO

            CVA BùiĐứcLạc

Kính dâng linh hồn các bạn quí mến Hiền,Phan. Các em thương mến Thọ, Hạnh, Chương, Đương, Quân, Côn, Thu, Thúc, Quang, Đại, Bình, Bân, Lữ, Khê và các chiến hữu vô danh.

Nếu Sư Đoàn Nhảy Dù quân số tổn thất 99%.

Nếu Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến phải bổ xung 90%.

Nếu Sư Đoàn 1Bộ Binh phải tái lập.

Nếu Liên Đoàn 1 Biệt Động Quân bị xóa tên.

Thì trận Lam Sơn 719 tức trận Hạ Lào chúng ta vẫn thắng chúng tôi khẳng định như vậy. Và thêm một lần nữa đoan quyết rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã thắng trận Hạ Lào. Bài này tôi viết từ năm 1973, tôi có ý định tặng nhà văn Chu Tử, người mà tôi hằng quí mến, nhưng không may tôi phải nhập viện khẩn cấp do đó tài liệu bị thất lạc. Hôm nay, 11-11-1987 còn ít tháng nữa là tròn 17 năm kỷ niệm trận Hạ Lào, cũng là góp phần cho số phát hành đầu tiên của đặc san Quân Đội do anh Nguyễn Đạt Thịnh chủ trương tại San Jose, nên tôi viết lại một tài liệu gọi là góp phần chính xác cho Quân Sử của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

            Nói đến trận Hạ Lào cả trăm cả ngàn người đều nói chúng ta tức QLVNCH đã thua. Cái lý luận buông thả này 17 năm nay ai cũng chấp nhận là đúng. Rập theo khuôn mẫu các báo ngoại quốc, báo chí Sài Gòn từ phóng viên chiến trường, cho đến những cây viết phóng sự theo tưởng tượng và thêu dệt để đầu độc độc giả, cho đến cả những người tham dự trận Hạ Lào cũng cứ yên trí rằng mình thua trận thật vì bạn bè chết nhiều quá, trận chiến kinh hoàng quá, đó là một sự thật hiển nhiên, không ai có can đảm phủ nhận.

            Đau đớn thay! Những người viết về trận Hạ Lào, ngoại trừ tác giả viết cuốn “Tử Thủ Đồi 30” là có tham dự trận Hạ Lào, hầu như không còn ai đã ở lại một vài ngày với anh em chiến sĩ, đếm PHÁO của địch quân để biết rõ cường độ của pháo địch xung mãnh đến mức nào, khi thấy chiến trận khốc liệt máy bay rớt liên hồi, mỗi ngày chết và bị thương hàng trăm người, họ liền đứng ở ngoài một bóng mát nào đó hay ở một phòng máy lạnh nào đó viết phóng sự chiến trường, như vậy sẽ thêm phần an toàn cho bản thân, có thời gian bình thản, bình tâm viết cho mạch lạc sâu sắc hơn, lý luận vững chắc hơn. Vì vậy những loạt bài viết về Hạ Lào toàn đua nhau thêu dệt tưởng tượng miễn sao cho người đọc cảm thấy hợp lý là ăn tiền, chỉ có trời cao đất dầy mới hiểu được vì đây là trận đánh kinh hoàng ngoài sức tưởng tượng của họ, cho nên làm sao họ có thể tưởng tượng đúng cho được. Không có một trận địa nào từ cổ chí kim, với khoảng hai ngàn mét vuông, vậy mà trong gần hai tháng trời, mỗi ngày phải đón nhận hai ngàn trái đạn pháo đủ loại. Có những ngày được ăn phụ trội lên tới ba hoặc bốn ngàn trái, đó là những ngày chúng quyết tâm tiêu diệt căn cứ 30 và căn cứ 31. Với một thời gian dài như vậy, với cường độ pháo mãnh liệt như vậy, chắc hẳn những người trong hai ngàn mét vuông này nếu không bầm dập thì cũng phải tê dại, điên loạn. Ấy vậy mà chúng tôi vẫn đứng vững, chúng tôi vẫn hiên ngang tiếp tục chiến đấu. Không vậy mà chỉ ít ngày sau khi rút quân ra khỏi vùng lửa đạn Hạ Lào, mồ hôi trận địa chưa kịp khô, chúng tôi một Lữ Đoàn Nhảy Dù Việt Nam đã từ phi trường Đông Hà thay vì về Sài Gòn nghỉ xả hơi vài ngày thôi, đoàn quân Mũ Đỏ lại hiên ngang đáp xuống phi trường Pleiku vào thẳng căn cứ hỏa lực số 6 thuộc Tân Cảnh - Kontum quần thảo với một Sư Đoàn chính qui Cộng Sản Bắc Việt Nam, trong vòng 13 ngày chúng tôi đã dứt điểm. Chúng tôi lại thêm một lần thắng vẻ vang. Nếu như chúng tôi thua tại Hạ Lào, làm sao chúng tôi còn khả năng chiến thắng như vậy? Không lẽ chúng tôi mang thương tích thảm bại, để chuốc lấy thêm một lần ê chề nữa hay sao? Chúng tôi có phải là những Thiên Thần thật sự hay không đây? Xin hãy đón đọc (Trận Chiến 13 Ngày) chiến tích của LĐ2ND Việt Nam tại mặt trận này để chứng minh hùng hồn những điều khẳng định trên (tôi sẽ viết trận chiến CCHL số 6, tức trận chiến 13 ngày khi thuận tiện).                    

            Đề tài Hạ Lào quá hấp dẫn với người đọc, nó quá nóng bỏng viết ra rất dễ câu khách, cho nên báo chí của ta đành tham chiếu tài liệu ngoại quốc để viết, trong khi chính những phóng viên ngoại quốc cũng chưa chắc đã biết Hạ Lào dài ngắn ra sao (tại cánh quân của Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù lúc đầu vì là mũi tên xung kích cho nên nó ê chề quá, không một phóng viên nào dám đi chung lấy một giờ) ai cũng đua nhau viết thêm thắt cho bài báo hấp dẫn, ai cũng muốn chứng tỏ cho đọc giả là mình am tường trận Hạ Lào. Hạ Lào trở thành cái mốt thời thượng, “cũng như cái mốt Cộng Sản của các nhà trí thức trên thế giới thập niên 40-50 vậy, thời đó các vị có bằng cấp cao, không thích Cộng Sản, không tham gia vào đảng tồi bại này, thì cũng phải phản chiến, nếu không thì chưa phải là trí thức, cái mốt đê hèn này nó nhập nhằng tồn tại tại quê hương tôi cho đến thập niên 70”, dễ dàng nhất là tô đậm thêm nét đau thương cho QLVNCH là chắc ăn nhất. Vì vậy, chúng tôi những người lính chiến thay vì được vỗ về thì lại bị trả đòn thù sau lưng. Cùng trong lúc đó địch quân đang ra sức ca tụng các đơn vị của họ, trong khi những đơn vị này đang bị tan nát, đang bị vùi dập tại Hạ Lào. Thật trớ trêu thay! Chúng tôi lại trở thành tứ bề thọ địch, đang thọ nạn ngay trên hậu phương “Thủ Đô” của mình. Trận Hạ Lào không đơn vị nào có Cố Vấn theo, kể cả những đơn vị còn nằm tại Khe Sanh hay Lao Bảo, ngoại trừ các bộ tư lệnh từ cấp Sư Đoàn trở lên nằm tại Khe Sanh là còn được giữ Cố Vấn lại mà thôi. Vì không có Cố Vấn, đương nhiên không có phóng viên ngoại quốc nào dám ở lại trận địa, ngoại trừ một số tháp tùng theo các máy bay trực thăng bay trên vùng trời Hạ Lào. Vậy mà các phóng viên của ta cứ tin vào các tài liệu ngoại quốc. Tài vọng ngoại như vậy hỏi sao mà Hạ Lào chẳng thua. Hãy hỏi thêm một tin nữa, là trận Tết Mậu Thân, đối với người ngoại quốc: “chúng ta hãy hỏi bất cứ một công dân Hoa Kỳ nào, mà người đó có để ý đến tình hình chiến sự, chúng ta bình tâm thử hỏi họ về trận Mậu Thân tức tết 1968 tại quê hương của chúng ta, thì một trăm người được hỏi đến, đều nói chúng ta đã thảm bại trận Mậu Thân, bằng cớ là Cộng quân đã có đủ sức mạnh đánh bại quân phòng thủ chọc thủng phòng tuyến để đánh thẳng vào các thành phố, kể cả Thủ Đô của chúng ta”.

            Máu của chúng tôi đã đổ tại đất đai miền nam của vương quốc Lào. Thịt xương của bạn bè chúng tôi không vun trồng cho màu mỡ quê mẹ mà lại làm tươi tốt cho đồng cỏ xứ người. Đó chính là niềm đau xót xa, niềm đau day dứt, cho những người lính chiến như chúng tôi. Nhưng cái đau xót thấm thía, đau lâu dài hơn là khi Hạ Lào bị cơ quan truyền thông ngoại quốc che mờ bằng màn khói bại trận gớm ghiếc, khinh bỉ. Cái giá xương máu này lại được tô son chuốc lục bởi các phóng viên Việt Nam, bởi những người bạn của chúng ta. Họ tô đậm bằng màu tang trắng thê lương ngay trên quê hương của chúng ta. Những mảnh khăn tang trên đầu của hàng ngàn quả phụ, ở lứa tuổi đôi mươi xác nhận tài viết của họ. Ngẫm cho cùng cũng không trách họ được. Trong thời gian trận chiến đang tiếp diễn tại Hạ Lào, nếu cứ đứng tại phi trường Khe Sanh (tôi chắc có một số phóng viên chiến trường có mặt ở nơi tương đối an toàn này) sẽ thấy toàn là máy bay chở xác, chở thương binh của ta mặt mày biến sắc “Xin thưa rằng đã là thương binh, trong lúc vết thương hành hạ, thì ai mặt cũng xanh mét, cũng biến sắc”, máy bay chiếc lên chiếc xuống nhịp nhàng suốt ngày với nhiệm vụ tiếp tế, tải thương, tải xác. Không thấy có tù binh cũng như chiến lợi phẩm mang về tương xứng, thua là cái chắc! Thông thường thì như vậy nhưng đây không phải là trận chiến bình thường, nó vượt khỏi mọi sự suy nghĩ và suy luận theo tam đoạn luận của học sinh trung học. Trận Hạ Lào nó ở trên cao, cao lắm muốn với tới phải trả bằng máu bằng xương của chính mình, của bạn bè, của đồng đội, hoặc tối thiểu cũng phải bằng mồ hôi nước mắt, với sức chịu đựng dẻo dai và lòng cố gắng, quyết chiến, quyết thắng mới có thể nhìn thấy Hạ Lào tức Lam Sơn 719. Nó linh động thế nào? Nó tàn bạo làm sao?

           

BÁO CHÍ SÀI GÒN ĐÃ NÓI GÌ ?

            Khi từ Hạ Lào vừa ra tới Đông Hà thay vì được về Sài Gòn nghỉ dưỡng quân ít ngày, ngược lại chúng tôi được không vận thẳng tới Pleiku, rồi từ đó vào thẳng Tân Cảnh, Kontum, trực thăng vận vào căn cứ Hỏa Lực số 6, để LĐ2ND dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Trần Quốc Lịch gồm TĐ5BBND, TĐ6BBND, TĐ11BBND, TĐ2PBND, ĐĐ2QYND, ĐĐ2CBND, ĐĐ2TSND quần thảo với một sư đoàn chánh qui của Cộng Sản Bắc Việt Nam. Chỉ trong vòng 13 ngày, Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù Việt Nam đã loại Sư Đoàn này, Sư Đoàn 986 ra khỏi trận chiến, vinh quang trở về Sài Gòn, sung sướng bên vợ hiền con thảo. Khi về tới Sài Gòn, tôi nôn nao lật chồng báo cũ ra coi, để xem báo Việt Nam nói gì về Hạ Lào, tôi không khỏi giật mình, chán nản, thất vọng khi đọc thấy các cơ quan ngôn luận của mình đăng những tin tức mơ hồ, nóng bỏng, nổ như bắp rang, với những tít lớn như thế này: Địch quân không dùng quân số đông để áp đảo QLVNCH mà chúng đã dùng hỏa lực của Pháo Binh để áp đảo QLVNCH. Hạ Lào không có cơ sở tiếp liệu của địch vì Hạ Lào là vùng rừng thưa. Hạ Lào ở xa các chiến trường chính cho nên Hạ Lào không có các kho tàng của địch như tin tình báo. QLVNCH đã mất hết tinh thần khi gặp phải địch quân có hỏa lực mạnh hơn. Tôi ngậm ngùi suy nghĩ cho thân phận của những người lính như chúng tôi, chắc chắn chúng tôi sẽ phải thua trận chiến này, vì chúng tôi đã thua ngay tại hậu phương của mình. Làm sao chúng tôi còn đủ sức để chiến thắng ngoài chiến trường, trận chiến thua trước mắt mà đành bó tay. Làm sao chúng tôi có thể tả xung, hữu đột để thoát vòng kiềm tỏa này? Tôi ngậm ngùi muốn quỳ xuống van vái những người mà tôi vẫn cho là bạn, xin đừng đâm sau lưng chúng tôi thêm nữa.

           

CHÚNG TÔI GẶP GÌ Ở HẠ LÀO?

            Tôi muốn viết thật xác thực, những gì mắt thấy tai nghe, không mầu mè để chúng ta dễ định giá trận đánh đẫm máu này. Những người tham dự trân đánh Hạ Lào từ đầu cho đến cuối có rất đông tại ngoại quốc. Có 4 sĩ quan sau này là cấp Tá dưới quyền chỉ huy trực tiếp của tôi tham dự trận Hạ Lào đang ở Hoa Kỳ, 2 trong 4 người đang có mặt ở thi trấn San Jose. Khu vực hành quân quả thật có nhiều chỗ rừng thưa, không những vậy còn có nhiều chỗ đồi trọc, nhưng khu vực hành quân của Liên Đoàn Đặc Nhiệm gồm 3 Trung Đoàn Thiết Giáp và Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù lại là vùng rừng rậm, có đôi chỗ trống trải vì khai quang để làm rẫy, hoặc dấu vết làng mạc cũ xen lẫn một ít đồi trọc, nhưng chỉ trọc trên đỉnh đồi chu vi khỏang 500m trở lại mà thôi. Tôi muốn tả tình, tả cảnh như vậy, vì có một số tác giả nói rằng Hạ Lào chỉ là vùng rừng thưa, không khác gì sờ chân voi mà nói rằng con voi hình tròn như chiếc cột.

            Ngày N. trừ 1 chúng tôi được xử dụng máy bay quan sát của Hoa Kỳ (đối với Quân Lực Hoa Kỳ thì vị Tiểu Đoàn Trưởng Pháo Binh chính là Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Phối Hợp Hỏa Lực của Lữ Đoàn hay Trung Đoàn, ông ta quyết định tất cả hỏa lực của Hải, Lục, Không quân trong vùng hành quân. Bởi lý do này cho nên ông ta phải nắm vững địa hình trong vùng hành quân. Đó là lý do mà Hoa Kỳ cung cấp máy bay cho tôi bay thám sát vùng hành quân). Suốt cuộc hành quân không có máy bay quan sát của Việt Nam, nhưng những quan sát viên phi cơ, hay các người điều không tiền tuyến đều là người Việt Nam, hoa tiêu chính vẫn là người Hoa Kỳ. Lúc này, đài BBC và đài VOA đã loan tin thật rõ ràng từ 2 ngày trước hoặc sớm hơn nữa: “QLVNCH sẽ xử dụng các đơn vị Tổng Trừ Bị và SĐ1BB tấn công sang miền nam của vương quốc Lào”. Vậy mà trước khi thi hành nhiệm vụ quan sát, chúng tôi vẫn nhận được lệnh “cố gắng tránh đừng để địch quân biết là chúng ta sắp sửa hành quân vào Hạ Lào”. Vừa bay vào vùng trách nhiệm, tôi thật ngạc nhiên vì nó ngoài sự ước đoán của chính tôi. Đường đất mới mầu ngà ngà chằng chịt, nhưng không có trên bản đồ địa hình, bản đồ mà tôi đang có, bản đồ mà tất cả mọi đơn vị hành quân đang dùng đều không có ấn dấu này. Bên phía Khe Sanh, Lao Bảo của Việt Nam đường đất màu đỏ, bụi bay mù mịt chứng tỏ có đoàn xe đang xử dụng. Tôi đếm được 6 đám bụi lớn, không kể những đám bụi nhỏ (một hoặc hai xe) nhưng khi máy bay đến nơi, thì tất cả đã chui vào lùm cây mất hút không để lại dấu vết. Bay đến Tchépon tôi thấy một cây cầu bắc ngang sông Tchépon. Cây cầu này nối liền hai khúc đường mới, không có trên bản đồ. Tôi muốn xuống thấp quan sát cây cầu nhưng bị pilot từ chối, sợ nguy hiểm bởi ai cũng biết rằng dàn phòng không đâu đó đang rình rập chúng tôi. Nhưng vì cây cầu có nhiều điểm khả nghi, nên tôi nhấn mạnh lại một lần nữa là tôi muốn quan sát cây cầu này. Đại Uy pilot thở dài xong chiều ý tôi, nhưng nhắc tôi là chỉ một lần mà thôi. Khi máy bay xuống thấp khoảng 1000 bộ (khoảng cao độ quen thuộc với chúng tôi, chiều cao của các anh em Mũ Đỏ: sẵn sàng - Go), tôi thấy rõ không phải là cây cầu mà là đoàn xe đang băng qua sông. Khi thấy máy bay đoàn xe xích lại gần sát nhau và tắt máy bất động. Trên cao nhìn xuống nếu không tinh thì đúng là một cây cầu đúc. Sau này, chúng tôi mới được biết là chúng cho đắp đập đá ngầm cách mặt nước nửa thước để xe có thể băng qua sông. Chúng nghiên cứu những nơi nước chảy chậm mới làm đập này vì nếu làm nổi sẽ bị không thám chú ý, và sẽ bị máy bay oanh tạc ngay. Sau này tình báo của ta biết được chúng kiến trúc đập đá ngầm bằng cách lợi dụng khi có Bộ Đội di chuyển qua đó, chẳng hạn một Trung Đoàn chỉ cần mỗi người vác một cục đá nặng trên 5 kí lô, khi băng qua sông vất xuống đó thứ tự, từ bờ bên này sang bờ bên kia, đơn vị công binh sửa lại sơ sài, là chúng có một đập đá ngầm tương tự, mà không một tốn phí nào. Tại vùng này cũng như dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh, khi trời nắng khô, không có sông sâu, có rất nhiều đoạn chỉ sâu ngang đầu gối chân mà thôi. Đó chính là những nơi làm đập đá ngầm lý tưởng.

            Ngày N, ngày khởi đầu cuộc Hành Quân, tất cả các đơn vị tham chiến “Không Quân và Lục Quân”, đều theo lệnh miệng của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa để xuất quân, để vượt tuyến xuất phát “xuất quân”. Khoảng 8:00G tất cả mọi quân nhân đều nghe lệnh xuất quân từ đài phát thanh Quốc Gia/ Sài Gòn truyền đi, trên làn sóng thường lệ nguyên văn như sau: “Giờ phút này tôi cho lệnh QLVNCH tấn công qua phần đất phía nam của vương quốc Lào . . . . . .”. Vừa nghe xong câu này chúng tôi đoàn quân tấn công qua Hạ Lào bằng đường bộ, tắt máy radio, cùng với tất cả các đơn vị khác tùng thiết, hay không vận bằng các loại máy bay đồng loạt vượt qua tuyến xuất phát. Chúng tôi bắt đầu lội bộ băng qua con suối nhỏ làm ranh giới Lào-Việt. Con suối này dù nhỏ có thể bước qua nhưng lại rất dễ nhận diện vì bên phần đất của Việt Nam thì đất đỏ nếu là mùa mưa thì đất dính giầy, còn bên phần đất của Lào thì đất sỏi dù có mưa đất cũng không dính giầy. Không một dấu vết địch quân tại biên giới, nhưng vào sâu khoảng 2 cây số cánh quân đi đầu của TĐ8BBND, Đại Đội 84 của Đại Úy Vân (đen) chạm địch nặng. Dọc đường bị chận đánh liên tục, nhưng 15:00G của ngày N cộng 1 chúng tôi cũng đã tới điểm đóng quân Ban Dong để thiết lập căn cứ hỏa lực mang tên ngụy thoại “A Lưới”. Vừa bước chân vào vị trí đóng quân, tôi ngại ngùng vì thấy điểm địa hình của địch. Trong nghề Pháo Binh nên không lầm lẫn được, chính những điểm địa hình tương tự tôi cũng đã có thiết lập tại nội địa. Tôi vừa trình bầy việc này với Đại Tá Lê Quang Lưỡng, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù xong thì địch dàn chào đầy hào hứng. Những loạt pháo bằng dàn hỏa tiễn 122 ly và 107 ly bay ào ạt tới như biển lửa chụp trọn căn cứ mới chiếm đóng. Nếu anh em Mũ Đỏ không nhanh tay đào hố cá nhân thì cũng dễ bị tan hàng. Những trò đùa này chúng tôi đã quen ở các chiến trường Việt Nam, nhờ vậy chúng tôi vẫn đứng vững trên khắp các chiến trường Việt Nam mà không bị tan hàng vì pháo của địch quân. Dàn phóng hỏa tiễn này được gắn trên xe chạy bằng xích mỗi dàn phóng có từ 5 cho đến 7 nòng. Lần đầu tiên trong đời, chúng tôi các chiến binh Mũ Đỏ được thưởng thức pháo bằng Hỏa Tiễn TOT (time on target) từng chùm như vậy. Mỗi lần tới trên 100 trái thật tưng bừng. Đ/T Lưỡng đứng ngay bên cạnh tôi để nghe trình bày về các điểm địa hình quân sự, ông bị thương ngay lần pháo này. Cũng may điểm nổ gần nhất của trái đạn hỏa tiễn cách chỗ chúng tôi đứng 20 thước. Đến 19:00G ngày N cộng 1, Lữ Đoàn nhận được báo cáo tổng quát, các tin tức này cũng là để minh xác là Hạ Lào có kho tàng của địch hay không.

            TĐ8BBND do Trung Tá Văn Bá Ninh, Tiểu đoàn Trưởng, Thiếu Tá Trần hữu Phú Tiểu đoàn Phó (T/T Phú thay thế T/T Đào thiện Tuyển ngày N trừ 1 bị thương vì máy bay Mỹ đánh lầm vào Bộ chỉ huy của TĐ8BBND tại Lao Bảo do một phi vụ skypot, trong lúc đơn vị đang chuẩn bị tại vùng tập trung để xuất quân vào Hạ Lào) báo cáo khám phá một kho chứa chừng 2000 xe đạp mới tinh, một cơ xưởng sửa chữa xe đạp và vào khoảng 1000 xe đạp cũ còn xử dụng được, một kho nhiên liệu khoảng 50 thùng phuy nhớt và 100 thùng phuy dầu cặn (khác dầu cặn của ta) và xác nhận đã đụng độ với một trung đoàn thuộc Sư Đoàn 320 Bắc Việt Nam, sau khi đã khai thác các tử thi của địch và tù binh.

            TĐ1BBND do Thiếu Tá Nguyễn văn Phan, Tiểu đoàn Trưởng, Thiếu Tá Nguyễn Quang Sáng, Tiểu đoàn Phó, khám phá một kho quân trang và xác nhận đụng độ với một Trung Đoàn của Sư Đoàn 306 Bắc Việt Nam, sau khi đã khai thác các tử thi và tù binh cũng như quân dụng của địch.

            TĐ9BBNĐ do Trung Tá Nguyễn Văn Trí, Tiểu đoàn Trưởng, Thiếu Tá Võ thanh Đồng, Tiểu đoàn Phó báo cáo gặp một trung tâm huấn luyện rất quy mô trong khu rừng già nhưng không rõ danh tính.

            Thưa quí vị, đó chỉ là ngày N cộng 1 mà các biến cố dồn dập như vậy. Còn các ngày sau liên tiếp khám phá ra rất nhiều kho tàng, đủ các loại quân dụng và đạn dược, các kho quân trang quân dụng đều mới toanh, các kho y dược nhãn hiệu sản xuất từ các nước trong khối Cộng Sản. Cũng như TĐ1BBND sau đó khám phá thấy một kho thực phẩm các loại đồ hộp và lương khô của Nga và Trung Cộng. Phòng 2 BTL/HQ xác nhận chưa gặp các loại lương khô và đồ hộp này tại khắp các chiến trường miền Nam Việt Nam bao giờ.

            Những ngày mới vào vùng hành quân, các trận đụng độ ác liệt của ta và địch chưa diễn ra cho nên các pass B52 được đánh hằng ngày theo không ảnh, hay theo tiên liệu vào những vùng nghi ngờ có kho tàng hay nơi đồn trú quân của địch, thường là những đường thông thủy. Vậy mà không ngày nào là không trúng kho đạn hay kho nhiên liệu, xác định được rõ ràng do quan sát được những đám nổ phụ, hay những cột khói cháy liên tục ngày đêm. Đặc biệt kho xăng dưới chân núi 500m cháy liên tục 2 ngày 2 đêm. Xin kể một chuyên vui cười tại Hạ Lào là: Căn cứ A Lưới (Ban Dong) lúc Đại Tá Lê quang Lưỡng và tôi đang đứng quan sát trên nóc TOC (tactical operation center) của Lữ Đoàn, trong lúc các dàn phóng hỏa tiễn của địch đang pháo vào căn cứ, chúng tôi quan sát và nhận diện được một vị trí dàn phóng hỏa tiễn năm nòng 122 ly, ĐT/LĐT cho lệnh tôi xin phi cơ oanh tạc vào điểm này (lúc này chúng tôi xử dụng hỏa lực của Hoa Kỳ rất dễ dàng, luôn luôn họ ưu tiên hỏa lực cho trung tâm phối hợp hỏa lực của LĐ1ND. Tại sao như vậy, chúng tôi xin nói ở bài khác. Trung Tâm Phối Hợp Hỏa Lực là thành phần ban 3 và đài trung ương tác xạ của bộ chỉ huy các Tiểu Đoàn Pháo Binh). Vì ngoài tầm pháo binh nên trung tâm phối hợp hỏa lực xin phản pháo bằng không quân, qua sĩ quan không trợ, tọa độ như sau: từ điểm Alpha về phải .5 xuống 5.(-) nhưng sĩ quan không trợ lại chuyển lầm là từ điểm Alpha về phải .5 lên 5.(+) như vậy tọa độ chuyển đi sai 10 cây số, vì là vùng không có quân bạn, cho nên không ai chú ý để clear kỹ càng. Khi máy bay lên vùng oanh tạc vào mục tiêu, ĐT/LĐT và tôi thấy sai nhưng cùng lúc đó một đám cháy lớn của kho nhiên liệu phát ra, ngay tại mục tiêu xin sai. Đám cháy này cháy lâu một ngày một đêm. Tôi muốn dẫn chứng là kho tàng của chúng đầy dẫy trong vùng. Thay vì xin phản pháo nhưng chuyển tọa độ sai, lại thành xin tiêu hủy kho tàng địch quân. Việc tiêu diệt các kho tàng của địch, cũng chính là một mục tiêu của cuộc hành quân. Cùng lúc đó, hỏa tiễn lại pháo dồn dập vào căn cứ tại điểm mà trung tâm phối hợp hỏa lực đã xin. Vì chính ĐT/LĐT đã nghe đơn xin phản pháo của trung tâm phối hợp hỏa lực nên ông đích thân kiểm soát lại mới biết sĩ quan không trợ lầm lẫn như trên. Ngoài ra, chúng còn có hệ thống dẫn dầu bằng ống dẫn đường kính khỏang 40cm. Tất cả hệ thống này đều bị bộ binh phá hủy và các pass B52 phá vỡ đã bốc cháy hằng ngày. Về nhân mạng, địch tổn thất vì giao tranh với ta chỉ một phần nhỏ, phần nhiều là do B52 tiêu diệt. Có phi vụ B52 đã giết cả Trung Đoàn địch quân, những thiệt hại của địch quân do B52 oanh tạc đa phần đều có kiểm chứng bằng bộ binh hay bằng quan sát thấp.

            Sau này trận chiến càng ngày càng khốc liệt, chúng tung quân đông để dùng biển người đè bẹp chúng ta. Chẳng hạn như cánh quân TĐ8BBND và hai Trung Đoàn Thiết giáp, chúng cho đối đầu bằng SĐ320 và các Trung Đoàn chiến xa của chúng mà theo tin tức tình báo thì có chiến xa T54, cánh quân TĐ1BBND sau này tăng cường thêm TĐ7BBND do Thiếu Tá Lê minh Ngọc Tiểu đoàn Trưởng, Thiếu Tá Trần đăng Khôi Tiểu đoàn Phó và một Trung Đoàn Thiết Giáp, chúng cho đối đầu bằng SĐ 306 và các đơn vị thuộc các trung tâm dưỡng quân tại Hạ Lào (theo như tin tức tình báo sau khi chúng tôi rút ra khỏi Hạ Lào, thì mới biết mỗi trung tâm dưỡng quân tại vùng hành quân Hạ Lào có quân số bằng một trung đoàn. Quân số đầy đủ hơn và mạnh khỏe hơn, vì đây là quân số sẵn sàng để bổ sung cho các đơn vị đang tham chiến trên khắp chiến trường miền Nam). Tại cánh quân này, ĐT/LĐT/LĐ1ND đã phải xử dụng B52 yểm trợ gần như máy bay chiến thuật, loạt bom của B52 có khi chỉ cách lính gác giặc của các đơn vị ta dưới 500m. Đây là việc làm hết sức táo bạo, nhưng phải rất khôn ngoan khi vẽ hướng thả cho các phi vụ B52 yểm trợ trực tiếp như vậy. Những pass B52 sanh tử này rất hữu hiệu, nhưng cũng rất tai hại nếu bất cẩn. Vì cẩn trọng cho nên trong suốt cuộc hành quân chúng tôi không bị một tai nạn nào về lối sử dụng thần sầu này. Có rất nhiều lần các pass B52 đánh, làm lính gác giặc của ta, hay các toán tiền đồn của ta bị hất văng ngược trở lại.

            Căn cứ 31 thất thủ, trong căn cứ gồm BCH/LĐ3ND, BCH/TĐ3BBND, BCH/TĐ3PBND, Pháo Đội B3 ND, tổng cộng quân số không trên 300 quân nhân. Đây là một tin buồn nhất cho chúng tôi từ trước đến nay. Ngay ngày hôm sau, Thiếu Tá Trần hữu Phú dẫn 2ĐĐ/TĐ8BBND tùng thiết hai Chi Đoàn Thiết Giáp tiến về căn cứ 31. Nhiều tác giả”tưởng tượng” cho rằng đây là 2ĐĐ thuộc TĐ9ND nhưng thật sự là của TĐ8ND. Không có một cánh quân nào của TĐ9ND tiến về hướng căn cứ 31 trong suốt trận đánh này (Hiện T/T Trần Hữu Phú đang ở Orange County, và sĩ quan Tiền Sát Viên là Trung Úy Lê Ngọc Chương (Chương còm) hiện đang ở Wisconsin). Khi còn cách căn cứ khoảng trên 2 Km, đơn vị bị phục kích bởi một trung đoàn địch có chiến xa yểm trợ. Vì thuyết trình viên của Phòng 2 BTL/QĐI/HQ cho biết là địch có chiến xa T54, nên thiết giáp của ta tránh đụng độ với địch. Thực ra, địch chỉ có PT76 trong trận này, vì vậy đơn vị này tưởng chừng như sắp sửa bị tràn ngập. Pháo Binh của ta can thiệp cấp thời dưới cơn mưa pháo của địch tại vị trí Pháo Đội. Các pháo đội của ta nhất là PĐA44PB do Đại Uy Trần Văn Vẹn chỉ huy và PĐA1ND do Đại Uy Đinh Thành Tấn chỉ huy tỏ ra rất can trường. Các loạt đạn nổ mạnh chính xác, chỉ cách quân bạn khoảng 50m, nhờ vậy địch quân nhả dần ra. Trong lúc Pháo Binh đang yểm trợ thì hai pass B52 kẹp sát hai bên đường, sau đó chiến trường hoàn toàn im lặng. Hai ĐĐ/TĐ8BBND bung ra lục soát thấy xác giặc chết không toàn thây, xương thịt bầy nhầy, vương vãi khắp nơi. Ước lượng khoảng chừng 800 địch quân chết hai bên đường do B52 làm thịt. Lấy kinh nghiệm này, Đại Tá Lê Quang Lưỡng đã áp dụng cho chiến trường An Lộc khi ông chỉ huy LĐ1ND vào giải tỏa An Lộc.

           

MỤC ĐÍCH CHÚNG TA VÀO HẠ LÀO

            Chúng ta vào Hạ Lào không phải để chiếm đất, càng không phải là để đuổi địch ra khỏi vùng này, cũng như không phải là để tiêu diệt địch quân trong vùng mục tiêu. Mục đích của chúng ta minh định rõ ràng trong lệnh hành quân là PHÁ VỠ CÁC KHO TÀNG CỦA ĐỊCH, TRIỆT HẠ CÁC CƠ SỞ TIẾP VẬN CỦA ĐỊCH. Chúng ta, QLVNCH đã hoàn thành sứ mệnh. Báo chí Sài Gòn lúc đó đưa tin chúng ta không chiếm được mục tiêu này, vùng đất kia chính là họ đã lầm lẫn như những chiến trường nội địa mà chúng ta thường gặp. Vậy QLVNCH đã đạt được mục tiêu mà cấp trên mong muốn, vì chúng ta đã phá vỡ hầu hết các kho tàng của địch, các cơ sở tiếp vận của địch hầu như không còn hoạt động được, mục tiêu đề ra QLVNCH đã hoàn tất. Vậy quí vị còn muốn QLVNCH, chúng tôi phải làm gì để cho quí vị vừa lòng nữa đây? Như trên, tôi đã trình bày đây là cuộc hành quân bất bình thường, mà ngay những người tham dự trận chiến này cũng thuộc loại bất bình thường, nên mới anh dũng trở về trong bình thường.

           

PHẢN ỨNG CỦA ĐỊCH

            Phản ứng của địch thật vô cùng mãnh liệt, nhưng là một chiến binh của QLVNCH, chúng tôi luôn luôn chấp nhận phản ứng này ở bất cứ một trạng huống nào. Nói chung, chúng tôi chấp nhận mọi tổn thất miễn sao đạt được mục tiêu của các Bộ Tư Lệnh Chiến Trường đã đề ra. Khi địch quân nhận ra rằng cơ sở tiếp vận của chúng bị phá tan tành, chúng hoảng hốt, nhưng chúng muốn cho thế giới thấy rằng chúng vẫn mạnh. Và để chứng minh rằng cuộc chiến Hạ Lào không ảnh hưởng đến lực lượng của chúng, chúng dùng một Sư Đoàn chính qui đã được ém sẵn tại Kontum tấn công một tiền đồn của ta tại Tân Cảnh. Chúng điều động một Trung Đoàn cộng để dứt điểm căn cứ hỏa lực số 6 nơi đóng quân của một BCH Tiểu đoàn Bộ Binh và một Đại Đội tác chiến. Một Trung Đoàn chúng chặn đường tiếp viện, một Trung Đoàn trừ bị. Quả nhiên kế hoạch của chúng thành công ngay vì các đài phát thanh chuyên đâm sau lưng chúng ta, lại rầm rộ loan tin “Cộng Sản Việt Nam vẫn còn đầy đủ khả năng tiếp vận để tấn công QLVNCH vì trận Hạ Lào không gây khó khăn cho chúng về tiếp vận, nên Cộng Sản Việt Nam đã mở ngay mặt trận mới tại Tây Nguyên Việt Nam”. Nếu Hạ Lào thật sự không làm chúng tổn thương thì chúng đã đánh ngay nhiều nơi, nhất là Huế và Đà Nẵng hoàn toàn bỏ ngỏ khi các đơn vị của SĐ1BB tấn công sang Nam Lào. Tướng lãnh của chúng chỉ cần khôn khéo một chút khi biết trước chúng ta sẽ tấn công qua Hạ Lào. Theo tôi thì có lẽ chúng biết trước hàng tháng vì mốc địa hình tại Hạ Lào đã cho chúng tôi biết thời gian thiết lập. Cho nên, phải nói rằng chiến trường chúng đã chuẩn bị sãn sàng từ trước để chờ chúng ta vào rọ. Tù binh của đơn vị đặc công SĐ320 quê tại Nam Điền, huyện Xuân Thủy, Hà Nam Ninh khai rằng chúng đã đóng quân tại Hạ Lào để chờ ta trước đó hai tuần. Vậy mà chúng không khôn ngoan điều động một đơn vị cấp Trung Đoàn đóng chốt dọc theo quốc lộ từ Cam Lộ - Phương Lâm cho đến Khe Sanh, nếu cần kéo dài cho đến Lao Bảo, giật sập cầu Đá Bạc, thì một đơn vị tinh nhuệ có kinh nghiệm diệt chốt, có phi pháo yểm trợ dồi dào may ra một hai tuần lễ mới làm xong công việc khai thông trục lộ. Nếu làm như vậy thì trận Hạ Lào còn khó khăn lắm mới khai diễn đúng như dự liệu, còn nếu không làm như vậy, thì cho đoàn quân vào xong khóa đường, đơn vị hành quân sẽ vất vả, khi tái tiếp tế cũng như lúc rút ra Đông Hà. Cũng may nếu chúng khôn ngoan làm như vậy thì máu xương của chúng ta còn đổ ra thê thảm hơn biết chừng nào. Có người cho rằng chúng không làm như vậy vì chúng muốn đánh lừa chúng ta, để chúng ta yên trí rằng chúng không biết trước kế hoạch của ta. Lập luận này không đứng vững, chúng ta ai cũng hiểu rằng kế hoạch hành quân chúng ta đã nhận được thì dù cho chông gai cách trở cũng phải thi hành cho bằng được, hoặc không thì như trên chúng tôi đã trình bày cứ để đại quân vào êm ả, xong xuôi khóa đường. Chúng không biết trước sao được khi mà chúng tôi ra tới Đông Hà thì cả quận này đều biết chúng tôi sẽ sang Hạ Lào, trong khi đơn vị tham chiến, các cấp từ Tiểu Đoàn Phó trở xuống đều không biết mình sẽ hành quân nơi nào.

HỆ THỐNG BẢO MẬT CHO HẠ LÀO

            Coi như không có, vì các đài phát thanh bạn tìm mọi cách giết (chúng ta) QLVNCH bằng cách loan tin nóng hổi là chúng ta sẽ tấn công qua Hạ Lào trong lúc đó đơn vị tham chiến còn đang ở Sài Gòn. Riêng đơn vị chúng tôi, ban 2 chưa được lãnh bản đồ, từ Tiểu đoàn Phó trở xuống tại phi trường Tân Sơn Nhất khi bước chân lên máy bay đều chỉ biết là đi Vùng I mà thôi. Có người tán ra là đi hành quân tại DMZ, nhưng khi đến Đông Hà thì dân chúng đã biết là chúng tôi sẽ qua Hạ Lào từ ngày hôm trước. Hỏi ra, họ cho biết là anh em trong BTL hành quân cho biết như vậy. Khi nghe được tin này tôi thật buồn, chân tay như muốn tê dại. Các cuộc hành quân phối hợp chúng tôi đều giữ kín, nhưng vẫn tiết lộ bằng nhiều ngã khác. Không những vậy, theo tin đồn thì khi kế hoạch hành quân trình lên Tổng Thống, thì Vũ Ngọc Nhạ đã lén chụp hình gửi ra Hà Nội trước khi Tổng Thống đọc kế hoạch này.

           

MỨC ĐỘ TIẾP LIỆU CHO HẠ LÀO

            Mọi thứ tạm coi là chu đáo, nhưng một thứ quan trọng sanh tử thì lại lơ là . Buổi họp ngày N trừ 2 tức là ngày chúng tôi vừa đặt chân xuống phi trường Đông Hà, nhận lệnh họp hành quân, các Tiểu đoàn Trưởng Pháo Binh, các Lữ đoàn Trưởng, các Trưởng Phòng của BTL/SĐND, Tham Mưu Trưởng, Tư Lệnh Phó, Tư Lệnh SĐND được mời vào ngay phòng họp. Chúng tôi được BTL/HQ Lam Sơn 719 cho biết có nhiều đơn vị Thiết Giáp địch hiện diện trong vùng hành quân và nhất là chiến xa T54 được chế tạo tại Liên Sô có khả năng tác chiến mạnh hơn chiến xa của chúng ta đang có. Nhìn sang các vị Trung Đoàn Trưởng Thiết Giáp, tôi thấy sự lo ngại hiện rõ ràng trên mặt. Vì tình hình như vậy cho nên vị anh cả của chúng tôi xin được cấp phát mìn chống chiến xa (cho đến lúc đó QLVNCH chưa đụng độ với chiến xa địch bao giờ, kể cả chúng tôi đơn vị tổng trừ bị, trận Làng Vei giữa đường từ Khe Sanh cho tới Lao Bảo năm 1967, có chiến xa địch xuất hiện nhưng không đụng độ với chúng ta mà đụng độ với quân đội Hoa Kỳ mà thôi). BTL/HQ trả lời có mìn chống chiến xa, nhưng còn ở kho đạn Đà Nẵng. Chúng tôi thở dài thắt ruột. Sau đo, vị anh cả của chúng tôi xin được cấp phát mìn chống chiến xa trước khi vào vùng hành quân. Được hứa thuận, nhưng than ôi mãi tới khi căn cứ 31 bị pháo dữ dội, còn khoảng 1 tuần nữa là thất thủ mới được thả xuống căn cứ hai lưới mìn chống chiến xa. Lúc đó không ai còn có thể ra đặt mìn được nữa vì pháo liên tục, cũng như các loạt đạn của súng đại bác không giật làm cho ĐĐ3CBND đành bó tay. Căn cứ A Lưới vừa thả xuống một lưới mìn chống chiến xa thì bị phát hỏa và phát nổ do các chùm hỏa tiễn 122ly của địch. Vì chúng pháo quá nhiều nên không may có trái trúng ngay lưới mìn vừa thả xuống. Cho nên khi căn cứ 31 bị thất thủ, chiến xa của địch không gặp một chướng ngại vật nào ngoại trừ sức người và hỏa lực cơ hữu của đơn vị phòng thủ. Nếu có mìn chống chiến xa sớm, ngay từ lúc mới vào Hạ Lào thì căn cứ 31 chưa chắc đã phải chịu số phận hẩm hiu như vậy, hoặc có thể vẫn bị thất thủ nhưng địch phải trả giá cao hơn.

           

TINH THẦN CHIẾN ĐẤU CỦA TA

            Xin dẫn chứng để quí vị thấy từng khung cảnh một, tôi chỉ viết lại những gì thấy tường tận, còn những khung cảnh khác như nghe kể lại, hoặc nghe báo cáo trên hệ thống hành quân tôi không viết lại ở đoạn này.

            TĐ2BBND: Sau khi căn cứ 31 thất thủ, căn cứ 30 cứ điểm của TĐ2BBND do Trung Tá Trần Kim Thạch, Tiểu đoàn Trưởng và Thiếu Tá Lê Văn Mạnh, Tiểu đoàn Phó, cứ điểm này vào hệ thống chỉ huy của LĐ1ND. Trong căn cứ 30 có pháo đội 105 ly là PĐC3ND Pháo Đội Trưởng Đại Uy Bành Minh Trí. Pháo đội 155 ly là PĐC44PB, Pháo Đội Trưởng Đại Uy Trương Duy Hy. Hai Pháo đội này đương nhiên vào hệ thống chỉ huy của tôi. Việc này cũng dễ hiểu vì tôi là CHT Trung tâm phối hợp hỏa lực của LĐ1ND. Hơn nữa, lúc đó tại chiến trường Hạ Lào, tôi là sĩ quan cấp Tá duy nhất của PBND. Mặc dầu trong căn cứ không quá 300 người, vậy mà đã chống trả với 2 trung đoàn địch quân thuộc SĐ304, một trung đoàn chiến xa được yểm trợ bởi ít nhất là 3 tiểu đoàn pháo binh +, hỏa tiễn với mức độ tiếp tế đạn dược dư thừa. Vậy mà sau hai tuần lễ tấn công ngày đêm bằng mọi phương kế, có lúc dùng biển người và biển lửa, chúng vào tới hàng rào phòng thủ thứ hai nhưng vẫn bị đẩy lui.

            TĐ1BBND cánh quân B Béta (sao chẳng gọi là Bravo, hay Bắc Bình mà lại gọi là Béta, tôi chẳng hiểu sao T/T Nguyễn quang Sáng lại muốn như vậy), sau khi tôi xử dụng Pháo Binh của Hoa Kỳ từ biên giới Lào - Việt Nam, phối hợp cả 8 inches và 175 ly, T/T Sáng đã dẫn quân tấn công cứ điểm của BTL/SĐ306CS Bắc Việt Nam. Trận đánh tuyệt vời này đã giết tên Tư Lệnh SĐ306 là Thượng Tá Nguyễn xuân Rục, lấy được đầy đủ gậy chỉ huy, bản đồ chỉ huy, đặc lệnh truyền tin, máy chỉ huy liên lạc trong đó có một máy mà các đơn vị hành quân đều không rõ danh hiệu còn mới cáu cạnh đang liên lạc trực tiếp với BTTM tại Hà Nội . Chính nhờ đặc lệnh truyền tin này mà chúng tôi đã biết trước được các cuộc điều quân của địch. Mặc dầu địch biết chúng ta lấy được đặc lệnh truyền tin nhưng chúng vẫn không thay đổi vì chúng không có phương tiện để phổ biến thay thế đặc lệnh truyền tin mới đến các đơn vị đang hành quân.

            TĐ8BBND mặc dầu không tiến đến Tchépon như ý, nhưng đã làm cho SĐ320 CS Việt Nam phải trả một giá quá đắt. Cuối trận đánh, SĐ320 CS Việt Nam muốn có một tiểu đoàn để chặn đường rút quân của chúng tôi nhưng đành bó tay. Lúc đó, chính Tư Lệnh SĐ320 xin một tiểu đoàn chặn đường rút quân ra khỏi Hạ Lào của chúng tôi (vì có đặc lệnh truyền tin do cánh quân Béta của TĐ1BBND tịch thu được trên xác chết của tư lệnh sư đoàn 306 CS bắc Việt Nam nên chúng tôi biết được tin này) nhưng không có kịp vì quân số không còn. Cuộc rút lui của chúng ta bị địch quân biết trước ít nhất là 2 ngày trước do đài BBC và VOA truyền đi. Dù cho hai đài này không truyền đi thì chúng cũng phải biết, trong lệnh hành quân của ta, địch đã lấy được trong đó có nói rõ là chúng ta sẽ rút ra, chỉ không ấn định rõ ngày giờ mà thôi.

            TĐ7BBND vào tham chiến trước khi cuộc hành quân chấm dứt 3 tuần lễ vì lúc đó TĐ1BBND quá mệt mỏi. Trong cánh quân này chúng ta chỉ có hai TĐBBND và một Trung Đoàn Thiết Giáp, nhưng chúng đã dàn chào bằng nguyên một sư đoàn chính quy SĐ306 Cộng Sản Bắc Việt, một trung tâm dưỡng quân. Chính vì chúng bu đông như vậy cho nên chúng đã làm mồi cho B52 và các loại phi pháo khác. Tiểu đoàn trưởng TĐ1BBND phải hy sinh, tiểu đoàn trưởng TĐ7BBND phải tản thương khẩn cấp, vậy mà 2 TĐ này đã làm cho địch quân không còn khả năng chặn khi TĐ1BBND rút bằng đường bộ, và TĐ7BBND rút bằng Trực Thăng Vận. Tiểu Đoàn Trưởng TĐ7BBND lúc đó là Thiếu Tá Trần đăng Khôi đã lên chiếc trực thăng cuối cùng với 3 quân nhân và một người mang máy.

CHIẾN TRANH TÂM LÝ YỂM TRỢ CHO HẠ LÀO

            Không có một chương trình khích động tinh thần anh em quân nhân tham dự trận chiến thư hùng này trên đài phát thanh của ta dù chỉ một lời ghi ơn vô nghĩa. Tôi mở sang đài Việt Cộng, chúng ca ngợi tinh thần chiến đấu của hai sư đoàn 320 và 306 “đã tiêu diệt các cánh quân hung hãn của bọn Ngụy Dù Sài Gòn con đẻ của Mỹ Ngụy” trong lúc mỗi sư đoàn của chúng không còn đủ một tiểu đoàn nguyên vẹn. Còn chúng ta, sau trận Hạ Lào, Sư Đoàn Nhảy Dù Việt Nam vẫn còn cử một Lữ Đoàn tham chiến với một sư đoàn chính quy Cộng Sản Việt Nam tại chiến trường Tây Nguyên. Đến đây tôi xin được mở một dấu ngoặc dài để quí vị suy nghiệm về tâm lý chiến của ta:

Nói đến Binh Chủng Nhảy Dù, ai cũng hình dung ra ngay Binh Chủng với những quân nhân mặc áo hoa đội nón đỏ, có khi còn đệm theo câu cải lương của Hùng Cường:

Hiên ngang ngoài chiến trường.

Thanh lịch trong thành phố.

            Nhưng ít ai hiểu rằng, những năm sau 1968 chúng tôi hành quân trung bình mỗi năm là 360 ngày tại những vùng mà các đơn vị khác đã chạm địch nặng nề. Chúng tôi đến để thanh toán chiến trường tại những vùng oi ả chê bai như Chiến khu D, chiến khu C, Tam giác sắt, mật khu Dương minh Châu, vùng hỏa tuyến, Đồng Tháp - Cà Mau.. Những nơi này, sau lại trở thành những vùng quen thuộc mát mẻ với chúng tôi. Khi thượng cấp cho chúng tôi về Sài Gòn cho dãn gân cốt là chúng tôi mừng vô hạn. Thú tiêu khiển Sài Gòn khác với núi rừng là được nghe nhạc sống như ở Đêm mầu Hồng và nhảy theo điệu nhạc như ở Thanh Thanh v.v. .Vì vậy, cho nên bất cứ một bản nhạc nào mới phát hành trong giai đoạn này, chúng tôi đều được thưởng thức.

            Trong thời kỳ này (tết nguyên đán), bản nhạc “Kỷ Vật Cho Em” chưa được ra đời. Đợi cho thời điểm chín mùi nhất là thời gian chúng tôi đang ở Hạ Lào mới cho phát thanh nhạc phẩm này trên đài Mẹ Việt Nam. Chỉ vào khoảng chúng tôi rời Sài Gòn 10 ngày tức là vào Hạ Lào khoảng 1 tuần lễ, cường độ đụng trận với địch cũng như cường độ pháo kích của địch quân bắt đầu xung mãnh thì sáng tác mới nhất của Phạm Duy với tiếng ca vượt thời gian muôn thuở của Thái Thanh bắt đầu rót vào tai chúng tôi nhẹ nhàng ngọt lịm với nhạc phẩm Kỷ Vật Cho Em. Tiếng ca rót vào hồn chúng tôi với những lời trăn trối tàn nhẫn. Thưa Quí Vị, nếu quí vị hay chúng tôi đã được nghe nhạc phẩm này rồi thì tác động tâm lý cũng nhẹ đi một phần. Nhưng đằng này Đài Phát Thanh của ta, tiếng nói tâm lý chiến của ta lại cho phát thanh lần đầu tiên để chúng tôi được đón nhận nó tại vùng lửa đạn mạnh mẽ nhất, thử hỏi tinh thần anh em quân nhân sẽ sa sút biết chừng nào? Họ cảm nhận tâm lý chiến của ta, đài phát thanh của ta đã trăn trối lời cuối hộ họ.

            Tôi đi một vòng dưới cơn mưa pháo của địch, chỗ nào anh em cũng mở radio nhỏ đủ nghe. Ai cũng buông tiếng nguyền rủa tục tĩu. Đây đó những anh em khác không nguyền rủa thì đang khóc cho những người có tài tâm lý chiến siêu việt này. Tôi vội gọi điện thoại Hotline về BTL/SĐND/HQ xin phản đối về bài ca này, tuy vậy cũng vẫn phải nghe thêm một đêm nữa. Trong giai đoạn này không có cánh quân nào đụng độ cấp Tiểu Đoàn nữa, và cũng không có căn cứ nào bị pháo dưới một ngàn đạn cho một ngày nữa, kèm theo đài phát thanh cho nghe nhạc phản chiến nữa. Quí vị thấy quả là một siêu tâm lý chiến, anh em chúng tôi căm gan mà chịu những cực hình đầy đọa tinh thần. Khi thấy chính những người anh em của mình đang đâm những nhát dao lút cán vào sau lưng, cay đắng quá, tàn nhẫn thật như thế này hay sao? Một trăm, một ngàn lần lời ca tụng cũng vất đi. Tinh thần anh em đang ở mức độ cao 90% nhưng khi nghe xong bản nhạc này, xuống chỉ còn 10% đủ mức độ để tự vệ. Các vị làm nhạc và các vị cho phát thanh vừa lòng chưa? Ngày xưa trong trận chiến Hán Sở tranh hùng bên Trung Hoa, trong lúc khí thế quân của Sở Vương Hạng Vũ còn đang hùng mạnh, Hán Vương Lưu Bang đã dùng tâm lý chiến khai thác điểm chính yếu là quân Sở vì chinh chiến phải xa nhà lâu ngày mà cho soạn bài Bi Ca Tán Sở, dùng loa cho người ca bài này khi xuôi gió hướng về phía quân Sở cũng chỉ có những câu như sau:

Vợ con mong nhớ chừ, cha mẹ đau buồn

Đồng ruộng bỏ hoang chừ, ai người trông nom,

. . . . . . . . . . . . . .

Chậm tỉnh, uổng đời thân chiến binh

Những câu ca nhẹ nhàng như vậy hàng ngày réo rắt làm cho một quân đội đang hùng mạnh phải tiêu tan, rồi Sở Quốc bị tiêu diệt luôn.

            Làm sao có được những câu tân kỳ và sắc bén như:

Anh trở về viên đạn đồng đen

Em sang sông cho làm kỷ vật

. . . . . . . . . . .

Anh trở về trên chiếc băng ca

. . . . . . . . . . .

Anh trở về dang dở đời em

            Vậy mà chúng tôi chẳng tan hàng, còn đầy đủ tinh thần để tiếp tục chiến đấu quả là một chuyện lạ, một phép lạ, mà hồn thiêng sông núi của dân tộc Việt ban cho chúng tôi.

            Cùng thời điểm đó, cánh quân Béta của TĐ1BBND do Thiếu Tá Nguyễn quang Sáng chỉ huy (hiện đang cư ngụ tại Milpitas,California) đã tiêu diệt trọn Bộ Tư Lệnh SĐ306, tịch thu chiến lợi phẩm như: Gậy chỉ huy, máy liên lạc tối tân có thể liên lạc thẳng về Hà Nội và đầy đủ tài liệu chứng minh trọn Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn của chúng bị tiêu diệt. Khi rút quân ra tới Khe Sanh, tôi còn trông thấy những chiến lợi phẩm này trưng bầy tại phòng chiến lợi phẩm của BTL/SĐND hành quân, tuy nhiên, không một giòng báo nào của ta nói tới chiến thắng này, nhưng căn cứ 31 bị thất thủ thì báo nào cũng nói tới (địch quân bị tiêu diệt Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn thì không bị chê bai, cũng như vậy, ta chỉ bị tiêu diệt Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn, cấp thấp hơn Sư Đoàn, thì lại bị lôi ra vùi dập, hỏi làm sao chúng ta không thua cho được). Thôi cũng đành an ủi là báo chí của chúng ta chỉ đăng những tin cơ quan thông tấn ngoại quốc có loan đi mà thôi, đây là điểm rõ ràng nhất tài viết phóng sự chiến trường của phe ta.

KHẢ NĂNG TÌNH BÁO CỦA TA

            Khả năng tình báo của ta lệ thuộc vào Hoa Kỳ điều đó không ai chối cãi. Không ai trách cứ, nhưng ít ra chúng ta cũng phải có khả năng thâu tin hạn hẹp mới đúng, không lẽ nhân viên an ninh tình báo của ta chỉ ngồi chơi đi bắt bạc hay sao? Vùng hành quân của chúng ta vào Hạ Lào chỗ xa nhất cũng là chỉ cách xa ranh giới là 50km, tức là khoảng 30 miles, vậy mà địch quân cho làm địa hình tất cả những điểm quân sự (toán địa hình bắt buộc phải làm ban ngày, từ điểm khởi hành phải làm lộ thiên trên vùng trống trải, chẳng hạn trên trục lộ, hay từ trên các đỉnh núi cao, trống trải, không thể làm băng qua rừng rậm được), tức là những điểm chúng ta có thể đóng quân, hoặc có thể đặt Pháo Binh, địch quân đều đã có tọa độ địa hình (tức là tọa độ của chúng chính xác đến hằng cm hoặc m/m, trong khi chúng ta các đơn vị hành quân chấm tọa độ sai hằng 100 m) nhìn thấy các mốc địa hình mới làm trong tháng, chúng tôi lạnh người và ngao ngán cho tình báo của ta, khi thuyết trình hành quân BTL/HQ đều không nhắc nhở gì về vấn đề này.

            Thiết Giáp của địch, theo như Bộ tư lệnh chiến trường, địch có nhiều chiến xa T54 trong Hạ Lào vắn tắt là thiết giáp của địch mạnh hơn của ta. Đây chính là yếu tố làm cho anh em Thiết Giáp của ta xuống tinh thần không phải là ít, nhưng trên thực tế địch chỉ xử dụng PT76. Loại chiến xa này đại loại còn yếu hơn M41 của ta, có thể trong vùng trận địa địch có đơn vị thiết giáp T54, nhưng chúng ít ỏi như vậy, nói ra làm chi để hù dọa quân ta. Quân số của địch đông gấp bốn lần của ta hoặc hơn nữa, các trung tâm huấn luyện các trại dưỡng quân có quá nhiều, không ai nói tới. Các dàn phóng hỏa tiễn 122ly, 107ly bắn như mưa bay cũng chỉ nói tới thông thường như các chiến trường nội địa, thực tế hàng ngày chúng tôi phải đón nhận hàng 500 trái hỏa tiễn. Những giàn phóng hỏa tiễn này, mỗi giàn từ 5 cho đến 7 nòng, gắn trên xe xích trong chiến trường nội địa không có, và ngay cả chiến trường Campuchia chúng tôi đã tấn công ngay vào trung ương cục Miền Nam cũng chưa có loại hỏa tiễn này gắn trên xe xích với 5 hoặc 7 dàn phóng như vậy.

           

TINH THẦN CHIẾN ĐẤU CỦA ĐỊCH

            Mỗi lần chúng tôi bắt được tù binh, dù bị thương hay không bị thương những tù binh này rất hung hãn. Những lúc ngoài chiến trận, họ đúng là đoàn quân cảm tử, coi nhẹ tính mạng, sự sống chết (của quân Cộng Sản bắc Việt Nam) nhẹ tựa lông gà tre. Nhưng sau đó chúng tôi biết ngay và thật tình đau lòng, xót thương cho tuổi trẻ miền bắc. Những anh chàng thiêu thân này đã chích thuốc “Hùng Anh” trước khi xung trận. Đây là loại thuốc kích thích do xưởng sản xuất của Quân Đội Nhân Dân chế tạo, đại để như các loại thuốc sìke của dân bụi đời Sài Gòn. Khi chích thuốc này rồi thì coi trời bằng vung, tính mạng coi như không, nhưng khi dã thuốc rồi thì họ lại lấm lét sợ sệt như con gái mới biết yêu lần đầu. Loại thuốc Hùng Anh này chúng tôi tịch thu được rất nhiều, một số tiêu hủy tại chỗ, một số gửi về BTL/chiến trường.

            Các đơn vị của ta kể cả những đơn vị phải nhảy ra Bắc Việt Nam, những đơn vị nhảy vùng biên giới, hay những toán Viễn Thám có bao giờ lại hèn kém như vậy. Khi chích thuốc này quả thật có liều lĩnh nhưng không còn sáng suốt, nên các toán đặc công cảm tử của chúng hoàn toàn thất bại khi phải đương đầu với các đơn vị được huấn luyện thuần thục.  

           

KỸ THUẬT TÁC CHIẾN CỦA ĐỊCH

            Nếu kỹ thuật tác chiến của những Sư Đoàn chính quy Bắc Việt Nam ở mức độ trung bình thì chắc chắn tôi không còn ngồi để viết những giòng chữ này hầu quí vị. Chúng chỉ có khả năng và quen những trận đánh thư hùng với quân đội Pháp. Chúng chưa được chuẩn bị kỹ càng để đương đầu với đơn vị có trình độ kỹ thuật tác chiến cao. Bởi vậy, cho nên trên trận địa, nếu là tao ngộ chiến, thì 2 tiểu đoàn chính quy của Cộng Sản bắc Việt Nam gặp 1 tiểu đoàn bộ binh Nhảy Dù Việt Nam thì kể như ngày đó là ngày giỗ của cả hai tiểu đoàn địch. Trận Hạ Lào chúng dùng biển người và biển lửa để tàn sát quân ta nhưng chúng đã thất vọng. Bằng cớ là khi chúng tôi rút ra khỏi Hạ Lào, địch quân không còn lực lượng nào khả dĩ có thể làm tổn thất cho đơn vị rút lui bằng đường bộ. Trong lúc đó đơn vị lui binh, tinh thần cũng xuống mức độ kém, một điểm vô cùng quan trọng là các đài quan sát gần, các toán tiền sát viên Pháo Binh đã bị các đơn vị trinh sát cuả ta làm sạch sẽ trước khi rút lui, lúc đó chúng chỉ còn khả năng tiêu diệt các đơn vị rút lui bằng trực thăng do các đài quan sát của chúng ở xa xác định được vị trí. Nhờ chúng đã làm địa hình, biết trước nên chiến trường đã được chuẩn bị kỹ càng, chúng đã bố trí các vị trí súng Pháo Binh, Phòng Không, Hỏa Tiễn cũng như các điểm địa hình và các đài quan sát từ khi chúng ta còn ở Sài Gòn, cho nên bất cứ điểm bốc quân nào cũng nằm sẵn trên xạ bản tác xạ pháo binh của chúng. Bởi vậy, nếu không đánh lừa được chúng thì khó mà bốc quân ra an toàn. Hơn nữa, đạn dược của chúng cất dấu sẵn, dư thừa để dùng trong suốt trận đánh không cần phải tiếp tế. Vì có thời gian nên các điểm này được ngụy trang chu đáo, ta rất khó phát hiện được chúng. Đó chính là yếu điểm quan trọng của ta.

           

KỸ THUẬT PHÁO BINH CỦA ĐỊCH

            Nếu trình độ kỹ thuật Pháo Binh của chúng ở mức độ dưới trung bình thì cũng đủ làm cho cánh quân sang Hạ Lào vất vả, nói khác đi chỉ cần một Hạ Sĩ Quan Pháo Binh của ta chỉ huy Pháo Binh của địch tại trận Hạ Lào thì tất cả các Bộ Chỉ Huy, các Pháo Đội, các Căn Cứ Hỏa Lực của ta đều bị tiêu diệt 100% mà chỉ cần tiêu thụ đạn dược bàng 1/10 số đạn chúng đã tiêu thụ. Tôi không đề cao khả năng Kỹ Thuật Tác Xạ Pháo Binh của QLVNCH quá đáng vì tại hải ngoại hiện nay binh chủng Pháo Binh rất đông và chắc chắn có anh em Pháo Binh đọc những giòng chữ này, tôi xin đưa một thí dụ: Nếu như một ngọn đồi “mục tiêu” đã được làm địa hình, hay chưa làm cũng chỉ chậm hơn mười phút là cùng, vị trí pháo đội làm địa hình, đài quan sát thấy mục tiêu rất tốt, mục tiêu là một pháo đội địch mới thả xuống, chỉ cần một pháo đội 105ly với 1000 đạn đủ loại thì pháo đội địch bị xóa tên ngay trong vòng một vài giờ là tối đa. Tôi xin dẫn chứng một trường hợp tại Hạ Lào, Pháo Đội A1 Nhảy Dù do Đại Uy Đinh Thành Tấn chỉ huy. Pháo đội vừa được trực thăng vận từ Lao Bảo vào vị trí hành quân, vừa gióng hướng súng xong, bị pháo địch pháo phủ đầu ngay. Không may cho chúng, toán quan sát tại vị trí thấy được một điểm khởi hành vị trí súng của địch, đúng 3 phút sau, PĐA1ND phản pháo trả lời, tiêu thụ khoảng 50 đạn nổ, súng địch im lặng ngay và hai ngày sau, ĐĐ1TSND cho một trung đội tới lục soát, tìm thấy một súng đại bác của địch tiêu hủy 100% và kho đạn nổ văng vãi, cùng những vết máu chan hòa tại chỗ. Ngược lại tất cả vị trí pháo của ta đều đặt lộ thiên, không ngụy trang gì ca, mà có muốn ngụy trang cũng vô ích, địch có thể quan sát thấy rõ ràng từng khẩu đội. Chẳng hạn PĐA1ND là chúng đã có tọa độ địa hình “mục tiêu”. Chắc hẳn tọa độ vị trí cũng được làm địa hình, vậy mà chúng không làm tê liệt PĐA1ND trong suốt thời gian dài gần hai tháng trời tại Hạ Lào. Không những vậy, không có một vị trí pháo của ta bị tê liệt bởi pháo của địch (xin trả lời một số bạn đọc hỏi năm 1991 về hai chữ tê liệt dùng trong bài này: Xin thưa nó có nghĩa là không còn hoạt động được nữa. Trường hợp địch pháo làm cho pháo của ta không hoạt động được trong lúc đang bị pháo, được gọi là bị pháo cầm chân, tôi dùng hai chữ này ý như vậy). Pháo Đội B3 Nhảy Dù tại đồi 31 bị tê liệt là do thiết giáp và bộ binh địch tràn ngập vị trí. PĐC3ND và PĐC44PB, hai pháo đội này vì phải rút bằng đường rừng (đường bộ), cho nên ta tự phá hủy tại chỗ. TĐ1PBND vẫn kéo đủ 18 khẩu đại bác về Sài Gòn. TĐ2PBND,   súng đại bác vẫn trong tình trạng tốt. Khi tôi sang nhận chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng tiểu đoàn này tại Đông Hà, Tiểu đoàn đã sẵn sàng 18 súng đại bác 105 ly M102 trong tình trạng tốt để tham chiến giải tỏa áp lực địch tại căn cứ hỏa lực số 6 thuộc Tân Cảnh, Kontum. Cuộc hành quân này khai diễn ngay sau khi chấm dứt cuộc hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào khoảng không đầy 1 tuần lễ sau.

            Tôi xác quyết rằng, nếu một Hạ sĩ Quan Pháo Binh của ta làm Tiền sát Viên cho địch, một Hạ Sĩ Quan khác chỉ huy Pháo Đội của địch, bất cứ một Pháo Đội nào của ta, mà địch quan sát được thì chỉ cần 1000 đạn đủ loại, tôi chắc chắn Pháo đội của ta sẽ tê liệt sau một giờ (thực tế thì pháo đội nào của ta cũng bị địch quan sát từng vị trí một rất rõ ràng và chi tiết vì vị trí pháo nào của ta đều được đóng trên vùng trống trải, cao ráo không có ngụy trang gì cả). Thực tế, sau hơn 1 tháng trời đạn dược phủ lên đầu mỗi Pháo Đội của ta trên 50000 đạn đại bác đủ loại, cộng thêm các loại hỏa tiễn tối tân hiện đại, vậy mà pháo đội vẫn đứng vững vàng và làm tròn nhiệm vụ yểm trợ chiến thuật tại Hạ Lào rất đắc lực.

           

KỸ THUẬT PHỐI HỢP CỦA ĐỊCH

            Tại Hạ Lào, máy liên lạc hữu tuyến cũng như vô tuyến của địch đều nhiều và tinh xảo hơn của ta (nói chung thì tất cả đồ trang bị của địch đều dồi dào hơn ta), vậy mà Bộ Binh, Thiết Giáp, Pháo Binh của địch không phối hợp được với nhau. Tôi xin dẫn chứng:

            Sau khi căn cứ 31 thất thủ, địch quân dồn mọi nỗ lực vào để dứt điểm căn cứ 30. Lúc đó, chúng tôi đang trên máy bay CNC cùng với Đại Tá Lê Quang Lưỡng (tất cả máy bay vào vùng hành quân bị bắn rơi rất nhiều. Sau một tuần lễ thì ít ai dám bay trên trời Hạ Lào. Chúng tôi bay hàng ngày lại cảm thấy sung sướng hơn khi đang ở dưới căn cứ). Sự thực thì chúng đã khởi công đánh căn cứ này từ lâu rồi, nhưng chính lúc này là lúc địch quân muốn dứt điểm ngay giữa thanh thiên bạch nhật. Chúng dùng 2 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn thiết giáp, hỏa lực pháo binh dồi dào gấp 10 lần chúng tôi hoặc hơn nữa. Chúng tôi vừa vào vùng trời của căn cứ hỏa lực 30 thì cường độ pháo bắt đầu mãnh liệt, phòng không giăng đầy trời. Hai người xạ thủ đại liên, tay lăm le sẵn sàng thả hỏa châu để chống hỏa tiễn phòng không của địch. Pilot chính đầy kinh nghiệm tránh phòng của địch nên máy bay luôn bị chao đảo thật khó chịu. Nếu bay cao tránh phòng không thì quá dễ dàng, nhưng hành động như vậy không khác nằm ngủ trùm chăn. Hậu quả là ta không vô sự mà địch thì chắc chắn vô sự. Vì khổ nỗi chúng tôi cần quan sát tình hình tại trận địa, nên chấp nhận đùa dỡn cho vui. Chúng tôi nhận được vị trí pháo của địch, tôi vội vàng ghi chú ngay để xin oanh tạc. Những vị trí này hoàn toàn ngoài tầm pháo của ta kể cả Pháo 175 ly của Hoa Kỳ đặt tại ranh giới Lào Việt. Lúc này, không quân Hoa kỳ có yểm trợ nhưng không đâu vào đâu cả, nhìn xuống căn cứ 30 bụi bay mù mịt, đám bụi ngà ngà che lấp hẳn căn cứ 30. Pháo của địch ngưng thì 10 phút sau bộ binh địch khởi sự tấn công. Trên máy bay trông xuống như một đàn kiến bu quanh căn cứ. Các pháo đội của ta hoạt động rất hữu hiệu. Tôi im lặng dành cho các TSV và SQ/LL làm việc. Những loạt đạn nổ cao của ta hiệu quả vô cùng. Chỉ sau chừng 10 loạt đạn CVT của mỗi pháo đội thì đàn kiến không còn nữa. Nhưng cứ hết đàn kiến này đến đợt đàn kiến khác, chúng chỉ làm mồi cho đạn pháo và các chiến sĩ phòng thủ căn cứ 30. Sau nhiều đợt xung phong bằng Bộ Binh thất bại, chúng khởi sự tấn công bằng Thiết Giáp. Chúng tôi đếm được 15 chiến xa PT76 tiến vào căn cứ bằng hai ngả đông-bắc và đông-nam. Các ngả khác dốc nên chúng chỉ có thể tấn công bàng bộ binh mà thôi. Tôi phải hướng dẫn hai pháo đội của ta xử dụng đạn no, để chống chiến xa rất hữu hiệu. Pháo đội C44PB 155ly không có đạn chống chiến xa nên phải dùng đạn nổ mạnh để chống chiến xa. Tôi quan sát thấy những viên đạn pháo 155 ly của ta cứ bay lên trời rồi mới nổ, tôi hiểu ngay là pháo đội đã vặn đầu nổ về (delay) nổ chậm, vì thế cho nên khi đạn trúng chiến xa bị chạm nẩy bay lên trời mới nổ không làm hư hại chiến xa địch (lúc đó thiết giáp địch còn ngoài tầm M72 của ta). Vì địa thế chỉ có PĐC44PB 155ly là trực xạ được, còn PĐC3ND 105 ly không trực xạ được, (tôi bay xuống thấp hơn và hướng dẫn Pháo Đội Trưởng C44 trực xạ tiêu diệt chiến xa địch, bằng cách vặn đầu nổ trả lại vị thế (squick) nổ nhanh, nhờ vậy chiến xa địch đều bị tiêu diệt trước khi lại gần. Tại Hạ Lào hay trong bất cứ cuộc hành quân nào, chỉ danh của tôi đều là 11 “Mười Một”, trong cuốn tử thủ đồi 30 tác giả Trương duy Hy có nhắc đến đoạn này). Khi địch quân xử dụng Pháo Binh và bộ binh phối hợp với nhau vào ngày hôm sau thì bộ binh của chúng lại bị thiệt hại bằng chính pháo binh của chúng. Trận này có dịp tôi sẽ nói tường tận sau. Chúng ta thấy, nếu chúng biết phối hợp nhịp nhàng thiết giáp + bộ binh + pháo binh thì căn cứ 30 không thể chống cự đai dẳng hơn tuần lễ. Rồi sau đó, đơn vị đồn trú phải tự ý rút lui khỏi căn cứ khi tiếp tế đạn dược và tản thương vô cùng khó khăn. Nói cho đúng là trực thăng không còn hoạt động tiếp tế hay tản thương được nữa vì pháo và phòng không của địch quá dồi dào.    

            Cũng như ngày tất cả các đơn vị của ta rút ra khỏi Hạ Lào, các đơn vị địch mạnh ai nấy đánh, các đơn vị pháo binh của chúng dùng các hỏa tập không quan sát, pháo vu vơ đôi lúc trở thành yểm trợ cho quân ta trên đường rút quân. Nếu địch quân phối hợp nhịp nhàng thì trong chiến trận cũng như lúc rút quân ra khỏi Hạ Lào tai hại cho ta không thể lường được.

           

KẾT LUẬN

Chúng ta vào Hạ Lào vì nhiệm vụ phá hủy kho tàng, tiềm năng tiếp vận của địch. Chúng ta ra khỏi Hạ Lào vì nhiệm vụ vủa chúng ta đã hoàn tất. Ngày rút quân ra khỏi Hạ Lào, hai đài VOA và BBC đã thông báo trước cho địch quân. Khỏi cần hai đài phản bội loan tin thì địch quân cũng phải biết như vậy. Chúng đã lấy được toàn bộ lệnh hành quân của ta. Khi trực thăng của vị sĩ quan Tham mưu BTL/Hành Quân bị bắn rơi khi cuộc hành quân vừa bắt đầu, không lẽ chúng ta còn ở lại khi nhiệm vụ của chúng ta đã hoàn tất?

            Hành quân tấn công địch tương đối dễ hơn, hành quân rút lui, trong lúc khó khăn đó mà thành công được là điều chắc chắn tinh thần kỷ luật phải cao. Các Sĩ Quan chỉ huy trực tiếp phải tinh khôn và gan dạ. Hơn nữa, địch quân phải hoàn toàn mất tinh thần, hoặc địch quân phải tổn thất quá nặng nề, nếu không đoàn quân rút lui sẽ bị tiêu diệt hoặc ít ra tinh thần cũng sa sút trầm trọng, muốn tham chiến lại được cũng phải một thời gian sau khi đã được tái huấn luyện kỹ càng.

            Xin các Đấng Linh Thiêng của dân tộc Việt, xin Hồn Thiêng sông núi, xin linh hồn của các chiến sĩ vô danh, xin vong hồn của bạn bè, xin Trời Phật, xin Ơn Trên hãy phù hộ cho đàn con yêu của đất nước được vững mạnh tinh thần, xin các vị chuyên viết phóng sự chiến trường bằng tài liệu hãy nương tay, để ngày rất gần Hoa Dù lại nở trên quê hương ta.

CVA Mũ Đỏ BùiĐứcLạc

Hoàn chỉnh lại ngày 19 tháng 6 năm 2003 để gởi đăng vào Đặc San Chu Văn An 2004.                                                                                                                                                                    

* * *

VỊNH CHU VĂN AN

Một sớ dâng lên đòi chém bảy nịnh thần

Chu Văn An rền vang thiên cổ

Lời chính khí vượt bốn ngàn năm lịch sử

Nội, ngoại, chắt, chiu đoàn tụ dưới chân thầy

Đỗ Bưởi, CVA 1960


TRƯNG BƯỞI:

KỶ NIM XA XƯA

            CVA Trương đăng Đệ

   Thế là tôi đã thi đậu vào trường Bưởi: Đó là vào năm 1939, khi tôi 13 tuổi. Đành rằng sự đào tạo một người kéo dài suốt từ lúc bắt đầu đi học cho đến khi rời ghế nhà trường, nhưng đối với tôi có lẽ trường Bưởi đã có ảnh hưởng sâu đậm nhất, giúp cho tôi có một số vốn kiến thức phổ thông gọi là khá vững vàng. Nhờ đó sau này, sau khi bỏ học 9 năm vì tham gia kháng chiến chống Pháp, tôi đã có thể vừa làm (ở Nha Trang) vừa học hoàn tất bậc đại học không khó khăn lắm mà chẳng có mặt ở trường bữa nào, chỉ nhờ người mua cours ở Saigon gửi ra và những sách tôi mượn ở các Thư viện. Có nhiều người tự hào đã là học sinh trường Bưởi, kể cũng đúng, như tôi còn nhớ hôm đầu tiên họp thành lập Hội Cựu Học Sinh Bưởi - Chu văn An ở Montreal, có bạn đã lên tiếng nhất định phải thêm chữ Bưởi chứ không chịu chỉ dùng tên Chu văn An.

Năm tôi thi vào, nếu tôi nhớ không sai thì đề thi luận Việt văn là bình luận câu " Giấy rách phải giữ lấy lề ". Lúc đầu, tôi hơi sợ vì chẳng biết lề là gì. May sau nhớ lúc nhỏ, ông nội tôi có dạy tôi một ít chữ nho, khi đóng những cuốn vở tập viết bằng giấy bản phải dùng giấy xe lại làm lề giữ các tờ giấy lại với nhau, tôi mới giải nghĩa được rồi tán rộng thêm mà làm bài. Tôi nghĩ bài có lẽ khá, cộng thêm những môn khác làm cũng được và oral cũng trôi chảy nên tôi đậu khá cao, thứ 13 trên 160 học sinh được tuyển. Tôi chỉ học 4 năm ở trường Bưởi: tôi thi vào seconde hỏng, phần vì thời cuộc từ năm 43 bắt đầu lộn xộn, phần lớn vì lười, không có ai kiểm soát (ông thân tôi đổi đi làm ở tỉnh khác) nên rút kinh nghiệm sau này, đối với con dù lớn tôi vẫn phải đốc thúc sự học hành của cháu. Trong 4 năm đó, biết bao kỷ niệm, tôi bắt đầu bằng khi đi tới trường.

Nhà tôi ở đường trước nhà Rượu, tên lúc đó là Sergent Larrivé, sau đổi là Yersin, cách nhà cụ Trần trọng Kim và cụ Bùi Kỷ lối 100m. Tôi hằng ước ao có xe đạp để đi học, song ông thân tôi sợ nguy hiểm - tuy lúc đó Hà nội chỉ có khoảng 300000 người, xe cộ lưa thưa - nên tôi phải đi bằng tàu điện. Ông cứ tưởng rằng đi tàu điện thì an toàn, nhưng có biét đâu có khi còn nguy hiển hơn là bằng xe đạp. Ở đầu đường nhà tôi ra gặp phố Huế là một chỗ tàu điện ngưng, nhưng chỉ là một arrêt facultatif, thành thử gần tới ngã tư mà nghe tiếng leng keng từ xa là tôi phải chạy tới cho kịp để tàu thấy mà dừng lại. Nhưng nhiều khi không kịp thì phải chạy theo bám vào thanh cửa tàu để nhảy lên, rồi khi về lại phải nhảy xuống. Được cái thường thường tới gần ngã tư đó thì tàu chạy chậm lại và nhảy riết rồi cũng quen. Tuy nhiên, lắm lúc hơi quá ngã tư một chút, tàu tăng tốc độ, mình vẫn cố chạy theo, khi nhảy lên tàu rồi mà hú vía, đến nay còn lành lặn là có phúc lắm, chứ biết bao tai nạn đã xảy ra cho người khác.

Tàu điện chạy từ phố Huế qua chợ Hôm, rạp chiếu bóng Majestic, đằng trước là trại lính khố xanh, nhà Gô đa, dọc theo hồ Gươm thỉnh thoảng thấy rùa to gần bằng cái nong lên phơi mình ở Tháp Rùa, rồi qua Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường, chợ Đồng Xuân. Trước chợ có hiệu thuốc lào Đông Mỹ nổi tiếng không phải vì thuốc lào ngon, vì chúng tôi có ai biết hút đâu, mà vì có cô bán hàng xinh đẹp. Sau này nghe nói hiệu tản cư và cô lấy một bác sĩ thì phải; rồi tàu qua Hàng Than, vòng qua nhà Máy nước đến đường Quan Thánh, thẳng tới Hồ Tây rồi đến trường Bưởi với tấm bảng lớn " Lycée du Protectorat " trên cửa chính, cái tên gợi trong đầu óc tuy còn non dại của tôi một cảm tưởng bất bình và nhục nhã, cũng giống như bức tượng Paul Bert trông ra Hố Gươm vậy. Tàu đậu trước một chỗ đợi có mái nhỏ che mưa nắng, các bạn đi xe đạp đứng đằy trước cổng phụ. Khi cổng mở, chúng tôi đi vào, ai đi xe đạp thì dắt tới hangar để xe, treo lên những móc, một đặc điểm của trường Bưởi mà tôi không thấy ở một nơi nào khác.

Trước khi vào học nếu giờ còn sớm và trong giờ ra chơi, một số chúng tôi thường đá cầu, quả cầu làm bằng hai đồng chinh, một đồng bọc vào một mảnh giấy, nếu là giấy kính thì tốt nhất, và mảnh giấy này được túm lại xuyên vào lỗ của đồng thứ hai kẹp xuống ; hai đồng chinh là vừa chứ một đồng thì quá nhẹ và một đồng xu lại quá nặng. Đá cầu chơi tựa như bóng chuyền: một sợi dây được căng giữa hai cây, ngang tầm mắt, hai bên, mỗi bên từ 4 đến 6 người tùy số người tham gia, có thể đưa cầu qua 2 hay 3 người theo quy định trước rồi đá sang bên kia. Đá cầu phải dùng giày bata mới sướng vì đỡ bị kẹt quai như dùng sandales. Có những bạn đá cầu thi, hoặc một chân, hoặc hai chân, ai đá được nhiều lần thì thắng. Lúc đó tôi có thể đá cả trăm lần một lúc. Chơi mệt khát nước thì luôn luôn có một thùng nước trà nóng đặt trong một kiosque nhỏ gần đó.Một hồi trống đánh báo giờ học bắt đầu. Lớp nào lớp nấy xếp hàng rồi theo lệnh giám thị đi vào phòng học. Mỗi lớp có 40 trò, có khi thêm một hay hai người. Hai người ngồi một bàn nhỏ, lớp học rộng rãi, thoáng và yên tĩnh, kỷ luật nghiêm minh. Các thày đều được lựa chọn, đó là những nhân tố giúp việc học hành của chúng tôi nói chung đều được kết quả tốt.

Nói đến các thày, tôi chỉ kể lại một số thày có những đặc điểm nổi bật , từ lớp nhỏ lên. Trước hết là thày Thẩm Quỳnh dạy Hán văn, môn này chỉ có ở hai lớp đầu. Cụ Quỳnh luôn luôn khăn đóng, áo dài chỉnh tề. Có lẽ cụ cũng biết môn Hán văn là môn săp hết thời nên cụ dễ dãi với tụi tôi lắm, đó là môn học duy nhất mà tôi quay phim, hay nói đúng hơn là khi làm bài tập hay bài thi thì ai nấy đều để vở dưới hộc nhìn mà làm bài, cụ biết nhưng làm lơ. Nếu cụ cũng khó như các thày khác, có lẽ bây giờ tôi đã có một số vốn chữ Hán. Câu cụ thường nói tôi còn nhớ là " Lão ô bách tuế bất như phượng hoàng sơ sinh ", và " Hậu sinh khả úy". Sau này, có lần vào Saigon chấm thi Tú tài ở trường Gia Long, nghe cụ hiện đang ở một phòng trong trường, tôi tới thăm. Tôi chào cụ, tự giới thiệu trước là học sinh của cụ, cụ hỏi " Ngài bây giờ làm gì? " làm tôi hơi sửng và ngượng. Có thể do tác phong nhà nho hoặc như cụ nói là hậu sinh khả úy, cụ nghĩ là học trò cụ đều làm lớn nên ai cụ cũng gọi bằng ngài cả. Kế đến là thày Sáu " lọ ". Chính thày là giám khảo hỏi tôi oral về môn toán khi thi vào trường Bưởi. Khi dạy chúng tôi ở hai lớp đầu, thày lại dạy về Ecriture và Comptabilité, bây giờ ở đây gọi là Tenue des livres. Tôi không hiểu tại sao học trò lại thêm tĩnh từ 'lọ"vào tên thày, tĩnh từ này có ý nghĩa xấu. Khi dạy thày hút thuốc liên miên, có vẻ bất cần đời. Nhờ thày mà tôi biết viết thêm chữ ronde và gothique không dạy ở tiểu học. Rồi đến thày Phúc dạy Pháp văn mà học trò gọi là Phúc "sa đì ", vì thày mặc quần tây hơi chật nên " bìu ' xệ xuống một đống lồ lộ lệch sang một bên khi ngồi, học trò ở dưới thấy rõ lắm. May mà thày không dạy ở trường nữ. Cũng như các thày khác dạy môn Pháp văn, chúng tôi phải soạn bài lecture thật kỹ: trước hết là phần vocabulaire, tất cả những chữ nào mình cho là khó phải tra tự điển định nghĩa để có thể trả lời khi thày hỏi, sau đó là idée générale, rồi plan, cuối cùng là trả lời một số câu hỏi về văn phạm và ý nghĩa in trong sách.

Thày Nguyễn gia Tường dạy Vạn vật thì thật là đặc biệt. Khi thày vào lớp, học trò đứng dậy chào, thày luôn luôn nói "Assoyez-vous" chứ không "Asseyez-vous" như những thày khác. Thày đặc biệt ở chỗ thày giảng bài thật khúc triết, rõ ràng: Giảng đến đâu, thày vẽ và viết trên bảng đến đó, thường theo thứ tự I La mã, A lớn, 1 thường, a nhỏ. Khi thày giảng xong, chúng tôi dã có một dàn bài tỉ mỉ, đầy đủ, kèm hình vẽ rõ ràng (thày vẽ rất đẹp): nào các bộ phận của hoa hay hạt bắp, nào các loại lá hay rễ cây...giúp chúng tôi dễ học và dễ nhớ.Thày Nguyễn văn Chính thì trái hẳn: Thày dạy chúng tôi theo kiểu cho sinh viên đại học về môn địa lý cho cả 4 năm. Khi đến bài mới, thày bảo chúng tôi về soạn bài gì đó, trang mấy. Chúng tôi phải soạn dàn bài rất tỉ mỉ với bản đồ đầy đủ vì thày kiểm soát bài soạn rất kỹ và truy bài thì không thày nào sánh nổi nên chúng tôi gọi thày là Ông Ba mươi. Thày bỏ hầu như gần hết cả giờ để kiểm soát bài soạn và nhất là hỏi bài, và chúng tôi phục thày có trí nhớ đặc biệt vì không có chi tiết nào mà thày quên, không những về địa lý Việt nam hay của Pháp mà của cả thế giới, từ Nhật bản, Trung hoa đến Canada, Brésil, từ Na uy, Đan mạch đến Ấn độ, Congo...Theo tôi, lối của thày Chính rất hay, bài địa lý thường rất dài, nhưng nếu tự mình làm xong dàn bài chi tiết thì hầu như đã thuộc được nửa bài rồi. Đó cũng là phương pháp mà tôi đã áp dụng khi tôi tự học chương trình đại học sau này.

Ngoài các thày vừa kể trên, còn nhiều thày khác như thày Bảng, giáo sư chính của lớp tôi năm đệ tứ, người cao ráo, ăn mặc âu phục có gout lắm, thày Khang mà học trò gọi là "ba" Khang dạy tôi sử năm đệ tứ, được học trò mến vì tính dễ dãi , một năm nhân dịp trường tổ chức hội thường niên có chở đến cho mỗi chúng tôi một gói xôi Saigon (lần đầu tiên tôi được ăn xôi này), thày Đào Hùng dạy toán, về sau tôi thấy có tên trong nhóm soạn Tự điển Bách khoa Việt nam ở ngoài Bắc, thày Vũ lai Chương dạy lý hóa trong cái amphithéâtre đặc biệt của trường, thày Tô ngọc Vân rồi cô Lê thị Lựu dạy vẽ mà mỗi lần đến giờ phải mang theo cái carton to lớn kềnh càng. Thật là thiếu sót nếu không nhắc đến các môn thủ công do thày Khánh tốt nghiệp trường Kỹ nghệ thực hành phụ trách dạy cách cưa, đục, dũa gỗ và sắt trong cái atelier phía sau, giờ Jardinage do thày Vouillon dạy cách đào đất, làm luống, ủ rơm làm phân bón..., và giờ âm nhạc do một thày người Pháp tôi không nhớ tên dạy lý thuyết về âm nhạc. Các môn sau này tôi nghĩ chỉ ở trường Bưởi mới có, và một phần cũng nhờ các môn đó mà bây giờ ngoài cái thú đọc sách và thỉnh thoảng viết lách đôi chút để bắt trí óc làm việc, tôi còn thích làm vườn, sửa chữa các đồ lặt vặt trong nhà, chơi nhạc, rất có ích trong lúc tuổi già vì chẳng bao giờ thấy thất nghiệp cả.

Tôi tiếc không được học với thày Nguyễn Mạnh Tường vì lúc đó thày dạy những lớp trên, nhưng tôi biết tiếng thày và kỷ niệm duy nhất là tôi nhớ một lần nhìn vào xe ô tô của thày (thày là giáo sư độc nhất lái xe đi dạy) thấy cái bảng đồng trong xe ghi " Nguyễn mạnh Tường, Docteur en Lettres, Docteur en Droit" mà tôi phục quá, nhất là thày còn rất trẻ. Sau này tôi còn phục hơn nữa khi được nghe kể là, có lần thày dạy thì có một viên thanh tra người Pháp tới lớp, thày hỏi " Ông tới thanh tra hay tới nghe?". Viên thanh tra nói là tới thanh tra, thày liền bỏ dạy vì viên thanh tra này chỉ có bằng cử nhân, và thầy xin thôi dạy, ra làm nghề luật sư. Không rõ chuyện có đúng không, để các bạn nào biết rõ xin thuật lại cho đúng. Thật là đáng tiếc một người tài giỏi, đầy lòng yêu nước như thày mà về sau bị cộng sản đày đọa sống trong nghèo khổ, bệnh hoạn trong cuối cuộc đời chỉ vì thày đã viết một bài nổi danh để vạch những sai trái của chúng trong cải cách ruộng đất.

Tôi tưởng cũng cần phải nhắc đến một kỷ niệm khác: đó là sân vận động của trường, sân mà tôi thường ở lại tập sau mỗi giờ học buổi chiều, ngoài một giờ tập thể dục mỗi tuần vào buổi sáng sớm do một viên đội người Pháp tới huấn kuyện. Ở sân trường đi ra sân vận động, bên phải dọc theo đường tàu điện là một cái barre fixe, lúc đó tôi có thể kéo người lên tới cằm cả 50 cái, rồi một cái portique có treo anneaux, dây thừng để tập leo, rồi đến barres parallèles, tiếp theo là chỗ tập nhảy cao, nhảy dài, không hiểu bây giờ có còn như xưa không. Phía bên kia là hồ Tây thỉnh thoảng có chiếc thủy phi cơ của Pháp tới đậu. Cũng tại sân vận động này mỗi năm chúng tôi tập mouvements d'ensemble trong nhiều ngày để chuẩn bị cho ngày hội của trường. Nhớ tới ngày hội, tôi liên tưởng tới bài bài hát của trường mà tôi chỉ còn nhớ vài câu như:

Nous, les jeunes, les grands, les forts,

Nous allons, joyeux par le monde

Épris d'azur, de soleil d'or,

Entrez, entrez dans notre ronde...

................................................

Au bord de ton Grand Lac, LyPro.

Tu as formé notre jeunesse, Ly Pro...

Vive Ly Pro!

Bây giờ nói về các bạn, ở Montreal tôi chỉ có hai người đồng khóa: đó là các anh Đặng ngọc Ái và Phạm tất Tiến, vì lứa tuổi chúng tôi vào các năm 45, 46 là lứa tuổi 19, 20 nên phần lớn đã tham gia kháng chiến chống Pháp chỉ vì yêu nước, muốn nước nhà được độc lập. Sau 1954, vì lý do này hay lý do khác, hầu hết đều ở lại ngoài Bắc. Phần tôi, tôi nghĩ đất nước đã độc lập rồi, mình đã làm tròn nhiệm vụ một người công dân đối với tổ quốc, và vì không đồng ý với nhiều chính sách của cộng sản nên tôi đã đi vào Nam để tránh một chế độ độc tài, tàn ác, dối trá, và để được sống tự do cùng mở rộng tầm con mắt của mình hơn. Trong các bạn thân cùng lớp, tôi còn nhớ anh Nguyễn gia Phúc rất giỏi toán, anh sau làm bác sĩ và tôi có gặp anh một lần tại phòng mạch của anh ở Bến Chương Dương, Saigon, chắc anh còn ở lại Việt nam; anh Bùi Hồng, dược sĩ có nhà thuốc lớn ở Khánh hội, nay anh ở Pháp; anh Từ bộ Lãng, nghe nói đã làm lớn (tỉnh trưởng gì đó?) trong chính phủ miền Nam (1). Về phía bên kia thì có anh Hà vinh Thăng, con ông tuần phủ Ninh Bình, anh đã nhập ngũ vào trường Võ bị Trần quốc Tuấn khóa 1 ở Sơn tây năm 46 (trường này có 1 học viên mà nhiều người ở Miền Nam biết tiếng: anh Phạm ngọc Thảo, nguyên đại tá Tỉnh trưởng Bến tre và cũng là gián điệp CS ). Nhóm nhập hội Chuối ở trường Bưởi như các anh Phùng văn Phúc, Cầu, Tiết. Anh Phúc thân nhất, có ý thăm dò. Nếu như lúc đó anh rủ tôi vào hội, có lẽ tôi cũng đã gia nhập. Anh Cầu thì có lần tôi đã tới nhà anh, tôi còn nhớ ở số 13, phố Hàng Bè , gần phố Cầu Gỗ. Sau tôi nghi Hội Chuối do thày Ngụy như Kontum đứng đầu thì phải, là một tổ chức của Cộng sản, và các anh trong hội chắc sau này có chức vụ cao trong chính quyền cộng sản vì riêng anh Cầu, tôi biết anh vào năm 1946 đã là trung đoàn phó trong Tiểu khu (?) Sơn Tây đóng ở Tong. Tôi biết điều này vì năm ấy tôi đang theo học lớp Võ bị Trần quốc Tuấn khóa 1 ở Sơn Tây cùng với anh Hà vinh Thăng, một hôm tiểu đội tôi trực, nhà trường cử tôi tới Tiểu khu mượn một súng mortier 60 về để dạy. Người tiếp tôi ở tiểu khu chính là anh Cầu. Tôi không ngờ lúc đó anh đã làm lớn vậy. Sau nghe nói trong những năm 60, anh đã lên tướng dưới tên là Lê Quân và đã bị tử thương ở miền Trung (2).

         Vì khóa chúng tôi ở đây ít quá nên tôi có nhờ anh Đỗ phan Hạnh, chủ tịch Hội Bưởi-Chu văn An ở Montreal, liên lạc với các hội bạn ở Mỹ, Pháp...và ở trong nước để biết tin của các bạn khác, nhưng nghe chừng khó quá, nhất là đối với trong nước, chắc phải đợi nước nhà có tự do, dân chủ về mới may có thể liên lạc và có cơ hội gặp lại. Tôi không chủ trương về lúc này tuy rất nhớ trường, nhớ bạn, nhớ những nơi đã ở, đã đi qua, biết bao nhiêu kỷ niệm, vì tôi không thể làm đơn xin phép một ngụy quyền mà tôi không thừa nhận.

           Tôi viết bài này ghi lại những kỷ niệm xa xôi của tuổi niên thiếu để tri ân các thày cũ đã có công đào tạo nên tôi, giúp tôi có một số vốn kiến thức và kinh nghiệm hầu tiếp tục cái nghề cao qúy của các thày, đào tạo các lớp hậu sinh; và cũng để nhớ lại các bạn cũ đã từng một thời cùng tôi mài đũng quần trên ghế một nhà trường thân yêu có tên là trường Bưởi.

Bổ túc tháng 6/ 2003.

CVA Trương đăng Đệ.

Phụ chú:

(1) Anh Từ Uyên, bác sĩ ở Montreal lần đầu gặp gọi tôi là đại ca; thấy tôi hơi sửng, anh giải thích ngay là vì anh cũng học ở trường Bưởi nhưng sau tôi một, hai năm. Anh có họ với anh Từ bộ Lãng và cho tôi biết anh Lãng chỉ là một viên chức trung cấp chứ không phải là tỉnh trưởng.

(2) Sau này, cuốn " Kỷ niệm 100 năm thành lập trường Bưởi " in ở Hànội cho biết các anh Phùng văn Phúc, Tiết và Cầu đều đã hy sinh. Nếu tôi gia nhập hội Chuối thời đó thì chưa chắc có dịp viết bài này. Riêng anh Cầu, trung đoàn trưởng Trung đoàn 42 thì đã tử trận ở Liên khu 3. Trung đoàn này được anh Trần Thư đề cập tới trong cuốn " Tử tù tự xử lí ". Anh Thư là một chính trị viên tiểu đoàn của trung đoàn, và trong sách anh cho biết anh cũng là cựu học sinh trường Bưởi.

* * *


Dạ ẩm

Phạm Hữu Thuật

Rót đi anh uống cùng em

Rượu vào càng bốc hơi men càng tình

Rót đi, ta cạn chén quỳnh

Bỗng dưng anh thấy em xinh hơn người

Rót đi, rót nữa đi thôi

Để anh quên lãng cái đời gió sương

Rót đi thêm chút tình thương

Đời anh đã hết can trường vì em

Rót đi, rót nữa anh xem

Rượu bầu còn đó, nỗi niềm còn đây

Rót cho, anh uống thật say

Lững lờ rượu chảy, tháng ngày trôi theo

Rót cho thêm chút tình yêu

Cuộc vui đầy sáng, hết chiều qua đêm

Rót cho anh uống say mềm

Để anh quên hết đảo điên trên đời

Rót đi, rót mãi cho vui

Nhìn tay em rót, cảm người tri âm

* * *


TƯỞNG NIM

ĐNG CHÍ HIẾU

                                   

                        CVA Vũ Đức Nghiêm                                                                                                                     

            Tháng 10-1951, lệnh động viên của Chính phủ Quốc Gia Việt nam do Quốc Trưởng Bảo Đại ban hành bắt đầu có hiệu lực. Hầu hết các bạn cùng lớp Đệ Nhất C (sau này được đổi tên là lớp 12C) trường Chu văn An, chúng tôi lên đường nhập ngũ. Đến trường Sĩ quan Trừ bị, tạm thời xử dụng cơ sở Trường Võ bị Địa phương Nam định tại trại Carreau gần nhà Máy Dệt Nam định. Chúng tôi được phân phối về các Đại đội và Trung đội, sau đó là chương trình huấn luyện trong 8 tháng. Tháng 6-1952, tôi ra trường với cấp bậc Thiếu úy Trừ bị, thuyên chuyển về Tiểu đoàn 26, Đại đội 4, đóng đồn tại Trung Lăng thuộc quận Tiên Lãng, cách Bến đò Khuể, Kiến an chùng 2km đường chim bay.

            Cuộc đời lính chiến của tôi bắt đầu khi tôi trình diện Đại đội trưởng Đại đội 4. Chiếc xe Dodge 4 ngừng ở cổng đồn, tôi cùng Sĩ quan Tế Mục Vụ (phụ trách phát lương), đến Văn Phòng Đại đội 4. Một sĩ quan cao hơi gầy mang cấp bậc Thiếu úy bước ra, dáng dấp chững chạc với đôi mắt sáng ngời. Tôi đứng nghiêm, gõ gót giầy đánh cốp và giơ tay chào, rất trang trọng, tự giới thiệu: ‘’Sous-Lieutenant Vũ Đức Nghiêm, à vos ordres, mon Lieutenant.!’’(tiếng Việt là: Thiếu úy Vũ Đức Nghiêm, chờ lệnh Đại đội Trưởng. Thời đó các Sĩ quan Việt nam khi gặp nhau thường chào nhau bằng tiếng Pháp). Vị sĩ quan Đại đội Trửơng chào lại, bắt tay tôi, và nói: ỀSous -Lieutenant Hoàng Ngọc Tiêu!’’ Rồi anh mỉm cười, nói dỡn: ỀThiếu úy mới ra trường có khác!’’ Tôi được xếp đặt ở chung phòng với Thiếu úy Tiêu và chúng tôi thân nhau rất nhanh. Anh xuất thân khoá 4 Trường sĩ quan Đà Lạt tháng 12-1951, và đã phục vụ ở Tiểu đoàn 26 từ khi ra trường. Công việc hằng ngày của Đại Đội tương đối nhàn nhã. Việc cắt cử Trung đội trực nhật lo canh gác và tuần tiễu đã có Thượng sĩ Thường vụ Đại đội trách nhiệm. Ông Thượng sĩ già này báo cáo trực tiếp lên Đại đội Trưởng. Tôi được đề cử làm Trung đội trưỏng Trung đội 1. Tiếng là Trung đội trưởng nhưng tôi rất ít khi ra khỏi đồn, hầu như suốt ngày chỉ học đánh tổ tôm hoặc đánh cờ giải trí. Do đó, tôi đã trở nên lười biếng và nhút nhát và không học hỏi được một chút kinh nghiệm chiến trường nào cả. Sau này nghĩ lại, tôi mới thấy rằng mình là một người vô dụng, phần lớn cũng là do anh Tiêu quá cưng chiều tôi không muốn tôi vất vả đi hành quân.

           Ít tháng sau, anh Tiêu được thăng cấp Trung úy và được đề cử làm Tiểu đoàn phó TĐ 26. Trung úy Nguyễn đình Trương về thay anh Tiêu, tính tình rất hoà nhã nhưng cứng rắn hơn. Cùng thời gian ấy, Trung sĩ nhất Đặng Chí Hiếu được bổ nhiệm về làm Trung đội phó của tôi. Tôi được biết Trung sĩ nhất Hiếu xuất thân từ hàng binh sĩ, tức là anh nhập ngũ với cấp bậc binh nhì. Qua nhiều năm tác chiến, anh đã lên cấp Trung sĩ nhất. Anh Hiếu lớn hơn tôi chừng một hai tuổi, người nhỏ nhắn, dáng dấp như một thư sinh, nhưng rất có uy đối với binh sĩ dưới quyền.

            Một ngày cuối tháng đến kỳ phát lương, Đại đội được lệnh hành quân ra Bến đò Khuể, cách đồn Trung Lăng chừng 2 km chim bay đón Sĩ quan Tế Mục vụ đến phát lương. Trung đội 2 trực hành quân được lệnh mở đường đi theo trục lộ chính đến Bến đò Khuể. Trung đội 1 do tôi chỉ huy có nhiệm vụ tiến quân chiếm các điểm cao bên phải con lộ yểm trợ cho Trung đội 1 vì phía bên phải con đường có một ít thôn xóm xa xa, nơi Việt Minh có thể ẩn nấp bắn về phía quân bạn.

            Trung đội 1 cử toán tiền sát với một tổ súng máy tiến chiếm các gò cao. Trung sĩ nhất Hiếu đi đầu, hiên ngang tiến về phiá trước quan sát kỹ rồi thổi một tiếng còi ngắn phất tay ra hiệu cho khinh binh tiến chiếm gò cao, rồi một tiếng còi tiếp theo, anh phất tay ra lệnh cho tổ súng máy rời vị trí tiến chiếm một gò cao khác trước mặt. Có tiếng súng địch nổ ròn về phía quân ta, những viên đạn cầy lên trước mặt chừng 20 mét. Như một phản xạ tự nhiên, tôi phóng mình ẩn núp sau một ngôi mộ xây. Nhưng khi nhìn lại Trung sĩ nhất Hiếu, thấy anh vẫn thản nhiên đứng ở gò cao, giơ tay chỉ về hướng địch ra lệnh cho tổ hỏa lực: ‘’Súng máy biểu xích 800 mét, mục tiêu: luỹ tre trước mặt. Bắn!’’. Từng tràng đạn trung liên BAR nổ ròn rã, làm súng địch câm họng. Anh Hiếu cho lệnh thôi bắn,và tiếp tục cho lệnh khinh binh tiến về phía trước. Tôi thầm phục anh Hiếu và cảm thấy xấu hổ vô cùng vì đã không có được cái dũng khí và thản nhiên như anh trước họng súng thù. Buổi chiều khi rút quân về đồn, tôi nói chuyện với anh vói một niềm cảm mến và thầm phục anh đã nêu gương sáng cho tôi. Anh thản nhiên trả lời:’’ Thiếu úy không nên nghĩ thế, tại vì Thiếu úy chưa quen đó thôi. Đụng trận đôi ba lần, rồi đâu cũng vào đấy cả. Vả lại đạn nó tránh mình. Sống chết có số cả...’’  

            Ngày tháng qua dần, dường như không có gì quan trọng xẩy ra, trừ một vài lần địch quân lợi dụng trời tối, đã dùng loa tuyên truyền kêu gọi anh em trong đồn hãy quay về với Tổ quốc! Để đáp lại, binh sĩ ở các lô cốt được lệnh nổ súng về phiá địch, tiếng loa im bặt rồi lại di chuyển chỗ khác để phát thanh tiếp tục. Trong đồn không ai phản ứng, chúng kêu gọi chán rồi thôi.

            Một ngày tháng 5-1953, Trung úy Đại đội Trưởng (Thiếu úy Nguyễn đình Trương đã thăng cấp Trung uý) cho lệnh đại đội hành quân ra phía đầu làng gần đồn chừng 2 km để hợp cùng dân làng, khai quang những gò cao với những bụi cây um tùm mà địch có thể xử dụng để phục kích quân ta. Hành quân từ sớm, chiếm xong mục tiêu, các trung đội bố trí hướng về chung quanh. Tình hình yên tĩnh cho đến buổi trưa. Sau khi giao nhiệm vụ cho Trung sĩ Hiếu, Trung úy Trương và tôi đi kiểm soát lại các vị trí, dặn anh em canh gác cẩn thận, rồi đi bộ về đồn. Va về tới đồn thì tiếng súng nổ ran.Tôi chạy bay ra hầm truyền tin, đâm sầm vào anh Trương đang chạy ra tổ súng cối. Sức đụng mạnh làm tôi tối tăm mặt mũi, còn anh Trương văng mất kính. Trong máy truyền tin, tiếng Trung sĩ I Hiếu gọi cấp cứu:’’ Alô, Non Nước, đây Hồng Hà. Tôi bị địch tràn ngập. Xin tiếp viện gấp!’’. Trong lúc đó Trung úy Trương ra lệnh cho súng cối 81 ly nã đạn tới tấp về phía đầu làng, nơi có những bóng đen đang rút chạy. Tôi tập hợp Trung đội ứng chiến, kéo quân thật nhanh đến đàu làng, tập hợp anh em binh sĩ và khiêng trung sĩ Hiếu về đồn. Anh Hiếu bị thương nặng, mất nhiều máu vì bị trúng nhiều viên đạn ở bụng. Anh tắt thở khi về tới đồn không một lời trăn trối.

            Sau khi báo cáo lên Tiểu Đoàn, Đại đội cho đào huyệt ở ngay trong đồn và lễ an táng được cử hành ngay buổi chiều hôm đó. Tôi đứng lặng bên mộ anh Hiếu và khóc sướt mướt; tôi khóc thương anh, người chiến sĩ đồng đội quả cảm đã sớm từ biệt cuộc sống ở lớp tuổi ngoài 20. Anh còn quá trẻ và chưa lập gia đình. Trời đã gần tối mà tôi vẫn còn đứng bên mộ anh, nước mắt tuôn rơi lã chã; một chú lính trẻ đến nói nhẹ nhàng với tôi: ỀTối rồi, mời Thiếu úy về nghỉ. Đằng nào Trung sĩ cũng đã chết rồi!’’ Tôi cảm thấy rất ân hận và luôn bị ám ảnh với ý nghĩ là anh đã chết thế mạng tôi vì nếu tôi không bỏ trung đội ra về với anh Trương, có lẽ tôi cũng đã bị chết rồi!

           Chừng nửa tháng sau, bà cụ thân sinh ra anh dược tin dữ, đến đồn thăm mộ con. Tôi hướng dẫn bà cụ ra mộ, đinh ninh là cụ sẽ vật vã khóc than, kể lể, và đã chuẩn bị những lời an ủi cụ, nhưng cụ thật là can đảm, bình tĩnh nhìn mộ anh Hiếu và nói nhỏ nhẹ với tôi khi thấy tôi nước mắt dầm dề: ‘’Anh cũng không nên buồn. Hãy trả thù cho em Hiếu!’’ Tôi lặng người nhìn bà cụ. Người mẹ dũng cảm thế nào thì con cũng can trường như thế!

            Tháng 6-1953, tôi được lệnh đi Đà lạt học lớp Huấn Luyện Đại đội Trưởng. Từ biệt đồn Trung Lăng, tôi đứng lặng bên mộ anh Hiếu, giơ tay chào từ biệt anh lần cuối cùng. Đến nay gần nửa thế kỷ đã trôi đi. Qua bao nhiêu hưng phế, đồn Trung Lăng ngày xưa có thể không còn hoặc đã bị san thành bình địa và mộ của anh Hiếu liệu có còn không hay cũng bị san phẳng rồi? Nhưng dù sao, ĐNG CHÍ HIẾU!, chẳng bao giờ tôi sẽ quên anh!

                                                           

San Jose tháng 12-2002

CVA Vũ Đức Nghiêm

* * *


Giới Trẻ Dấn thân

Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh (Cựu GS Chu Văn An)

LTS. Ngày Chủ nhật 23 tháng 3, năm 2003, vào 1:30 giờ chiều ở Thánh Đường Tự Do ở Đường Quimby, thành phố San Jose, California, trước một số đông đảo vào khoảng 300 người tham dự, ba vị dân cử tuổi trẻ Việt Nam là Luật sư Nguyễn Quốc Lân, Ủy viên Hội đồng Giáo dục Học khu Garden Grove, California, Cử nhân Andy Quách, Nghị viên thành phố Westminster, California và Luật sư Trần Thái Vân, Nghị viên kiêm Phó thị trưởng thành phố Garden Grove, California, đã ra mắt Cộng đồng và các Cơ quan Truyền thông Bắc California để tường trình những hoạt động và thành quả chính trị mà họ đã đạt được trong những ngày vừa qua. Nhân dịp này hai nghị viên Andy Quách và Trần Thái Vân đã chính thức trao Nghị Quyết của những Hội đồng Thành phố Westminster và Thành phố Garden Grove công nhận lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là lá cờ chính thức đại diện cho Cộng đồng người My gốc Việt. Một nhân sĩ địa phương là giáo sư Nguyễn Xuân Vinh đã được ban tổ chức mời ra nhận những nghị quyết lịch sử này. Dưới đây chúng tôi đăng nguyên văn lời ngỏ của giáo sư trong buổi lễ.

           Tôi rất hân hạnh được Ban tổ chức mời nói đôi lời trong buổi ra mắt Cộng đồng và các cơ quan Truyền thông Bắc Cali của ba vị dân cử tuổi trẻ Việt Nam đã đến với chúng ta ngày hôm nay.

           Chúng ta thường nghĩ đến một khoảng đời hai mươi lăm năm như là thời gian cho một thế hệ trẻ lớn lên và bước vào cuộc đời hoạt động. Khi chúng ta vào ngưỡng cửa thiên niên kỷ 2000 thì một phần tư thế kỷ cũng đã trôi qua kể từ ngày người Việt ào ạt rời nước ra đi. Một phần tư thế kỷ này cũng đã đưa lại cho cộng đồng người Việt ở hải ngoại một thế hệ mới. Trong hai năm vừa qua đã có nhiều bài viết về sự hội nhập vào xã hội mới của khối người Việt di cư, ở mọi quốc gia trên thế giới, và đặc biệt ở Hoa Kỳ, và nhờ đó mà chúng ta biết được là giới trẻ Việt đã đạt được những thành tích xuất sắc trong mọi ngành. Nhưng có điều đáng tiếc là những tin thành công của người mình thường đến với chúng ta rất thưa thớt, và chỉ qua những bài báo tiếng Việt, phổ biến trong cộng đồng. Một đôi khi ta đọc được những tin tức này trên báo Mỹ hay được nhìn thấy trên những đài truyền hình. Cho đến nay những trường hợp như thế này cũng còn hiếm hoi và tôi nghĩ những người làm trong ngành truyền thông, nếu gặp dịp thì nên phổ biến nhanh chóng những tin tức thành công của thế hệ trẻ để gây phấn khởi trong lòng mọi người. Tôi lấy một thí dụ là một tin quan trọng trong năm 2002 là một bài viết của ký giả Robert Little của báo The Baltimore Sun về nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh đã giúp cho Naval Surface Warfare Center ở Indian Head, Maryland chế tạo thành công bom nổ “nhiệt áp” (thermobaric) rất công hiệu để diêt trừ địch quân ẩn sâu trong lòng núi. Bài báo đã được dịch ra tiếng Việt và phổ biến rộng rãi trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Cùng một lúc hai bản tiếng Anh và tiếng Việt cũng được tung ra trên mạng lưới điện toán toàn cầu.

           Từ mười năm nay, thế hệ thứ hai của những người Việt di cư đã bắt đầu đóng góp hữu hiệu vào đất nước này và những thành quả của các bạn phải được giới thiệu với mọi người, trước hết trên báo chí tiêng Việt, và nếu có những trường hợp thật xuất sắc như với khoa học gia Dương Nguyệt Ánh thì chính người mình phải chuyển tin tới giới truyền thông Anh ngữ mới phải. Những cộng đồng Á châu khác như cộng đồng Trung Hoa họ thường làm như thế để giới thiệu sự thành công của sắc dân họ trên toàn quốc. Cũng vì vậy mà tiếng nói của họ được chính quyền lắng nghe nhiều hơn so với các cộng đồng gốc Á châu khác. Tôi đã có dịp đi nhiều nơi và tiếp súc với các bạn trẻ Việt, và tin tức thành công của các bạn ở đủ mọi ngành thật đã làm cho chúng ta thấy tự hào. Tháng 7 năm 2000, nhân dịp Đại Hội Võ Bị Hải Ngoại kỳ thứ 12 ở Orange County, California, đoàn Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu gồm có các con và cháu của những Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam được chính thức giới thiệu ở đại hội và trên toàn cầu. Tôi có vinh dự được mời nói chuyện với các bạn và đây là lần đầu tiên tôi tiếp xúc với một thế hệ đồng nhất mang dòng máu kiên cường và anh dũng của ông cha, những sinh viên đã theo tiếng gọi của non sông nhập ngũ để được huấn luyện thành những sĩ quan tài danh của đất nước. Gặp các bạn trẻ ở đại hội, các cháu trẻ thì còn đang theo học ở các đại học, các anh chị lớn hơn nay đã là những công dân lỗi lạc ở mọi ngành, là các bác sĩ, kỹ sư, luật gia hay ở trong thương trường, những cháu ở trong quân đội cả ba ngành hải, lục và không quân nếu mặc quân phục tới dự tôi đã nhìn thấy thấp thoáng những cấp hiệu thiếu tá hay đôi khi là trung tá, lòng tôi thấy rộn ràng một niềm vui khôn tả. Nhưng khi trở về, nói chuyện với những người bạn Hoa Kỳ, thì tôi lại thấy họ không biết nhiều về những đóng góp của người mình, không biết là con em mình đã lái những phi cơ phản lực siêu thanh, tham chiến ở vùng Vịnh cách đây hơn mười năm, và bây giờ chắc đại chúng Hoa Kỳ cũng không biết rằng hiện nay nhiều thanh niên Mỹ gốc Việt đang có mặt trong trận chiến ở Trung Đông với Iraq.

           Cùng chung sống trên đất nước này, mà các người thuộc các sắc dân khác, và đặc biệt là khối đa số là những người da trắng, không biết nhiều về tầm quan trọng của sự đóng góp của chúng ta là những người Mỹ gốc Việt vào xã hội Hoa Kỳ, chính là vì chúng ta chưa thực sự dấn thân hoạt động trong những lãnh vực và trong những địa bàn có liên hệ tới người bản xứ. Khi mà những hoạt động của chúng ta, những đóng góp của chúng ta, những quyết định của chúng ta không thực sự có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của những người Hoa Kỳ nói chung, thì dù rằng cộng đồng Viêt Nam có được coi như là một cộng đồng thịnh vượng chăng nữa, chúng ta vẫn chỉ được nhìn như là những người di cư mới tới mà thôi.

           Nhưng với lớp người trẻ dần dần đi vào những ngành luật pháp, chính trị và xã hội, nhiều người gốc Việt, cả phái nam lẫn phái nữ, đã được bổ nhiệm vào chức vụ thẩm phán, phụ tá pháp lý cho những dân biểu tiểu bang và liên bang, đã có những luật gia người Việt được tuyển làm việc ở văn phòng thẩm phán Tối Cao Pháp Viện. Người lỗi lạc nhất phải là tiến sĩ Đinh Phụng Việt, là giáo sư ở trường luật khoa danh tiếng của đại học Georgetown, và cách đây hai năm, khi mới ba mươi hai tuổi mà ông đã được Tổng Thống George W. Bush đề nghị với Quốc Hội Hoa Kỳ để được bổ nhiệm giữ chức vụ thứ trưởng Bộ Tư Pháp. Vào ngày 18 tháng 9, năm 2002, độc giả tiếng Anh có thể đọc được trên nhật báo Los Angeles Times bài viết của ký giả Eric Lichtblau nhiệt liệt ca tụng ông Đinh Việt là người đã dựa vào hiến pháp Hoa Kỳ để viết tài liệu cho Bộ Tư Pháp có thể chứng quyết và cho phép những cơ quan công quyền được những quyền hạn rộng rãi để lưu giữ và thẩm vấn những người tình nghi làm lũng đoạn nền an ninh quốc gia. Trong bài báo, tác giả đưa ra ý kiến là ông Đinh Việt có thể là người gốc Á châu đầu tiên sau này có thể được đề nghị vào trong Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ. Chúng ta có thể nói là giờ đây nếu người Mỹ khi đi phi cơ, có bớt lo âu hơn về nạn không tặc, khủng bố, chính là nhờ ở những bảng phân tách hiến pháp của thứ trưởng Đinh Việt đã giúp cho cơ quan FBI quyền hạn rộng rãi hơn để khám phá những tồ chức khủng bố đang hoạt động trên nội địa Hoa Kỳ. Trường hợp ông Đinh Việt chỉ là một thí dụ nổi bật nhất để quần chúng Hoa Kỳ biết đến chúng ta, nhưng nếu chỉ có một con én mà thôi thì đã không mang được lại cả một mùa xuân. Hoạt động của giới trẻ Việt, đóng góp vào xã hội này, khi xưa chủ yếu ở trong y khoa, hay ỡ trong ngành kỹ thuật cao, nay đã lan ra ở đủ mọi ngành và đã được những người bản xứ biết tới. Giờ đây nếu người dân theo dõi tin tức trận chiến với Iraq qua những màn ảnh truyền hình ở vùng Vịnh, thì chắc sẽ nhìn thấy khi đài loan tin địa phương, có những phóng viên trẻ, nam và nữ, mang tên là họ Vũ, họ Trần, họ Nguyễn ... nghe thật xa lạ, nhưng rồi đây sau khi quen thuộc, khán thính giả sẽ biết rằng đó là những tên họ Việt Nam, và những phóng viên truyền hình đó là nhửng người khi cách đây ít lâu đã theo cha mẹ tới giải đất này trong lúc còn tuổi ấu thơ.

           Chính vì nay chúng ta có thể tự hào mà nói rằng, cả hai thế hệ, những người Việt Nam đi tiên phong trong cuộc di cư sang nước người, và thế hệ thứ hai, con em của chúng ta, đều đã có những đóng góp xứng đáng vào đất nước trú ngụ và được quần chúng Hoa Kỳ lưu ý tới và tỏ lòng tín nhiệm, mà cùng với thiên niên kỷ mới, cộng đồng người Việt đã bước sang giai đoạn mới, và chuyển hướng hành động. Người Việt di cư, nay đã là công dân Hoa Kỳ, chúng ta sẽ hoạt động để trở thành những người đại diện, không phải chỉ cho riêng cộng đồng người Việt mà thôi, mà là đại diện của chung mọi người khi được dân chúng tín nhiệm qua các cuộc bầu phiếu. Trong những người trẻ đi tiên phong trong giai đoạn này, hôm nay chúng ta có hạnh ngộ được tiếp đón ba bạn trẻ Việt Nam, những người đã gây được sự tính nhiệm của dân chúng Hoa Kỳ ỡ địa phương các anh cư ngụ, để được đắc cử vào nhựng chức vụ đại diện. Tôi xin được khen ngợi và chúc mừng ba vị khách quý là:

            Luật sư Nguyễn Quốc Lân, Ủy viên Hôi đồng Giáo dục Học khu Garden Grove, California. Cử nhân Andy Quách, Nghị viên Thành phố Westminster, California.   Luật sư Trần Thái Vân, Nghị viên Thành phố Garden Grove, California, và là ứng cử viên Dân biểu Tiểu bang California trong năm 2004.

             Từ thuở còn xanh mái đầu, tôi đã nặng tình dân tộc. Tuy nửa cuộc đời sống xa quê hương mà lúc nào tôi cũng thấy như gắn bó liền với đất nước. Cũng vì vậy mà ngày nào đất nước còn lầm than, chưa được thanh bình, tự do, thì lòng tôi vẫn chưa toại nguyện. Như toàn thể qúy vị, như mọi người quốc gia, tôi mong mỏi thế hệ mình có ngày được thấy đất nước thoát được ách cộng sản, quê hương mở hội, tiếng sáo diều lại nghe êm dịu trên thôn xóm như độ nào. Nhưng nếu mộng không thành thì ý nguyện quang phục quê hương phải được thế hệ trẻ tiếp nối. Khối người Việt ở hải ngoại, và đặc biệt là các bạn trẻ, đời thứ hai của chúng ta, hiện nay sống ở khắp mọi nơi trên mặt địa cầu, và là công dân của những nước cư ngụ. Nhưng các bạn vẫn có thể trung thành với xứ sở trú quán của mình và cùng một lúc làm được điều hữu ích cho quê hương của ông cha khi xưa bằng cách dùng mọi cách để tranh đấu cho sự thực hiện một nền dân chủ thực sự cho Việt Nam. Những người bạn trẻ đến với chúng ta ngày hôm nay, các anh đã theo lý tưởng đó. Các anh đã là những đại diện xứng đáng cho những người dân đã bầu mình. Hai anh Andy Quách và Trần Thái Vân đã bầy tỏ nhiệt tình công dân khi cách đây hai tuần, vào ngày thứ Hai, 10 tháng 3, 2003, các anh hướng dẫn một phái đoàn người Mỹ gốc Việt tới Bô Ngoại giao Hoa Kỳ ở Hoa Thịnh Đốn để trao kiến nghị yểm trợ Tổng Thống Bush trong các vấn đề chống khủng bố, cụ thể là tấn công quân sự vào Iraq. Và để đạt được nguyện vọng của khối người Việt di cư trên giải đất này muốn cho chính nghĩa quốc gia được mãi mãi tồn tại, hai vị dân biểu ở hai tỉnh miền Nam California đã vận động để cho hai thành phố Westminster và Garden Grove chấp thuận những Nghị Quyết công nhận lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là lá cờ chính thức đại diện cho cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Hôm nay tôi rất xung sướng và hãnh diện được nhận từ tay hai nghị viên trẻ tuổi này những Nghị Quyết lịch sử của hai tỉnh miền Nam California. Nghị quyết số 3750 đã được Hội Đồng Thành Phố Westminster thông qua, thuận và phê chuẩn ngày 19 tháng Hai năm 2003, và bản chính thức tôi có trong tay có chữ ký của bà Thị trưởng Margie L. Rice. Nghị Quyết số 8486-03 đã được Hội Đồng Thành Phố Garden Grove thông qua, thuận và phê chuẩn ngày 11 tháng Ba năm 2003, và bản tôi có trong tay có chữ ký của ông Thị trưởng Bruce A. Broadwater. Đây chỉ là những kết quả hoạt động sơ khởi của những người trẻ Việt Nam dấn thân vào địa bàn chính trị trên quê hương mới. Cùng môt lúc những tin vui này được loan ra bằng mọi phương tiện thông tin trong tập thể người Việt tỵ nạn trên toàn cầu, tin tức cũng đã gây chấn động cho nhà cầm quyền Việt cộng. Chỉ nội chưa đầy một tuần lễ sau khi Nghị Quyết của thành phố Westminster công nhận lá cờ Quốc gia Việt Nam là lá cờ biểu tượng của người Việt ở Hải Ngoại thì Đại sứ Việt cộng ở Hoa Thịnh Đốn là Nguyễn Tâm Chiến đã viết thư phản kháng với Thống đốc Gray Davis của Tiểu bang California và gửi bản sao tới Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ để nhờ can thiệp. Và sau khi nhận được chỉ thị từ Tòa Đại sứ thì Tổng lãnh sự Việt cộng ở San Francisco là Nguyễn Mạnh Hùng cũng đã viết thư cho Bà Thị trưởng Margie L. Rice để xin phế bỏ Quyết Nghị. Việc làm hết sức hồ đồ này chứng tỏ rằng những viên chức Việt cộng không biết một chút gì thể thức điều hành theo lề lối dân chủ trên nước này.

           Tôi tin rằng qúy vị cũng như tôi, chúng ta nhiệt tình hổ trợ công việc làm của các anh, thuộc vào lớp trẻ Việt đang mang lại vinh dự cho cộng đồng Việt Nam.

GS Nguyễn Xuân Vinh.

* * *


GẶP NHAU

CHIẾN TRẬN TUYẾN ĐẦU

CVA Phạm Quân Khanh

(Nhớ thời lính)

Gặp nhau chiến trận địa đầu

Chẳng là liêu dị cũng là hư hoang

gian lao trận mạc bàng hoàng

mồ hôi nhễ nhại vội vàng cho nhau

tàn cây bụi cỏ bờ lau

những gì mong muốn vì nhau thỏa lòng

Sông Cầu Bến Nghé long đong

đồi cao buôn lạ trăng trong mây vờn

tỏ mờ hoan lạc chợp chờn

chợt đây rồi nhé xa vời chuyện xưa

muôn hình muôn vẻ như mơ

những vụn vặt ấy gom thơ thành đời

* * *


Người em gái miền Nam

CVA Đặng Tường Ngữ

Ngày rời bỏ miền Bắc dzô Nam, ngay từ lúc con tàu chở dân di cư cập bến Nhà Rồng, bỏ neo trước khách sạn Majestic Saigòn, tôi đã được nghe và trông thấy nhiều điều lạ tai lạ mắt, khiến cho tôi nhớ mãi đến ngày hôm nay.

    

Đầu tiên là những em bé bán ‘ hột vịt lộn’, một đồng một chục trái, kèm theo mấy gói hạt tiêu trộn muối. Lần đầu nghe thấy tiếng rao lanh lảnh: ỀAi hột vịt lộn..nóng đây..i.iỂ tôi quả tình không hiểu ai rao bán thức ăn gì. Hỏi, thì được người rành hơn, nói rằng đó là người ta rao bán ‘trứng vịt ấp mề’ theo tiếng Bắc chúng ta thường gọi.

      

Nghĩ mãi tôi nhớ rằng: ngày chạy quân Pháp về quê ngoại, thỉnh thoảng hoặc vì con gà mái đang nằm ổ bị chó cắn chết, hoặc vì cái ổ trứng gà bị nước mưa dột, e rằng trứng sẽ không nở nữa nên bà ngoại tôi lấy trứng gà đang ấp luộc cho chúng tôi ăn: gọi là ‘trứng gà ấp mề’. Tôi chưa từng được ăn trứng vịt ấp mề. Ngày ở quê tôi, thỉnh thoảng nếu may mắn nhặt được quả trứng vịt đẻ rơi, bà ngoại tôi bèn bỏ lẫn vào ổ trứng gà đang ấp. Khi gà con nở, tôi thấy con vịt con sống lẫn với đàn gà, theo mẹ gà đi kiếm ăn thật ngộ nghĩnh.

      

Sau hột vịt lộn là cái bánh mì Saigòn. Thuở ấy, bánh mì bán một đồng một cái. Bánh mì Saìgòn dài như cái đòn gánh. Vỏ bánh mì dòn, ruột bánh mì mềm, ăn thơm ngon mãi không chán. Đang sống ở Hà Nội, hàng ngày tôi được ăn bánh tây rắc muối tiêu, hai mươi lăm xu một cái, nay vào Saigòn, với năm mươi xu, tôi mua được khúc bánh mì lớn gấp hai cái bánh tây ở Hà Nội, lại còn kèm thêm chút ba tê hoặc mấy lát thit lợn luộc nhuộm màu đỏ ...., mấy miếng củ cải trắng, cà rốt đỏ ngâm dấm chua. Thật là vừa rẻ vừa ngon tuyệt vời.

    

Một chuyện thích thú nữa là, khi trả năm mươi xu cho bà bán bánh mì, tôi bắt chước người ta, xé đôi tờ giấy một đồng ra trả. Lạ thật! Nhiều khi trong túi đã có sẵn hai nửa tờ giấy một đồng, nhưng tôi vẫn lấy ra tờ giấy một đồng khác, xé làm hai để trả. Không ai phiền hà gì cả. Khi muốn trả một đồng, ta cứ đưa hai nửa mảnh giấy một đồng, thế là người ta vui vẻ nhận liền. Chẳng bù cho những ngày ở ngoài Bắc, đôi khi vì tờ tiền giấy cũ nên bị chê ỷ chê eo. Thường thì khi có tờ giấy bạc rách, người ta phải lấy giấy bóng dán lại cho tươm tất rồi mới dùng được.

              

Là học trò dinh tê muộn, ngày dzô Nam, tôi đã 20 tuổi. Ở cái tuổi con trai đã biết chiêm ngưỡng vẻ đẹp của các thiếu nữ cùng tuổi. Ngày đó, các thiếu nữ miền Nam thường mặc đồ bà ba ra đường. Con nhà bình dân thì mặc áo bà ba bằng lụa nhân tạo nhiều màu sắc, quần rộng ống màu đen, trên đầu quấn cái khăn sọc ca-rô màu đỏ hay màu xanh. Con nhà khá giả hơn thì mặc áo bà ba bằng lụa tơ tằm trắng màu mỡ gà hoặc vải phin mỏng với quần lãnh Mỹ A đen nhánh. Lần đầu trông thấy cái quần rộng ống, tôi thấy lạ lạ, tức cười. Nhưng chẳng mấy lúc sau, tôi thấy cái quần rộng ống ấy, sao gợi cảm hơn những cái quần vải trắng, ống hẹp, mà các cô gái miền Bắc thường mặc, nhất là khi người mặc đi trong cơn gió lộng.

      

Chợt nhớ lại một kỷ niệm khó quên, xẩy ra trong một buổi chiều hè đã xa xôi lắm. Chuyện xẩy ra gần nửa thế kỷ rồi, nhưng tôi vẫn tưởng như mới xẩy chiều hôm qua vậy. Một cảm giác đê mê rạo rực, toàn thân như tê dại vì sung sướng chợt nổi dậy trong tôi. Đó là hình ảnh một buổi chiều vào mùa thi, lúc trời sắp tối. Hình ảnh ấy như đã khắc xâu vào trong tâm khảm nên chẳng bao giờ tôi quên được.

Tôi còn nhớ rằng, buổi chiều hôm ấy, có gió lộng từng cơn, sau ngày thi Tú Tài kỳ thứ hai. Chẳng là tôi bị hỏng thi vấn đáp kỳ thứ nhất. Mà kỳ thứ hai này, sau khi thi vấn đáp, tôi tự cảm thấy chẳng hy vọng nhiều. Khi đạp xe qua cổng trường Pétrus Ký, nơi dán bảng những học sinh trúng tuyển kỳ thi năm nay, tôi ngại ngùng chưa muốn ghé vào. Phần vì sợ rằng vô ích, phần vì sợ sẽ làm trò cuời cho Quý, một cô gái miền Nam, bạn học cùng lớp đệ ngũ với em gái tôi.

    

Qúy nhất định ép tôi vô xem bảng. Chúng tôi dựa xe đạp vào hàng rào, khoá xe kỹ lưỡng rồi chen lấn với những học sinh khác đang hi vọng tìm thấy tên mình trên bản danh sách đánh máy lem nhem của Hôi Đồng Giám Khảo. Trong khi tôi đang cố ý tìm nhưng chưa thấy, thì Qúy chợt reo lên sung sướng: anh Ngữ trúng rồi! mừng cho anh! Quý chợt nhẩy lên ôm chặt lấy tôi, hai tay ôm cứng cổ tôi, ngực áp sát vào ngực tôi. Tôi tưởng chừng nghẹt thở. Quý ríu rít: Ềanh trúng rồi, mừng quá xá!.Ể. Tôi chợt nhìn xuống hai cánh tay ngà của Quý đang ôm ghì lấy người tôi, nàng đang cố rướn người lên, cặp đùi thon thon nhưng chắc nịch cọ vào tôi, cặp môi xinh xắn màu hồng nhạt chạm vào da mặt tôi. Tôi sững sờ, ngây ngất vì sung sướng. Một niềm vui không sao tả được cho hết. Tôi quả thật không ngờ! Không ngờ rằng Quý, người con gái đẹp, bạn em gái tôi, đã bộc lộ niềm vui sướng một cách tây phương đến thế.

Tôi chưa hề bao giờ nghĩ tới cái cảnh tượng được một trinh nữ ôm ấp và vuốt ve như thế. Bởi vì Quý là bạn của em tôi, tôi phải nghiêm chỉnh cho đáng mặt người anh. Ngoài ra tôi biết thân phận mình: con một công chức di cư nghèo. Tôi đâu dám mơ uớc đến ngươì con gái đẹp con nhà giàu ở miền Nam..như thế!   Trong lúc bàng hoàng sung sưóng, tâm hồn như lâng lâng trên đỉnh núi cao, một cảm giác đê mê, tê dại vì thân hình người con gái đẹp bất ngờ ôm chặt, ríu rít, hôn tới tấp. Tôi chợt bừng tỉnh như đang ở trong một giấc mơ tiên. Tôi cố tình khẽ xiết chặt hơn thân hình người con gái đáng yêu ấy trong vòng tay. Tôi cố tình kéo dài cảnh ôm áp ấy thêm một vài giây phút nữa. Thời gian hầu như ngừng lại trong giờ phút thiêng liêng ấy. Hai chân tôi vô tình chạm vào cặp đùi thon thon nhưng rắn chắc của Qúy. Một cảm giác rợn người, mê ly khó tả, cái diễm phúc của một chàng trai lần đầu tiên trong đời được đụng chạm vào một người con gái. Quý mặc cái quần lãnh Mỹ A đen nhánh, rộng ống, ngọn gío chiều làm hai ống quần tung bay lên cao hơn chút nữa. Tôi thoáng nhìn thấy hai gót chân son và một mảng đùi non, nõn nà trắng bóc. Một hình ảnh tuyệt vời chỉ thoáng hiện trong một giây phút nhưng đã tồn tại suốt chiều dài cuả một cuộc đời.

    

Quý chợt rời tay trên cổ tôi ra. Tôi cũng vội vàng làm theo. Bốn cánh tay vụng dại chợt rời xa nhau.Quý không nói gì trong giây lát. Tôi cảm thấy ở đâu đây, một cảm giác của hai kẻ đã vô tình phạm tội. Hai đưá nhẹ nhàng bước ra mở khoá xe, rồi ra về trong yên lặng.

        

Từ hôm đó, mỗi khi gặp nhau, Quý và tôi đều ngượng ngùng. Mặc dù Quý vẫn ríu rít, thân mật chuyện trò với anh em tôi, nhưng chúng tôi vẫn không dấu nổi cô em tôi một chút then thùng. Một hôm, nhân có việc xuống chợ Bến Thành, anh em tôi rủ nhau ghé thăm Quý. Nhà cha mẹ Qúy là một cửa hàng buôn vải rất lớn trông ra chợ Bến Thành. Khi chúng tôi bước vào, mẹ Qúy đang bận tíu tít thâu tiền bán hàng. Cha Quý ngồi bên cạnh phì phèo điếu thuốc lá. Anh em tôi lễ phép chào ba má Quý, rồi xin phép lên lầu gặp Quý. Má Quý đon đả nói với anh em tôi, cho phép cứ tự nhiện lên lầu vì Quý đang môt mình học bài trên ấy. Khi bước lên cầu thang tôi cố ý nhìn về phiá sau, xem phản ứng của ba má Quý. Má nàng tươi cuời vui vẻ với anh em tôi, nhưng cha Quý có vẻ không vừa ý. Ông nhìn với theo anh em chúng tôi với một ánh mắt ít thiện cảm.

Sau một hồi chuyện vãn, anh em tôi từ biệt Qúy ra về. Qúy tiễn chân anh em tôi đến tận hè đường. Khi đi ngang qua cửa hàng, ba Quý đã không còn ngồi đó, má của Qúy vẫn tíu tít bận rộn bán hàng. Khi chúng tôi chào, bà tươi cười nói với chúng tôi Ềthỉnh thoảng rảnh bay nhớ ghé thăm em Qúy nhé!Ể

Năm ấy Quý và em gái tôi lên đệ tứ, còn tôi lên lớp đệ nhất. Tất cả đều bận học vì lo lắng cho kỳ thi cuối năm. Anh em tôi ít có dịp gặp lại Qúy. Thực ra, tôi vẫn e ngại cái nhìn ít thiện cảm của ba Quý. Tôi không dám rủ em tôi đến thăm Qúy nữa.   Năm sau, tôi bị gọi động viên vào trường sĩ quan Thủ Đức. Khi tốt nghiệp, tôi bị thuyên chuyển ra phục vụ ở miền Trung. Cuộc đời quân ngũ bận rộn khiến tôi tạm quên Saìgòn. Đơn vị của tôi đóng ở Đà-Nẵng. Trong những dịp nghỉ phép, tôi thường cùng vài bạn đồng ngũ, vượt đèo Hải Vân ra viếng đất Thần Kinh. Tôi có dịp gặp gỡ các o gái Huế, các cô nàng ở Quảng Nam, Quảng Ngãi ... Cuộc đời trong quân ngũ, cho tôi nhiều dịp đụng chạm với các thiếu nữ miền Trung cũng như miền Nam. Tôi nhìn quen dần những chiếc quần rộng ống. Tôi không còn cảm thấy khác biệt của những ống quần rộng hẹp. Cho đến một ngày, tôi thấy chiếc quần ống rộng của những cô gái miền Nam mang nhiều vẻ đẹp khiêu gợi hơn chiếc quần ống hẹp.

        

Tết năm ấy sau khi đã ở miền Trung nhiều năm, tôi được phép về thăm gia đình một tuần ở Saigòn. Hỏi thăm về Qúy, tôi được biết nàng đã lấy chồng. Vợ chồng Qúy dọn về ở miệt Hậu Giang, nơi cả hai bên cha mẹ có ruộng thẳng cánh cò bay. Một nỗi buồn man mác, tiếc nuối chợt đến trong tôi. Tuy nhiên, tôi trân trọng gìn giữ cái hình ảnh đẹp của mùa thi ngày nào.

      

Gần nửa thế kỷ trôi qua, hình ảnh Quý, người con gái đẹp miền Nam mặc quần lãnh Mỹ A đen nhánh rướn người lên, bá lấy cổ tôi, reo lên mừng rỡ.., chợt hiện ra trong trí nhớ ....rõ ràng như mới xẩyra buổi chiều hôm trước. Tôi nhắm mắt lại, hồi tưởng những giây phút thần tiên ấy. Mở mắt ra, tôi nhìn vào khoảng không gian không chớp mắt.

CVA Đặng Tường Ngữ

* * *

TÌNH YÊU NHƯ LỬA ẤM

CVA Minh Viên

Em ạ, tình yêu như lửa ấm

Làm sao giữ lại mãi trong tim?

Trước sau đời vẫn mùa đông xám

Nhịp sống băng dương sóng nổi chìm

Em ạ, tình ta đèn leo lét

Làm sao tỏa sáng cõi trời đen?

Còn yêu, xin hãy yêu tha thiết

Thắp sáng vầng trăng đẹp nghĩa tình

Em ạ, niềm vui hay nỗi khổ

Đều mang vẻ đẹp của tình yêu

Khi yêu, đóa hoa tình thắm nở

Ngát hương, nắng sớm với mưa chiều

Em ạ, đời dẫu dài thế kỷ

Vẫn dài chưa đủ với tình yêu

Tình yêu thực sự tình không tuổi

Cạn sức, mòn hơi vẫn diễm kiều

Em ạ, tình yêu như lửa ấm

Làm sao rực sáng mãi trong tim?

Tình yêu vốn dưỡng nuôi sự sống

Làm thắm tươi thêm giấc mộng đời

* * *


ĐẠI-BÀNG GẪY CÁNH

CVA Kim Vũ

Lời tòa soạn: Truyện ngắn “Đại Bàng gẫy cánh” của tác giả Kim Vũ (tên thật Vũ Mạnh Phát, CVA 1959), là một truyện trong tuyển tập truyện ngắn “Hạnh Ngộ Mong Manh” mà tác giả sẽ cho ra mắt sách trong tháng ba năm nay 2004. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả:

* * *

Lộc đã chết!

           Tích ngỡ-ngàng khi nghe tin đó. Chàng không tin ở tai mình. Làm sao Lộc có thể chết được? Mình mới gặp anh ấy có tuần trước thôi mà! Trông anh còn khỏe mạnh, tự-tin, tràn đầy sức sống. Vậy mà bây giờ anh đã không còn nữa. Cái chết của anh có cái gì không thật. Và có lẽ đó là lần đầu tiên Tích đứng trước nhận-thức trực-tiếp và thâm sâu về tính-chất phi-lý của một sự-kiện quá bình thường trên đất nước chiến-tranh này.

Lộc là đại-úy phi-công trực-thăng. Tích đã quen anh rất tình cờ, qua một người bạn, và cũng chưa biết gì nhiều về anh. Chỉ biết rằng ngay từ lần đầu tiên, chàng đã có thiện-cảm đặc-biệt đối với anh. Lộc cùng tuổi với Tích, cao lớn, đẹp trai, đúng là một mẫu sĩ-quan không-quân lý-tưởng. Và anh cũng rất hiền, sống một cuộc đời rất nguyên-tắc. Anh lập gia-đình khoảng ba năm nay, mới có đứa con trai đầu lòng chưa đầy một tuổi, và sắp sửa có đứa thứ hai. Anh không ham vui như những sĩ-quan khác trong cái binh-chủng nổi tiếng là hào-hoa này. Anh rất biết lo cho gia-đình, không nhảy đầm, không rượu chè cờ bạc. Không ai có thể nghĩ một con người có cái bề ngoài rất là bảnh bao bay bướm đó lại hiền hòa như vậy. Khi Tích gặp anh tại nhà người bạn, anh vừa thoát khỏi cái chết trong đường tơ kẽ tóc. Trong một phi-vụ, kính trực-thăng trước mặt anh đã trúng đạn vỡ toang, miểng vỡ bắn vào mặt anh, gây ra một vết thương ngang trán. Cũng may mà nó không trúng vào mắt, và tuy vết sẹo vẫn còn chưa lành hẳn, trông anh hoàn toàn đầy đủ phong-độ. Làm như tai nạn chỉ là một vết xước trên da. Tích đã nghĩ một con người như thế không dễ dàng gặp thêm tai nạn lần thứ hai. Vậy mà bây giờ anh đã ra đi vĩnh-viễn. Tích thấy như có một khoảng trống trong tâm-trí chàng, khoảng trống của sự sửng-sốt, vô-cảm-xúc, tê dại trước một sự kiện quá đột-ngột, khiến chàng chưa kịp phản-ứng ra sao.

Dù không quen thân lắm vì chỉ mới biết Lộc gần đây, Tích vẫn đi dự đám tang anh. Trực-thăng của anh đã rớt trong một vùng không an-ninh, và phải ba bốn ngày sau khi anh mất tích, người ta mới đem được xác anh về để khâm-liệm. Tích được biết lúc đó thi-thể anh không còn nguyên vẹn như cũ mà đã bị trương lên rồi. Con người khi mất đi sự sống thì chỉ trong vài ngày là đã không thể nhận dạng được nữa. Và những tình-cảm yêu thương của những người thân lúc đó có lẽ phải mất đi khi chứng-kiến sự phân-hoá của cơ-thể, và thay vào đó là cái cảm xúc rùng rợn ghê sợ thấy một cái gì thân thiết đã biến dạng hoàn toàn, đã mục nát băng hoại, đã mất hẳn chất người.

Dĩ nhiên là Tích không nhìn thấy Lộc trong cái hình thể xấu xí ghê rợn đó. Vì vậy, trong tâm-tưởng chàng, Lộc vẫn còn nguyên những nét đẹp cũ. Chàng chỉ thấy linh-cữu anh với những ngọn nến cháy lung linh, và tấm di-ảnh của một sĩ-quan trong bộ quân-phục đại-lễ, nom oai nghiêm hùng dũng, với cặp mắt tinh anh và gương mặt cương nghị.

Lộc được chôn tại nghĩa-trang Mạc-đĩnh-Chi. Đám tang tiến hành giản dị, chỉ có họ hàng thân thích và vài ba người bạn cố-tri. Tích đến nơi khi linh- cữu sắp được hạ huyệt. Đó là một buổi sáng âm u. Nghĩa-trang hoang vắng đìu hiu. Không một tiếng chim hót. Những tàn cây ủ rũ co ro trong cái rét của một ngày trở gió. Những tiếng cuốc đào huyệt vang lên đanh lạnh. Người vợ trẻ mang bầu đang ngồi bên bờ huyệt, khăn sô trắng che kín mặt, nhưng vẫn có thể nhìn thấy mắt nàng sưng húp. Có lẽ nàng đã kiệt sức vì lo buồn trong cả mấy ngày qua, những ngày chắc hẳn phải kinh khủng trong đời nàng. Đứa con trai đứng cạnh nàng, còn nhỏ chút xíu, hình như không hiểu gì cả. Nó mới chập chững biết đi, trông gầy gò tội nghiệp chứ không đẹp trai như bố.

Khi huyệt được đào xong và linh-cữu bắt đầu được hạ xuống, thì người góa-phụ không còn ở trạng-thái rũ liệt nữa. Hình như nàng cảm thấy rõ sự chia ly đang đến hồi chung quyết. Nàng vụt đứng dậy, khóc nức lên, rồi toan lao xuống huyệt. Mấy người thân phải cố gắng lắm mới giữ được nàng lại trên bờ hố sâu, và nàng đã lại xụm xuống như một khối thịt trong tay người chị gái. Cả người nàng chỉ còn là một chấn-động thổn thức đớn đau. Đứa con vẫn đứng cạnh, nắm lấy tay mẹ, đôi mắt ngây thơ ngơ ngác tội nghiệp.

Và ngay vào giây phút đó, Tích cũng thấy hai tròng mắt mình mọng nước, sống mũi nồng cay. Chàng thương Lộc, thương người góa phụ trẻ, thương đứa con ngây-thơ bây giờ đã trở nên côi cút mà vẫn chưa hiểu được chút gì về nỗi chia lìa, thương cái bào thai trong bụng mẹ chưa kịp nhìn thấy cha trước lúc chào đời. Cuộc chiến-tranh này mỗi ngày đã lấy đi bao nhiêu người như thế? Đã có biết bao nhiêu cảnh vĩnh-quyết như Tích đang chứng-kiến hôm nay mà trước kia chàng chưa bao giờ chứng-kiến và nhận-thức đầy đủ? Tại sao đất nước này mà chàng vô cùng yêu mến lại phải khốn khó lâu dài đến thế? Người ta giết nhau vì cái gì? Vì tranh nhau hơn thua về một đường lối đưa con người đến hạnh-phúc? Chua xót làm sao!

Linh-cữu đã nằm yên dưới hố sâu, và bây giờ những nhát cuốc lại vang lên, những xúc đất được quẳng xuống lấp mặt quan-tài. Tích cầm một nắm đất quẳng xuống hố đang được lấp đầy, như gửi một lời chào từ-biệt tiễn người ra đi. Rồi mặt đất bằng trở lại. Không còn nhìn thấy bóng hình anh đâu nữa. Anh đã nằm sâu trong lòng đất bao dung. Mọi người cúi đầu nghe vị cao tăng đọc bài chú. Tích cũng cúi đầu, và trong tiếng mõ vang lên đều đều cùng tiếng tụng kinh chậm rãi của vị hòa-thượng, chàng thấy tâm-trí xao động lên lời độc-thoại của mình với người vừa nằm xuống.

“Anh Lộc, chắc anh không thể hiểu được rằng tôi quý mến anh và xúc-động về cái chết của anh đến như thế nào. Chúng ta cùng chung một thế-hệ, thế-hệ sinh ra trong chiến-tranh, lớn lên trong chiến-tranh. Thực tế chiến-tranh đã là một phần của cuộc đời chúng ta, như cơm ăn áo mặc. Khi chúng ta đến tuổi ý-thức, thì chiến-tranh đã ngày càng mở rộng. Những người cùng chung một dòng máu đã lao vào cuộc chiến đấu mà không có thời giờ để suy nghĩ, nhận định. Tôi được may mắn hơn anh, vẫn còn ít nhiều đứng ngoài lề bom đạn. Còn anh thì sống với bom đạn hàng ngày, sống với những tàn bạo của lửa thù từng giây từng phút. Tôi chắc chắn một con người như anh không bao giờ có cái thú độc ác nhìn người khác khổ đau, chứ đừng nói đến tiêu diệt sự sống của họ. Vậy mà anh cũng chẳng làm gì khác được. Anh vẫn phải khoác vào người bộ quân-phục, xông pha trong chốn lửa đạn, ở đó tàn sát đơn-thuần là một bản-năng tự-vệ. Chắc chắn anh cũng đã có những giờ phút băn khăn thắc mắc về một thực tế tàn độc như thế. Chúng ta không hiểu tại sao cuộc chinh chiến này đã phải diễn ra trong cái tàn khốc như ở mức độ hiện nay. Chúng ta như người vào giữa bộ phim mà phần đầu không được coi nên không thể hiểu nguyên-ủy câu chuyện. Điều độc địa là chúng ta không chỉ xem phim. Chúng ta đồng thời phải là những diễn-viên bất-đắc-dĩ, nhưng vẫn phải gắng hết sức mình mà làm tròn nhiệm-vụ để được tồn-tại.

Hình như những người ở phía đối-diện chúng ta không nghĩ như chúng ta. Họ suy nghĩ giản-dị hơn nhiều, và có thể thấy họ tin-tưởng tuyệt-đối, gần như mù quáng, vào lý-tưởng của họ. Họ đã có thể tiến hành và duy-trì một cuộc chiến đấu dai dẳng và đầy gian khổ trong cả mấy chục năm trời, và tôi không nghi ngờ là họ còn có thể kéo dài thêm hai ba chục năm nữa, cho đến khi chúng ta phải chịu đầu hàng mới thôi. Với những con người như thế, và với những con người phía bên này như chúng ta, liệu chúng ta có thể kéo dài được trong bao lâu? Tôi có cảm tưởng chúng ta đang ở trong một cuộc đọ sức không cân xứng. Trong khi họ say sưa lý-tưởng, thì chúng ta hoàn toàn bị động. Có lẽ chúng ta chiến đấu vì một ý-thức mơ hồ nào đó về quyền tự-do căn-bản mà mỗi con người phải được hưởng để hoàn thành cuộc sống của mình cho có ý nghĩa. Nhưng đồng thời cái ý thức tự-do đó của chúng ta đã bị trăm ngàn vạn triệu người lạm dụng, đã bị bao nhiêu nhà chính-trị hoạt đầu mặc tình khuynh-loát cho những mục-tiêu vị-kỷ của họ. Và rồi mặc ai nấy sống, con người cứ bị cuốn trôi theo dòng thác lũ, và hình như chúng ta mất đi phần nào tin tưởng vào cái mục-đích cuối cùng mà chúng ta trân-trọng. Chúng ta đành phó mặc cho những sự-kiện của dòng đời mà chúng ta cảm thấy bất-lực không kiểm soát nổi. Và chúng ta tạm quên đi những khắc khoải buồn phiền trong hạnh-phúc nhỏ bé nơi tổ ấm gia đình. Rồi một ngày, cái chết ập đến với anh, và anh không hề được sửa soạn cho một sự thể như thế. Anh chết đi trong lúc lòng còn đầy ham muốn sống, trong khi người vợ trẻ với cái bào thai trong bụng và đứa con thơ còn cần anh như cần ánh sáng mặt trời. Như con đại-bàng một sớm mai gẫy cánh trên vùng trời mịt mù khói súng và ngùn ngụt hận-thù của quê hương chúng ta, anh đã ngã xuống cho côn trùng rỉa rúc, và cái còn lại của anh là hình con đại-bàng trên chóp mũ đại-lễ và hai bên cầu vai của bức di-ảnh. Và cái còn lại của anh trước mắt tôi ngay lúc này là dòng lệ chảy dài trên đôi má người góa-phụ mang thai, là cái nhìn thất-thần của đứa bé mới chập chững biết đi. Và cái còn lại vang vang bên tai tôi là khúc hát buồn não nuột mà tôi đã được nghe hoài hồi gần đây:

Ngày mai đi nhận xác chồng

Say đi để thấy mình không là mình

Ngày mai đi nhận xác anh

Cuồng-si thuở ấy hiển-linh bây giờ…(*)

Xin chào anh, một người chiến-sĩ. Và xin bày tỏ lòng ngưỡng-mộ. Có lẽ đối với những người thân của anh, sự ra đi của anh là một sự mất mát phi-lý và đau thương. Nhưng riêng đối với tôi, cái chết của anh mang đầy đủ ý-nghĩa của một sự hy-sinh cao đẹp cho những gì mà chúng ta hằng ấp ủ nâng niu. Anh đã nằm xuống để những người còn sống sót như tôi có dịp suy-ngẫm và chiêm-nghiệm về cuộc sống, và nhắn nhủ chúng tôi về một sự tồn-tại xứng-đáng hơn trên cõi thế, về những nhiệm-vụ phải cố gắng hoàn-thành đối với những thế-hệ đi sau chúng ta.”

(*) Thơ Lê Thị Ý, nhạc Phạm Duy.

* * *

Sống với cười

CVA Tú Hát Đinh Bá Hoàn

Đường đời muôn ngả ngược xuôi

Với tôi chỉ có cái cười làm duyên

Chạy đua, bay nhảy, bon chen

Với thời gian, cũng như huyền thoại thôi

Vui buồn lẫn lộn chơi vơi

Hợp tan, tan hợp phím đàn triền miên

Tỉnh say, vay trả kiếp truyền

Có không, không có đảo điên lòng người

Cổ kim, trần thế thế thôi

Cứ cười thanh thản cho đời thắm tươi

Góp cười từ thuở đôi mươi

Tuổi trời, tám, chín, sắp sửa mười mươi... vẫn cười.

* * *


THỬ TÌM HIỂU VỀ

TÂM THỨC VÀ THIỀN

                                                                                   

CVA Trần Ngọc

Trong muôn loài muôn vật trên thế gian, loài người được coi như thượng đẳng hơn cả. Muôn loài muôn vật sống nhờ ở thể xác và bản năng, nhưng con người vượt cao hơn hết thảy, nhờ có thêm phần tâm hồn, hay còn gọi là phần Tâm Thức. Nhờ tâm thức, con người có phần suy nghĩ, phần đạo đức và phần trí tuệ. Hai chữ Tâm thức, tiếng Anh gọi là Mind và tiếng Pháp gọi là Esprit.

Nói theo thuyết Duy Vật, thì khi chúng ta chết đi, nghĩa là khi phần xác bị hủy diệt, thì phần hồn không còn nữa và chết là hết. Nhưng nói theo thuyết Duy Tâm, thì phần hồn vẫn còn tồn tại dù phần thân xác đã bị tiêu diệt. Chả thế mà người ta vẫn nói tới “Thế Giới Bên Kia” ý muốn nói cuộc sống của phần hồn.

Chuyện về Thế Giới Bên Kia với những hình ma bóng quế, với thiên đàng địa ngục cùng với Thuyết Tái Sinh hay Thuyết Luân Hồi (Reincarnation) đều không thuộc phạm vi của bài này bởi vì tính cách siêu linh của nó mà người viết không đủ kiến thức để lạm bàn. Chúng tôi chỉ muốn nói tới Phần Tâm Thức là phần hồn ( Mind) còn đang hiện diện cùng với phần xác thân ( Body) của chúng ta.

Chúng ta sống là có sự vận hành song song của cả phần xác lẫn phần hồn, hay nói một cách khác, hai phần cơ thể và tư tưởng con người tuy hoàn toàn khác biệt về thể chất và bản chất, nhưng cùng chung sống với nhau và liên hệ mật thiết đến nhau, giúp con người được tồn tại. Những người bị bệnh Coma, tuy thể xác vẫn còn và trái tim vẫn đập, nhưng phần hồn hay phần tâm thức không hoạt động, nên người đó được coi như nửa sống nửa chết, vì họ không còn tri giác.

Trở lại với cuộc sống, khi tâm hồn chúng ta thoải mái, không âu lo ưu phiền thì cơ thể khỏe mạnh an nhiên. Nhưng nếu chúng ta sống mà tâm hồn đầy rẫy những hỉ nộ ái ố, những dục vọng, những mưu toan, những thù hận, thì tâm hồn chúng ta bị quá nhiều áp lực (stress) khiến cơ thể bị suy yếu và dễ sinh bệnh hoạn, chẳng hạn như chứng đau tim, loét bao tử, bệnh thoái hóa khớp xương, bệnh ung thư hay những bệnh về tâm thần, nhẹ thì chẳng hạn như bệnh trầm cảm, nặng thì như bệnh điên cuồng...v.v.

Ngày trước, hồi thế kỷ thứ 17, nhà toán học và triết gia người Pháp, René Descartes (1596- 1650), đã đề ra thuyết Nhị Nguyên (dualisme/dualism), trong đó ông nói rõ tương phản và đối chọi của hai bản thể (entity) hoàn toàn khác biệt nhau như Âm với Dương, như phần thể xác ( body) và tâm hồn ( mind) của con người... Ngày nay thuyết Nhị Nguyên đã không còn được khẳng định như trước, bằng chứng là chính khoa học Tây Phương đã khám phá ra rằng những tình cảm con người như yêu thương giận ghét, như vui sướng khổ đau, như lo lắng ưu phiền ... đều ảnh hưởng đến thân xác, khiến con người có thể được mạnh khỏe hay bệnh tật ... Sự công nhận này đã đi gần đến triết thuyết của Đông Phương, chủ trương âm với dương, thể xác với tâm hồn là hai bản thể tuy khác nhau, nhưng có liên hệ mật thiết với nhau và phối hợp cùng nhau để tạo nên một tổng thể duy nhất như sự hiện diện của vũ trụ hay sự sinh tồn của con người (thuyết Nhất Nguyên- monisme/monism).

Lão Tử (*) hơn 2000 năm trước, đã khuyên con người không nên nhìn sự vật bằng cặp mắt nhị nguyên, chia phân “Nhĩ Ngã”, mà phải nhìn thấy tất cả đều chỉ là Một.

Theo lý thuyết của Đạo Gia (**), thì Tâm Thức hay Tâm Thần của con người đều ở vào ba nơi. Một ở Óc ( đầu), hai ở Tim ( ngực) và ba ở Dạ Dày ( bụng). Ba nơi ấy Đạo Gia gọi là TAM THI gồm Thượng Thi, Trung Thi và Hạ Thi. Cả ba Tam Thi được chủ đạo bởi ba ông thần họ Bành: Thượng Thi do Bành Cứ (có sách viết là Bành Sư), Trung Thi do Bành Chất và Hạ Thi do Bành Kiêu.

Ba ông thần ấy gọi là TAM BÀNH, chuyên xúi dục người ta nóng nảy giận dữ, làm điều sai trái xằng bậy, để những ngày Canh Thân (***), lên tâu với Ngọc Hoàng Thượng Đế để Ngọc Hoàng phạt người này mau chết hầu ba ông thần được tự do, khỏi phải theo dõi để tâu báo nữa. Việc tâu trình này đại khái cũng giống như chuyện Táo Quân hàng năm đến ngày 23 tháng Chạp lên chầu Thượng Đế để báo cáo về tình hình của gia chủ căn nhà.

Do sự tích trên, mỗi khi người ta nóng nảy giận dữ làm điều trái lẽ mất khôn thì gọi là nổi cơn Tam Bành. Trong Truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du có viết về Tú Bà, khi được Thúy Kiều cho biết là đã thất thân và sắp lấy Mã Giám Sinh, thì Tú Bà đã nổi cơn thịnh nộ vì nghĩ rằng sẽ mất Kiều, nghĩa là sẽ mất mối lợi thu hút khách làng chơi mỗi ngày:

Mụ nghe nàng nói hay tình

Bấy giờ mới nổi Tam Bành mụ lên

Tâm Thức theo người Anh, tọa lạc ở trong óc (Đầu = Thượng thi), theo người Pháp ở trong Tim (Ngực = Trung thi), còn theo người Trung Hoa và nhất là người Việt Nam thì Tâm thức ở trong lòng (Bụng hay Dạ dày = Hạ thi). Dĩ nhiên chữ “bụng” hay “dạ dày” không phải là chỉ ruột già, ruột non hay bao tử, mà nó mang một nghĩa bóng ám chỉ phần hồn. Chẳng hạn như khi ta nói “lòng tốt”, thì đó không phải là ruột non ruột già tốt mà là thiện tâm hay hảo tâm. Hai chữ “lòng mẹ” cũng thế, ý nói tình mẹ thương con. Ngoài ra còn có những câu như “bụng bảo dạ”, “lòng dạ xót xa”, “lòng dạ nao nao”. Trong ngôn ngữ Việt nam có cả hàng trăm chữ “lòng” mang ý nghĩa của Tâm Thức chẳng hạn như “ lòng thành, lòng quê, lòng vàng, lòng tham, lòng son, lòng tà, lòng nhân, lòng trinh, lòng muông dạ thú, lòng ngay dạ thẳng .v.v.. hay khi trai gái yêu nhau người ta cũng dùng hai chữ phải lòng.

Ca dao đã có câu:

            “ Sông sâu còn có kẻ dò

            Lòng người nham hiểm biết mô mà lường

Và trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du:

            Lối mòn cỏ nhạt màu sương

            Lòng quê đi một bước đường một đau

Hay:

            Lòng thơ lai láng bồi hồi

            Gốc cây lại vạch một bài cổ thi.

Bên cạnh hai chữ Tam Bành của Đạo gia, bên nhà Phật cũng có hai chữ Lục Tặc. Theo đạo Phật, trên thế gian có sáu điều có thể làm con người bị mê hoặc để đi đến chỗ mù quáng sa ngã mà làm những điều lỗi lầm tệ hại. Sáu điều đó là: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp.

Sắc là sắc đẹp. Thanh là âm thanh, tiếng nói. Hương là mùi thơm. Vị là vị nếm. Xúc là sự đụng chạm nói về xác thịt. Pháp là mọi sự mọi việc. Bởi vậy người tu hành, nếu mắt không bị mê hoặc bởi sắc đẹp, tai không nghe lời đường mật, mũi không kể mùi thơm quyến rũ, lưỡi không thèm vị ngọt của sơn hào hải vị, xác không ham sự đụng chạm nhục thể, lòng không tưởng điều tà, thì chắc chắn tu sĩ đó sẽ tu thành chánh quả để trở nên bậc chân tu. Do đó đã có câu:

                       Muốn tu theo đạo di đà

                        Tam Bành Lục tặc lánh xa cho rồi

Nhưng trong phạm vi bài này, chúng ta chưa dám nói đến chân tu, chúng ta chỉ xin bàn đến sự vận dụng Tâm Thức sao cho tâm hồn được thanh tịnh và có ảnh hưởng tốt đến sức khỏe: Đấy là việc tu tâm dưỡng tính hay tu dưỡng tâm linh. Vẫn biết rằng sống trên đời va chạm với thực tế, chúng ta không thể nào tránh khỏi những phiền toái muộn phiền bởi đó là bản chất của cuộc sống. Thế gian chúng ta đang sống không phải là thiên đường, không phải là cõi tiên và ngàn lần cũng chẳng phải là thế giới Cộng Sản ảo tưởng chỉ có trong lý thuyết. Nói một cách chung, cuộc đời là bể khổ, chả thế mà Nguyễn Công Trứ đã viết:

            Thoát sinh ra thời đà khóc chóe

            Trần có vui sao chẳng cười khì?

Dĩ nhiên hai câu thơ này chúng ta nên hiểu theo nghĩa triết lý chứ đừng hiểu theo nghĩa khoa học. Đã đành khoa học giải thích là đứa trẻ lọt lòng mẹ phải khóc để tống chất nhớt còn trong phổi và để trực tiếp hít thở dưỡng khí oxygen, thoát khỏi sự nô lệ dinh dưỡng qua cuống nhau (placenta). Nhưng chúng ta sẽ giaỉ thích ra sao nếu các động vật máu nóng khác như trâu bò, chó mèo.... lúc sanh ra sao chẳng hề phát một tiếng âm thanh nào từ lá phổi của chúng , mặc dù chúng cũng lần đầu tiên tiếp xúc với không khí bên ngoài sau khi lọt lòng mẹ? Vậy thì chúng ta cứ nên hiểu theo khía cạnh triết lý, cuộc đời là bể khổ, nên lúc sinh ra chúng ta đã phải khóc tiếng khóc đầu tiên, thay vì là tiếng cười hay sự im lặng. Đức Jesus Christ cũng đã chẳng chịu đóng đinh trên Thập Tự Giá để chuộc lỗi cho nhân loại hai ngàn năm trước đó sao? Và Đức Phật Thích Ca cũng thế, đã rũ bỏ những vàng son phú quý mà Ngài đang có, để đi ngồi thiền dưới gốc cây Bồ Đề, tìm hiểu nguồn gốc sự khổ đau của loài người, rồi giác ngộ, tìm thấy đường giải thoát cho chúng sanh về nơi siêu linh tịnh độ. Ngài đã đi thuyết pháp suốt gần nửa thế kỷ mà đời sau đã ghi chép thành kinh kệ.

Vậy chúng ta nên đành chấp nhận cuộc đời là bể khổ, mà chấp nhận thì chúng ta phải đương đầu với những phiền toái, những ràng buộc và những đau đớn ê chề đó. Nhưng dĩ nhiên không phải là bất cứ giây phút nào chúng ta cũng khổ đau. Bởi vì một ngày chúng ta có những 24 giờ đồng hồ kia mà, chúng ta vẫn có thể, trước và sau giây phút khổ đau, có những giây phút khác an nhàn thoải mái. Vấn đề là chúng ta phải biết tìm kiếm những giờ phút thanh thản đó. Và điều cần biết là những giờ phút thanh thản ấy, chúng ta không nên kể những thú vui giải trí tầm thường có tính cách tạm bợ. Chúng ta hãy tìm đến những thanh thản có tính cách cao quý hơn, chúng tôi muốn nói tới sự tu dưỡng tâm hồn có mang tính cách triết lý và đạo lý. Đó là Thiền.

Thiền (meditation) có thể hiểu là đem tâm hồn tìm đến tĩnh lặng để suy tưởng về đạo qua phương pháp hít thở thật sâu và chậm. Chữ đạo ở đây không nhất thiết phải là một tôn giáo nào, mà nên hiểu có khi chỉ là một khai lối đi đến sự vô vi thanh tịnh, đem tâm hồn thoát ra khỏi mọi phiền não và tham sân si của cuộc đời... Thời gian hành Thiền có thể nhiều ít tùy theo hoàn cảnh cá nhân của mỗi người, nhưng cần nhất là phải có sự kiên nhẫn, sự chú tâm và phải đều đặn hàng ngày.

Và nói đến Thiền là phải nói đến sự điều hòa hơi thở vì điêù hòa hơi thở là phương pháp hữu hiệu nhất chống lại sự âu lo (anxiety) và chống lại những áp lực về tinh thần (stress). Khi ta hoàn toàn chú tâm đến hơi thở, đến luồng khí vận hành trong cơ thể sao cho đúng cách, nghĩa là thở sâu, thở chậm và thở đều hòa trong tĩnh lặng thì chúng ta sẽ đương nhiên thoát ra khỏi những âu lo, những stress hay gọi chung là tạp niệm đang làm khổ chúng ta. Đương nhiên thoát khỏi tạp niệm ? Chắc có người sẽ hỏi làm sao đương nhiên được? Xin trả lời: được lắm chứ. Bởi vì một lẽ rất giản dị là tâm thức chúng ta chỉ có thể làm được “ một việc” trong “một lúc”. Tâm thức không thể làm được hai việc khác nhau trong cùng một lúc. Hãy nhớ lại những khi chúng ta lo lắng về nhiều chuyện chẳng hạn như công ăn việc làm, nhà cửa, xe cộ, thuế má, con cái..v..v, tâm hồn chúng ta chỉ nghĩ được một chuyện trong một lúc. Xong chuyện này rồi mới tới chuyện khác. Bởi vậy mới có câu “suy nghĩ miên man”. Trong Thiền cũng thế, nếu chúng ta hoàn toàn chỉ chú mục vào phương pháp thở và hoàn toàn theo dõi hơi thở trong lúc thiền, thì tâm thức sẽ không còn chỗ để bị xao động bởi những tạp niệm. Tâm thức lúc đó chỉ còn biết về hơi thở mà thôi. Điều cần nhấn mạnh là khi thở thì phải thở phải thở như thế nào? Chúng tôi xin mạn phép được đề cập đến phương pháp thở của Thái Cực Thiền mà tiêu biểu là Thái Cực Thiền Hội SharpsTown ở Houston TX, do Giáo Sư Nguyễn Cao Thanh sáng lập và giảng dạy với Quán Niệm hơi thở như sau:

- Đứng với hai bàn chân song song, rộng ngang vai, hai đầu gối chùng xuống, miệng ngậm, đầu lưỡi khẽ chạm vào hàm ếch trên, mắt nhắm lại.

- Giữ lưng thẳng, hai tay xuôi theo hai bắp vế với đầu ngón cái chạm đầu ngón tay giữa, lòng bàn tay hướng ra sau.

- Thở bằng bụng, khi hít vào thì thóp bụng vô và nhón hậu môn lên, khi thở ra thì phình bụng và nhả hậu môn.

Giải thích:

- Đầu lưỡi đụng hàm ếch trên là tim phổi liên hệ đến hung tuyến ( hung tuyến ở phía trên ngực, sau xương mỏ ác), cũng như đầu ngón tay cái chạm đầu ngón tay giữa là phổi liên hệ đến tâm bào.

- Thở bằng bụng là bắt chước theo Thai tức, bắt chước theo tiên thiên hô hấp của thai nhi trong bụng mẹ. Khi thở ra, phình bụng và nhả hậu môn là cho khí hậu-thiên ra ngoài, còn khí tiên-thiên thì giữ lại, cho chạy từ hoành cách mô xuống đến đan điền ( huyệt nằm chừng một inch dưới rốn), rồi tới vĩ lư là đốt xương cuối cùng của cột sống. Khi hít vào, thót bụng lại và khép hậu môn, là cho khí tiên-thiên đi trở lên hoành cách mô để hợp với khí hậu-thiên, thành khí Thái cực. Thai tức lâu năm thuần thục sẽ chuyển thành Qui tức, thở như rùa sống tới 150 tuổi.

Thở đúng phương pháp sẽ làm luân chuyển hai mạch Nhâm Đốc. (Trong những truyện võ hiệp của Kim Dung như Cô Gái Đồ long, Anh Hùng Xạ Điêu, Tiếu Ngạo Giang Hồ hay Lục Mạch Thần Kiếm v.v., người học võ muốn đạt đến trình độ nội công và võ công đến mức thượng thừa thì phải được đả thông hai mạch Nhâm Đốc, chẳng hạn như Vô Kỵ, Quách Tĩnh, Lệnh Hồ Xung, Đoàn Dự...).

Ngoài ra Thiền theo phương pháp Thái Cực gồm có 13 yếu quyết, trong đó yếu quyết đầu tiên và quan trọng nhất là “ An Thư Diện Mục” tức là nét mặt lúc nào cũng an vui thư thái, vì an vui thư thái biểu lộ:

a) một thân tâm an lạc giúp cho hung tuyến họat động hữu hiệu để cơ thể chống bệnh, b) một đức tin mãnh liệt khiến tuyến tùng quả ở sâu trong não tiết ra kích thích tố, tăng cường hệ thống miễn nhiễm, giảm mức nhũ toan trong máu.

c) một đức tính từ bi với trung tâm là hung tuyến, tiết ra chất thymosin, tạo nên bạch huyết cầu có thể phục hồi hệ thống miễn dịch nơi người mắc bệnh Aids.

d) một tinh thần vô úy, không sợ hãi, vì giải thoát khỏi lòng sợ hãi là sống vô bệnh, là sống khỏe, sống hạnh phúc và sống có trí tuệ. (Còn vấn đề sinh tử là luật của tạo hóa, con người không thay đổi được).

Tóm lại, khi chúng ta hành Thiền, chúng ta sẽ rũ sạch hết mọi xao động của cuộc sống ra khỏi tâm hồn, rũ sạch mọi tạp niệm để tâm hồn được thanh tịnh trong sáng. Phương pháp thở của Thái Cực Thiền sẽ làm an tĩnh hệ thần kinh, làm nhịp tim chậm lại và làm giảm huyết áp. Do đó một sự hành thiền lâu dài và thường xuyên sẽ giúp trị được rất nhiều bệnh, có thể kể như bệnh phong thấp, bệnh tiểu đường, bệnh đau bao tử, bệnh viêm khớp, viêm cuống phổi, bệnh hen suyễn, bệnh cao máu, cao cholesterol... và có thể ngay cả những bệnh về tâm thần như bệnh mất ngủ, mất trí nhớ, bệnh trầm cảm( depression)... .

Theo cuộc khảo cứu năm 1967 của Bác Sĩ Herbert Benson thuộc Đại Học Harvard trên 36 bệnh nhân có hành Thiền, thì Điện Não Đồ cho thấy cơ thể con người khi ngồi Thiền, não bộ sẽ phát ra những làn sóng Theta có tần số thật thấp với chu kỳ từ 4 hertz đến 8 hertz trong mỗi giây đồng hồ, đó chính là làn sóng thư giãn và an nghỉ của chúng ta nửa thức nửa ngủ. Người hành Thiền dùng 17 % khí Oxygene ít hơn lúc bình thường và nhịp tim giảm 3 nhịp mỗi phút. Do đó chúng ta sẽ không lấy làm lạ khi người đã hành thiền thường ban đêm không cần ngủ nhiều, lý do vì tâm hồn đã được nghỉ ngơi và thư giãn rồi. Tóm lại tất cả mọi hoạt động của cơ thể sẽ đều chậm lại, do đó các Stress hormones sẽ không tiết ra quá mức bình thường để trở thành độc tố có hại cho cơ thể khiến ta được khỏe mạnh và mau bình phục nếu có bệnh.

Vì vậy có thể nói Thiền đã hướng dẫn Tâm thức đến nơi vô vi thanh tịnh và an dung tự tại. Lợi ích quan trọng của Thiền có thể coi như hiển nhiên là Thiền sẽ giúp chúng ta tránh được Stress, mà tránh được Stress là tránh được nhiều bệnh tật để được sống vui sống khỏe, sống thanh tịnh và an nhiên. Sự tu tập Thiền Quán rất bao dung và rộng mở, không phân biệt tín ngưỡng của mỗi người chúng ta. Cho nên dù là người Công Giáo, người Phật Giáo hay người Hồi Giáo..v..v, nếu muốn an dưỡng tâm hồn, xin chúng ta hãy cứ đứng hay ngồi, rũ sạch tạp niệm, tập trung tư tưởng vào hơi thở , hàng ngày đều đặn như thế , rồi chúng ta sẽ sống yên vui, có sức khỏe, có hạnh phúc và có trí tuệ.

           

Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài (****)

Hai câu thơ của Nguyễn Du trong Đoạn Trường Tân Thanh đáng được để cho chúng ta suy ngẫm. Một lần nữa xin thưa là sau khi chúng ta đã có một ý niệm về Tâm Thức, và khi chúng ta thực sự muốn làm sao để sống vui, sống khỏe, sống có đạo đức và sống có trí tuệ, xin chúng ta hãy bỏ ra mỗi ngày ít nhất nửa giờ hay một tiếng đồng hồ để hành thiền với phương pháp hít thở của Thái Cực Thiền. Dĩ nhiên sự hành Thiền đúng nghĩa còn đòi hỏi nhiều điều sâu xa hơn, nhưng ở vào một mức độ bình thường, chúng ta chỉ cần cho tâm hồn lắng đọng, rũ sạch tạp niệm để rồi chú tâm điều hòa hơi thở và theo dõi hơi thở là tạm đủ rồi. Nếu chúng ta vì lý do nào đó mà ngại đứng hoặc không đứng được để thở như đã nói ở trên, chúng ta có thể tạm biến cải (xin được nhấn mạnh chữ “tạm”) bằng cách ngồi xuống theo thế kiết già Yoga, với hai bàn tay để ngửa trên hai đầu gối, và cần nhất, đầu ngón tay cái chạm phải đầu ngón tay giữa. Phương pháp hít thở này nếu được phối hợp với 108 thế Thái Cực Quyền, sẽ có những kết quả lớn lao và nhanh chóng hơn, có thể trị được rất nhiều bệnh kể cả những bệnh tâm thần như đã kể ở trên. Cần nhất là chúng ta phải tập đều đặn và tập kiên trì. Đức khiêm tốn và kiên nhẫn sẽ giúp chúng ta thành công.

Ghi chú:

( *) Lão Tử sinh cùng thời với Khổng Tử ở bên Trung Hoa, vào khoảng thế kỷ thứ sáu trước công nguyên. Một cách tổng quát, trong khi Đạo Khổng dạy con người trở thành Chính nhân và Thánh nhân thì Đạo Lão với thuyết Vô Vi Thanh Tịnh, dạy con người trở thành Chân nhân. ( Nhĩ Ngã là “ anh và tôi”, ý nói hai bản thể khác nhau.)

(**) Sách “Thái Thượng Tam Thi trung kinh” của Đạo Gia tức Đạo Giáo, vào khoảng thế kỷ thứ hai trước công nguyên, thờ Nguyên Thủy Thiên Tôn (hay Nguơn Thỉ Thiên Tôn)

(***) Canh Thân: là các năm âm lịch ngang với các năm dương lịch 60, 120, 240 và cứ tiếp tục như thế cho đến ....1920,1980,2040.

(****) Chữ “Tâm” trong hai câu thơ của Nguyễn Du mang ý nghĩa đạo đức như “lòng tốt” hay “hảo tâm”.

CVA Trần Ngọc,

Ngày cuối hạ Houston TX 2003

* **


Độc tài: Yếu tính của lãnh đạo

CVA Mạc Trần

lãnh vực văn thơ có người cho rằng, xét một bài thơ phải xét bốn khía cạnh: ý, tình, lời, điệu. Có người lại cho rằng, phải xét tới năm khía cạnh mới đủ: ý, tứ, tình, lời, điệu. Theo lối nói của Tây phương thì tứ chính là cái nghĩa ở giữa các dòng chữ. Còn theo ta thì tứ là nghĩa ẩn tàng trong ý, là điều tác giả muốn nói nhưng không nói thẳng mà ẩn dấu trong chữ, trong lời. Vậy tứ là sự chuyển hóa suy tư thành tình cảm... Tứ chính là tình tự đặc thù. Trong dân gian thường nôm na gọi người khéo ứng xử là người ý tứ. Nếu thế, tứ là điều cần yếu chẳng riêng gì của thơ, mà phải là của toàn bộ phạm trù văn.

            Ngôn ngữ, nói năng, chữ nghĩa là biểu trưng của nhân văn, và là qui ước tối quan trọng của tương giao con người. Vấn đề quá lớn nên cũng không thể tránh được những trục trặc trong tương quan giữa cá thể với toàn bộ mênh mông ấy. Trục trặc dễ thấy nhất là sự không hiểu nhau, dù trong cùng một ngôn ngữ. Sự mất cảm thông này, gây ra bởi nhiều duyên cớ. Có thể do chênh lệch trình độ kiến thức, khác biệt thành kiến, thói quen, và do ảnh hưởng môi sinh dị biệt...

            Thử lấy một thí dụ khá quảng bá trong xã hội là tiếng độc tài. Không hiểu tiếng độc tài phổ quát trong xã hội từ lúc nào; có lẽ từ thập niên 40 của thế kỉ trước (TK 20). Nói vậy, nhưng cũng không hoàn toàn xác định được thời gian. Tiếng độc tài đã bị người đời ghê sợ, và là chiêu bài hạ bệ nhau, cùng là mũ độc ‘’kim cô’’ chụp đâu là nguy đấy của những người hoạt động chính trị,và là đề tài nghiên cứu cùng mạt sát nhau của giới học hỏi. Cứ có ai đứng ra hô hào quần chúng để tranh đua với đối thủ thì đều gọi đối thủ của mình là độc tài, và như vậy là có sự hưởng ứng. Muốn hạ bệ người nào, hay tập đoàn cai trị nào, thì cứ gọi họ là độc tài là thấy việc tranh dành của mình có chính nghĩa ngay.

            Tiếng độc tài cho tới nay đã trở thành tiếng khủng khiếp, ai nghe thấy cũng lạnh người. Xỏ xiên ai, hận thù ai, muốn hạ bệ ai, muốn đả phá ai bất kể vì thứ gì, thì cứ chùm lên họ cái áo độc tài là mình dễ bề hành động. Thế rồi đảng phái, tổ chức thường lớn tiếng quả quyết là mình thực thi dân chủ và chống độc tài để kêu gọi ủng hộ. Theo như kiểu vận động đó, thì đã ngụ ý rằng độc tàidân chủ là hai tác hành xung khắc, đối chọi. Thế nhưng, thực tế độc tài với dân chủ chẳng những không xung khắc, đối chọi mà còn bổ túc cho nhau. Tuy vậy, khẩu hiệu ‘’chống độc tài’’, ‘’không độc tài’’ lại được mọi người thuận tai hơn. Sự kiện thuận tai này, một phần cũng gây ra bởi sự quen tai từ những vận động chính trị ngay lúc đầu của giới hoạt động. Những người này sai lạc vì sự hiểu lầm,và cũng có thể vì dụng ý. Thế nhưng thành kiến đó đã thành nếp của suy nghĩ trong đám đông.

            Tiếng độc tài là tiếng dễ gây ấn tượng khủng khiếp như áp bức, đè nén, bạo tàn... Nói chung là mọi ý niệm xấu đều được gợi ra để phủ lên tiếng độc tài. Nói tới dân chủ, dễ gây ấn tượng quyền hành cho lũ đông, êm ái và công bằng,làm mọi người dễ được thoả mãn mặc cảm quyền năng. Khi nói tới các hình thái điều hành xã hội, mà lồng vào đằng trước các hình thái đó ( một lối gọi thông thường khác về các hình thái điều hành xã hội là: thể chế) bằng tiếng độc tài thì dễ gây cho mọi người sự căm ghét. Chẳng hạn nói: độc Tài Phong Kiến, độc Tài Quân Chủ, độc Tài đảng Trị, độc Tài Pháp Trị, độc Tài Quân Phiệt ... thì các thể chế đó trở thành cực kì đáng ghét ngay. Thực ra, tự những thể chế này đã có những điều hay, điều dở, điều tệ hại, điều bạo tàn của nó, nhưng gắn tiếng độc tài vào thì nó chỉ dở, chỉ tệ chứ không thể có gì đáng thông cảm.

            Hình thái điều hành xã hội (thể chế), có vùng điều hành to hoặc nhỏ tùy thuộc vào tài năng lãnh đạo, và năng lực của thể chế. Cũng có ý kiến khác thêm vào khía cạnh năng lực, tài năng của lãnh đạo thể chế là số mệnh. Lối lí luận này cho rằng tài năng và năng lực chưa đủ để bành trướng chế độ mà cần phải có số mệnh. Và nói chung sự thịnh suy của một chế độ tùy thuộc vào vận số của nhân sự ở toàn vùng quản chế, và một phần cũng do vận số của chính chế độ, cùng vận số của người sáng lập, hoặc người điều lí thể chế. Tất nhiên, ý kiến này chưa nghiệm chứng bằng khoa học, mà mới chỉ thuần túy căn cứ vào các ràng buộc của những diễn biến lịch sử. Qua kinh nghiệm lịch sử, mỗi khi khởi nghiệp hay chung cuộc một thể chế, thì đều tắm nhuộm bằng máu và nước mắt. Có lẽ cái giá trao đổi của mọi biến chuyển lịch sử chỉ là xương máu. Máu xương là bản vị độc nhất để trả giá cho mỗi thể chế, mỗi biến chuyển lịch sử. Nếu cười là biểu trưng của nhân tính thì ‘’cười ra nước mắt’’ phải chăng là biểu hiệu của trường tồn.

            Với luận cứ của hầu hết giới hoạt động, và giới học hỏi ở vài thập niên vừa qua tới nay, thì khái niệm độc tài là khái niệm mang ấn tượng khủng bố,và đã trở nên tiếng đầu môi chót lưỡi của người đời dùng để chửi rủa thóa mạ nhau. Hay nói cho có vẻ thời thượng một cách khéo léo là ‘’chụp mũ’’ độc tài cho nhau. Trong ngôn ngữ chanh chua ngoa ngoét của thế tục thì độc tài được cụ thể bằng tiếng ‘’đồ’’, ‘’thằng’’, ‘’quân’’... như ‘’đồ độc tài’’, ’’thằng độc tài’’, ‘’quân độc tài’’... một cách rất khinh bỉ. Thế nhưng trên quan điểm sử, quan điểm như thị, quan điểm ngữ nghĩa thì vấn đề độc tài như thế nào?

            Trên khía cạnh ngữ nghĩa, độc tài là tiếng Việt mượn hai tiếng Hán Việt ‘’độc’’ và ‘’tài’’ ghép lại. Trong nghĩa Việt của tiếng ‘’độc’’ (lưu ý, tiếng này dù là tiếng Hán Việt cũng chỉ viết bằng chữ quốc ngữ, và không phải tìm cách viết bằng chữ Tàu theo một số quan niệm nô lệ. Thực tế, có rất nhiều tiếng Hán Việt chỉ dùng trong câu tiếng Việt, mà không có trong tiếng Tàu. Tất nhiên, những tiếng này không thể tìm thấy trong tự điển Tàu như, Từ Hải, Khang Hi, Thiều Chửu ... đấy là trường hợp nếu viết những tiếng đó bằng chữ Tàu. Bởi vì, tiếng Hán Việt sử dụng trong câu văn Việt được hiểu theo nghĩa Việt) (lại cần mở ngoặc thêm một lần nữa, vì rất nhiều người Việt Nam, chính mình đã tự đồng hóa với văn minh Trung Quốc, chính mình đã tự tiếp tục gây ra sự lầm tưởng rằng văn hóa Việt Nam chỉ là hệ luận của văn hóa Trung Quốc để cho Trung Quốc cứ coi Việt Nam như là một nước phụ dung, và khiến các nước khác ngộ nhận Việt Nam chỉ là một nước thần phục Trung Quốc.Thật đáng nhục nhã) được hiểu theo hai cách; ‘’độc’’ là nguy hiểm, có hại, ác, như các tiếng: độc ác, độc hại ... Và ‘’độc’’ chỉ là một, là duy nhất, là chuyên nhất, như các tiếng: độc nhất, độc hành... Trong tiếng độc tài, độc được hiểu theo nghĩa độc nhất, chuyên nhất. Tuy nhiên cũng có người dùng với nghĩa ‘’độc ác’’ để tỏ ra mình khéo chơi chữ, mà chửi xéo cái ‘’tài’’ của tiếng này. Nhưng đó không phải là cách dùng nghĩa chữ chánh đáng.

            Nếu hiểu độc tài là sử dụng, thực thi ‘’tài’’ một cách chuyên nhất, hay cũng có thể hiểu là chỉ có một cách thực hiện ‘’tài’’. Muốn chuyên nhất được tài, thì điều quan trọng là phải có tài. Vậy ‘’tài’’ được hiểu như thế nào. Tài là khả năng thực hiện, hay khả năng tác động, hoặc khả năng hoàn tất sự việc ... Trong cuộc sống, khả năng thực hiện bất cứ tác động gì đều gọi là tài; Như trong các tiếng kép tài năng, tài bồi, tài làm việc gì, hay tài thực hiện sự việc gì đó, như tài làm nhà, tài làm bếp...Trong tiếng độc tài, thì điều cần thiết để độc tài là phải có tài. Những tài cần thiết đó là những tài gì ?. để có thể độc tài, thì phải có đầy dủ ba tài (tam tài): Tài đức (Tài Năng và đức Hạnh), Tài Lực, Tài Chánh.

            Tài đức là Tài Năng và đức Hạnh. Tài Năng được hiểu là khả năng đặc biệt của cá nhân trong lãnh đạo. Tài năng cũng là khả năng điều hành, thuyết phục và lôi cuốn của lãnh tụ và của chánh sách. đức Hạnh: đức là đạo lí làm người, là điều thiện; Hạnh là phẩm hạnh, là nết na, là làm việc thiện, việc tốt.

            Tài Lực, quyền uy của lãnh tụ và tập thể lãnh đạo. Tài lực cũng là sự tuân phục quyền uy lãnh đạo, hoặc giả là uy lực phụ giúp của tập thể, hay lực lượng hỗ trợ. Cũng là khả năng gây dựng uy thế lãnh đạo trong tập thể quần chúng.

            Tài Chánh; Tài chánh là bản vị phát triển kinh tế để bồi dưỡng chế độ, và cũng là khả năng tạo lực bồi đắp kinh tài phát triển chế độ.

            Nôm na để gọi ba tài này trong yếu tố điều hành là Tài, Lực, Tiền. Vừa có như nền tảng phát động, và vừa là yếu tố gây dựng để bảo tồn sự chuyên nhất. Xem thế, như tiêu đề nêu ra, độc tài là yếu tính của lãnh đạo, thì hãy thử nhìn qua khía cạnh lãnh đạo xem độc tài được ý thức như thế nào?

            Nếu lãnh đạo được hiểu là điều lí, hướng dẫn, tiên liệu để đưa toàn bộ tiến tới, thì độc tài là yếu tố quan trọng để hoàn tất việc điều lí toàn bộ mà đạt mục đích tiến tới.Trong nghệ thuật lãnh đạo cũng đoan quyết rằng, không thể đa tạp lãnh đạo mà phải chuyên nhất. Vì điều trọng yếu là sự điều lí phải như một. Thử nhìn qua tiếng Anh, Pháp, thì độc tài là dictator, dictateur, với chữ của tác động là dictate, dicter, và chữ chỉ việc là dictation, dictée. Dictation, dictée ta chuyển ngữ là chính tả, hay ám tả. Với trường hợp này, viết chính tả chỉ có thể viết được với điều kiện có một lời đọc, chứ cả chục, cả trăm lời đọc khác nhau thì làm sao viết nổi. Người viết thì bao nhiêu cũng được, nhưng người đọc, câu đọc, bài đọc, lần đọc trước, lần đọc sau phải ‘’duy nhất’’(chuyên nhất, y như), không thể bát nháo, loạn nhào được. Từ ý nhỏ đó mà suy ra, độc tài chính là yếu tính của lãnh đạo vì nó mang độc nhất tính.

            Tuy vậy, cứ theo ngữ ý của tiếng Việt, thì lãnh đạo là sự hướng dẫn theo chiều tiến tới, cũng đã ngụ ý tính ‘’độc nhất’’ trong lãnh đạo. Nếu hướng dẫn bằng đầu đa tạp, hướng theo muôn ngả, thì có khác gì xé nát tập thể. để ví von cho rõ ý toàn cảnh nhiều đầu giằng kéo này, thì hình ảnh khủng khiếp ‘’tứ mã phanh thây’’(một hình phạt trong tội tử đời xưa) mà ví thì có khác chi. Cứ mà nhiều đầu hướng dẫn, tất sự thể sẽ hư nát. Dân ta đã kinh nghiệm bao ngàn năm cái tình huống nát bét này, đã xẩy ra ở mọi nơi, từ gia đình tới quốc gia xã hội. Mà đó cũng là lí do làm hư nát mọi sự việc của cuộc đời, nên đã tóm tắt vào lời dạy

                Lắm thầy thối ma

                 Lắm cha con khó lấy chồng

            Ma chay là sự tỏ bày lòng hiếu đễ, nhân nghĩa của người sống với người ‘’ra đi’’,và cũng là để đối với người sống (thân nhân người của ra đi). Theo vũ trụ quan của người Việt, sống là ‘’sinh thời’’,còn chết đi là ‘’sinh thì’’ vào cõi vĩnh cửu (thời=thì=lúc) (là lúc vượt cõi không để vào cõi vĩnh hằng). Ma chay là sự việc trang nghiêm và bi thương, thế mà có ‘’lắm thầy’’(lãnh đạo) cùng điều lí sự việc thì ‘’thây ma’’ chỉ đến sình thối chứ nào mà được tiễn đưa ‘’trang nghiêm, bi thiết’’.

            Đến việc thành thân, nên vợ nên chồng, là tác động nhân văn vĩ đại để gây dựng sự trường tồn vĩnh cửu của nhân loại, thế mà ‘’lắm cha’’(lãnh đạo) chỉ trỏ, hô hoán bắt phải theo thế này thế kia, thì việc dựng vợ gả chồng thành ảo tưởng, tất hẳn viễn tượng ‘’tuyệt chủng’’kề ngay đó.

            Chuyện nhân quần cục bộ thì như thế, tới lãnh vực xã hội, quốc gia, cái mà đời nay mấy người tranh giành lãnh đạo, và những người học hỏi lãnh vực này, cũng thường làm thầy dùi, vẫn hô hào vận động cho cái gọi là ‘’nhiều thầy’’ ‘’lắm cha’’ (chống độc tài) .Có nghĩa là đề cao ‘’đa tài’’. Nhưng rồi, các ‘’tài’’ này khi được ‘’đa tài’’ thì chẳng ‘’tài’’ nào nhận ‘’tài’’ kia là ‘’tài’’, mà chỉ mình là ‘’tài’’. Tới lúc đó không hiểu hồn ma ‘’độc tài’’ mà quý vị ‘’đa tài’’ đã ra sức giết, có lại hiển hiện để ‘’điều lí’’ không?

            Trong cuộc đời có những chuyện trớ trêu, mới đầu cứ tưởng nói vậy cho xong, thế mà thành ‘’thói’’, đến nỗi cái sai quấy lại thành lệ. Rồi khi nói cho đúng với ý ‘’thực’’ lại bị ‘’thói quen’’của người đời bác bỏ. Có học gỉa Tàu viết về các tệ trạng của chế độ quân chủ ở Trung Hoa với ý trách các ‘’thánh’’ triết (các học giả Tàu đời xưa) của họ là đã không phản đối những ‘’tệ trạng’’ đó mà còn a tòng ca ngợi, đến mức thần thánh hoá những hành động ‘’dâm ác’’ của các tên ‘’dâm tặc’’ bằng kinh điển (sách Lễ Kí) (các vua Tàu, theo kinh điển, mỗi vua có 120 vợ. Đời Chu và Đường, mỗi vua có 3000 vợ).

            Các dân tộc khác thì không rành, vả lại cũng là chuyện của người ta, nhưng ở người Việt mới là điều phải nói. Cái tệ đó là trong học giới, nhiều người đã tốn công, mòn quần nơi trường ốc, tốn phấn, mòn bảng nơi học viện để rồi lại về phe với các người vì tranh giành bả vinh hoa mà tạo ra ngụy ngữ, ngụy ngôn khiến người đời sinh ra phân vân mỗi khi dùng tiếng nào đó. ởđây, nói gần thì như tiếng ‘’độc tài’’.

            Điều con người phải chống không phải là độc tài, vì đấy là yếu tính của lãnh đạo. Còn nhân quần, còn đoàn thể, còn xã hội, còn quốc gia, còn thế giới thì phải còn ‘’lãnh đạo’’. Như vậy chống ‘’độc tài’’ có khác chi chống ‘’lãnh đạo’’. Có khác chi cổ động cho ‘’hỗn mang’’. Cái điều con người phải chống, phải tiêu diệt là lãnh đạo ‘’bạo tàn’’ ‘’bạo ngược’’ ‘’bạo quyền’’ ‘’bạo chính’’ ‘’bạo lực’’ ‘’độc đoán’’.. Ví dụ, cụ thể như nhân loại chống Cộng Sản vì chúng là bạo quyền, hành động chuyên chính bạo tàn. Chúng là mục tiêu phải diệt trừ để giải cứu con người.

            Đời xưa, ở thời phong kiến, quân chủ mà sách vở còn để lại thì không thấy việc chống các thể chế đó, mà chỉ chống các tên hôn quân, bạo chúa. Chẳng hạn như ở Tàu, Mạnh Tử khuyên bảo mọi người rằng ‘’Quân hữu đại quá tắc gián, phản phục chi nhi bất chính tài dịch vị’’ có nghĩa là ‘’vua sai lầm thì can gián, nếu tiếp tục sai lầm (hôn quân) thì truất ngôi đi’’.

            Thời nào cũng vậy, thể chế chỉ là hình thái phô diễn mối tương quan giữa lãnh đạo và quần chúng. Vậy thể chế là cái vỏ của tác động chính trị, ví như y phục của người ta. Y phục thay đổi tùy thời. Y phục thay đổi kiểu này,kiểu khác chỉ là tùy ý, tùy thích, tùy hoàn cảnh... của con người. Còn nền tảng là thân thể người ta vẫn phải như nhất,liền lặn ‘’đầu, mình và chân tay’’, bộ phận nào, trách vụ đó. Dân gian ta vẫn thường nói ‘’y phục xứng kì đức’’ là vậy.

            Về chuyện ‘’dân chủ và lãnh đạo’’, thì có câu chuyện nhỏ hay hay. Tại phòng ăn trưa của một cơ sở vùng Bắc Mĩ có yết một câu chuyện phiếm. ‘’Một ngày kia, các bộ phận trong cơ thể vì ghen tức với vai trò lãnh đạo của cái đầu, bèn cùng nhau kéo lên thiên đình khiếu nại với trời. Các bộ phận lần lượt trình bầy về phần vụ của mình. Bộ phận nào cũng cho rằng chỉ mình mới đáng ở vai lãnh đạo. Thế là tranh cãi ỏm tỏi, trời thì phân vân không biết quyết định ra sao. Sau cùng hậu môn đưa ra điều kiện cuối để tranh vai lãnh đạo, là nếu không cho hậu môn vai lãnh đạo thì sẽ đình công, không làm việc nữa. Sau khi bàn cãi suy tính gần xa, các bộ phận thấy quả là tối nguy hiểm, nên đồng ý để hậu môn làm lãnh tụ’’

            Câu chuyện có ngụ ý rất gần là đa số cấp lãnh đạo đều ‘’thối’’lắm, thế nhưng lại rất cần. Vì hậu môn ‘’đình công’’ vài ngày thì chỉ có chết. Lãnh đạo, dù ‘’thối tha’’, mà thiếu vài ngày là tập thể nát ngay. Câu chuyện lại muốn nói, thứ lãnh đạo chỉ giỏi hành người, chứ mình thì đã ở ‘’thấp’’ lại ‘’nặng mùi’’mà thích làm ‘’le’’. Suy rộng hơn, đó chính là thứ lãnh đạo bạo tàn, hôn quân, bạo chúa ...chắc chắn phải tẩy bỏ cho sạch, loại trừ cho dứt để trả trách vụ lãnh đạo cho cái ‘’đầu’’ trong sáng, minh mẫn. Lãnh đạo mà hôn mê, bạo ngược thì có khác gì ‘’lãnh tụ’’ trong câu chuyện nhỏ này. Cái điều oái oăm đáng nói nữa là, vận động tranh giành thì ngoa ngôn xằng bậy cũng là thường, nhưng người nghiên cứu tinh tường mà phụ theo cái sự ngoa ngoét lầm lẫn để tranh giành quyền vị, mà lớn tiếng cho rằng độc tàidân chủ xung khắc nhau mới là lạ lùng.

            Độc tài là thực thi nghiêm chỉnh những gì ‘’dân chủ’’ quyết định. Như vậy ‘’độc tài’’ và ‘’dân chủ’’ là thuận, là hỗ tương mật thiết chứ đâu là xung khắc. ‘’Dân chủ’’ với ý là quyền của thiên hạ, quyền của tập thể, là công thể. Cụ thể là thắng thế của đa số. Nghĩa này đưa đến hệ luận đại biểu, đại nghị. Như thế có nghĩa là, ai được sự thỏa thuận của thiên hạ (đa số) sẽ là lãnh tụ để điều lí sự việc chung. Sự thỏa thuận của tập thể có nhiều hình thức. Các hình thức này thay đổi theo tiến trình lịch sử của con người. Nói một cách khác, các hình thái lãnh đạo tùy thuộc vào tiến trình thăng hoa trí năng của loài người. Tuy vậy, sự thỏa thuận của tập thể để lập lãnh tụ là tác động có từ muôn thủa.

            Nước Tàu, láng giềng phương bắc của nước ta, hai nước giao thiệp từ khá lâu đời. Trong mối giao thiệp này có lúc hay lúc dở, nhưng ảnh hưởng của nhau thì khá phong phú, nên lấy lời của Khổng Tử, bậc thầy của nước Tàu từ thời Xuân Thu làm ý dẫn. Khổng Tử nói ‘’thiên hạ vi công’’ có nghĩa thiên hạ là của chung mọi người.ởbên ta thì có câu:

đời muôn sự của chung

Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi

            Chung, nghĩa là công, là thiên hạ. Hơn nhau chính là sự anh hùng, là việc được thiên hạ.

            Như vậy, lãnh tụ là người có thiên hạ. Vai lãnh tụ chính là do thiên hạ (quần chúng) đề bạt. Không có thiên hạ thì ‘’lãnh tụ’’ chỉ là lãnh đạo ‘’trỏng’’ (trống không). Xem thế, nếu không có thiên hạ thuận với mình thì chẳng là anh hùng, chẳng là lãnh tụ gì cả. Thế rồi, ở ngôi lãnh tụ mà điều lí sự việc không nghiêm, lãnh đạo không chính, tiên liệu không sáng suốt thì rơi vào cảnh ngộ mê muội, hôn áp, bạo tàn, thời phải truất đi, phải diệt bỏ mới đúng lẽ thăng tiến của nhân văn. để hiểu cho tận lí, thì công thể, quần chúng, thiên hạ chỉ quyết diệt bỏ sự bạo tàn, hôn áp, độc đoán chứ không diệt bỏ lãnh đạo.

            Độc tài là thi hành nghiêm chỉnh luật tắc thăng tiến nhân văn cho nhân quần. Thế nhưng cứ thường bị hiểu sang nghĩa độc đoán, ngoan cố, vị kỉ cực đoan... với toàn ý xấu. Mà đúng thế, các tính đó thì chẳng tốt tí nào, nhưng không thể gắn chúng vào làm nghĩa cho tiếng độc tài được.

            Độc tài là chuyên giữ tài năng, bành trướng tài lực, và phát triển tài chánh thì hay lắm chứ, xấu xa gì mà phải căm ghét, chống đối, hủy diệt. Hình thái điều lí nào cũng cần tuyên thủ độc tài, nếu không thì nát bét. Hình thái điều lí thì tùy thời, tùy lúc, nhưng cứ cố giữ ‘’tài’’ cho nghiêm minh thì mới ổn định dược xã hội. Thí dụ, trong thể chế pháp trị (nội dung của dân chủ), pháp luật là quy ước của tập thể. Nếu quy ước mà không tuyên thủ độc tài, thì pháp luật còn gì là quy ước nghiêm minh nữa, thể tất xã hội nháo loạn bất ổn ngay.

            Cũng có câu chuyện nhỏ về dân chủ, mang ý nghĩa là ‘’quyết định’’ của tập thể rất quan trọng. Chuyện kể rằng, một thành phố kia sau nhiều đời Thị Trưởng, nhưng nguyện vọng của dân vẫn chẳng được thi hành thỏa đáng. Vi lẽ đó, dân trong thị xã đồng ý chỉ bầu cho người nào vào chức Thị Trưởng với điều kiện người này phải có tài làm mưa làm nắng theo ý dân. Khó như vậy mà cũng có một vị đắc cử, vì vị này đã quyết hứa sẽ làm mưa, làm nắng theo đúng đòi hỏi của tập thể. Dân trong thị xã có nhiều nhóm, nhiều ngành nghề khác nhau. Tùy ngành nghề và tùy giai tầng sinh hoạt, nên nhu cầu cũng khác nhau, mặc dù chỉ đơn giản mưa, hay nắng. Nên mỗi lần họp bàn để quyết định đòi viên Thị Trưởng phải làm mưa hay nắng, là tranh cãi ỏm tỏi vô cùng gay go. Có nhóm muốn làm mưa để việc nông tang, cầy cấy thuận lợi. Có nhóm lại muốn có nắng để di chuyển làm lụng được khô ráo. Có nhóm muốn mưa ngày nắng đêm để việc làm trong nhà được mát mẻ tiện lợi. Có nhóm muốn nắng ngày mưa đêm để tổ chức đi chơi ngoài trời cho quy mô sảng khoái. Có nhóm chỉ muốn mưa vài phút lúc đêm tàn còn nắng chang chang suốt ngày để việc cắm trại được vui trọn vẹn,... Cứ thế các nhóm tranh cãi ỏm tỏi, lợi ích của nhóm nào cũng trên hết, nên hết ngày này qua ngày khác không đưa đến biểu quyết nào cả. Vì thế trong suốt nhiệm kì, vị Thị Trưởng không có cơ hội để làm mưa hay nắng. Thế là, trời đất cứ mưa nắng theo tự nhiên.

            Ý nghĩa câu chuyện, để tùy quý vị.

            Như đã nói ở trên, độc tàidân chủ (cụ thể là ý nguyện của toàn dân, của tập thể căn cứ theo đa số) không những chẳng xung khắc mà còn hỗ tương cho nhau. điều này cần phải được minh chứng. Trươc khi lấy các sự kiện kịch sử để minh chứng điều đó, cũng thử bàn qua về khái niệm dân chủ.

            Sách vở cũng đã viết rất nhiều về vấn đề này. Qua sách vở quảng bá và hướng dẫn, khiến quần chúng nghĩ rằng khái niệm dân chủ chỉ mới có từ cuối thế kỉ 18 ở Tây âu và Bắc Mĩ. Còn chớm nở của khái niệm này thì từ Anh Cát Lợi (England) với cách mạng 1679. Rồi ấn tích loé rạng khác của dân chủ là cách mạng 1787 ở Mĩ vào thế kỉ 19, và lừng lẫy là cách mạng 1789 ở Pháp ( cách mạng này đặc biệt lừng lẫy đối với hầu hết trí thức Việt Nam - vì đất Việt đã có lúc bị giặc Pháp xâm chiếm hơn 80 năm,1884-1945). Rồi ngày nay, khái niệm dân chủ đã vô cùng phổ quát, và đã trở nên lí tưởng đấu tranh ở khắp mọi nơi. Thế nhưng sự đời thường là thiên hình vạn trạng, ‘’dân chủ’’cũng vậy. Tiếng gọi là thế, nhưng hành sử lại ‘’trăm khoanh, nghìn khóe’’ khác nhau. Sự khác biệt có thể vì lòng người điều lí khác nhau , có thể vì tình huống dân gian khác biệt ... Mà nói cho cùng, ở lãnh vực nhân văn thì làm gì có tuyệt đối, hoặc bất biến. Vì sự việc mà tuyệt đối cả, thì mọi sự chết cứng, chứ làm sao mà dịch biến, thăng hoa cho được. Dân chủ ở khắp nơi đều khác biệt. Có nơi tạm tốt, có nơi chưa tốt, nhưng tựu trung đều cố tiến trên đại lộ dân chủ cả. Tuy vậy, thói thường tự cao tự đại, nên chỉ thấy kiểu dân chủ của mình là nhất. Cũng với tâm lí đó, và sự vượt thắng kĩ thuật của Tây phương, mà mọi người phải nghĩ là dân chủ phát xuất ở phương Tây. Từ thế kỉ 19, Tây phương phát triển mạnh, và bành trướng thế lực khắp nơi trên thế giới, do đó mọi người tuyên dương là thể chế dân chủ khởi phát từ Tây phương. Thế nhưng, trầm ngâm một chút, rồi lục xem các cổ thư thì nhận định ấy phải xét lại.

            Chẳng cần xa xôi cho lắm, mới chỉ đọc vài cuốn sách xưa của người láng giềng phương bắc, cũng đã thấy khái niệm dân chủ được đề cao từ lâu lắm. Từ những năm tháng trước Dương Lịch, ở thời Xuân Thu Chiến Quốc của Tàu, các thánh triết của Trung Hoa đã tuyên dương vai trò và quyền hành của người dân lớn lao vô cùng. Lớn tới độ có thể truất bỏ ngôi lãnh đạo. Mạnh Kha đã có lần lớn tiếng cảnh cáo giới lãnh đạo rằng: ‘’Dân vi qúy, xã tắc tứ chi, quân vi khinh’’ (Dân là qúi nhất, đất nước thứ yếu, lãnh đạo - vua - là thứ thường). Tuy nhiên những điều này chỉ có trong sách vở mà thôi. Rồi ở nước Việt, ý niệm dân chủ còn tích cực hơn thế nhiều. Ngay từ xa xưa ngôi lãnh tụ được tôn trọng và đề cao tới tột cùng nên được gọi là con trời (thiên tử). Ngôi trời là ngôi điều lí vũ trụ, còn con trời điều lí trái đất này. Thế nhưng trong quan niệm của dân Việt, cái vai vị cực kì lớn lao làm chủ cái địa diện này, ngang vai với cả trời chính là người dân. Chẳng thế mà vẫn được tuyên bố là: Ý dân là ý trời. Rõ rằng dân ngang với trời. Ý dân phát biểu ra thì quan trọng lắm như lời thần thánh phán vậy. Dân nói như thần nói. Lãnh tụ mới chỉ là con trời, chứ dân mới là trời. Ý này đã cực tả được vai vị làm chủ của người dân.

            Ở nhiều cảnh ngộ, nhiều tình huống của nhiều chế độ (hình thái lãnh đạo xã hội) người dân phải chịu trăm cay nghìn đắng thật là tội nghiệp. Tuy vậy cũng chỉ là đoản kì. Hoàn cảnh đó là những thử thách về ý thức quyền hành của người dân.Nếu người dân ý thức kịp thời và tích cực sử dụng quyền của mình thì mới sớm thay đổi được vận mạng. Trầm luân lâu hay mau, khóc than nhiều hay ít chính là do tình huống đó.

            Trở lại với ý niệm độc tài của khía cạnh lãnh đạo, thì lãnh đạo mà không độc tài, tập thể tất sẽ bị lâm nguy. Nhưng lãnh đạo biết sáng suốt tích cực độc tài thì tập thể hưng thịnh. Gương xưa còn đầy trong sách vở. Nếu vua Trần Nhân Tông (1287) không độc tài tuân hành ý nguyện ‘’Quyết chiến’’ của hội nghị Diên Hồng thì biên vực tung hoành của Mông Cổ chẳng chịu ngừng tại ải bắc của nước ta, để chịu luẩn quẩn trong lãnh địa nước Tàu mà thôi. Nếu đức Lê Lợi (1427) không cương quyết độc tài thực hiện ý chí độc lập của toàn dân, thì giặc Minh nào chịu chui lủi trốn về Tàu. Nếu Hoàng Đế Quang Trung (1789) không độc tài thể hiện ý chí đấu tranh của dân Việt, thì lẽ nào giặc Thanh, quân-tướng không kịp giáp trụ, ngựa chẳng kịp yên cương đã vội đạp lên nhau mà chay về Trung Nguyên [đất của những người (Trung Hoa) sống trên thảo nguyên (cũng gọi là Trung Quốc)]...

            Nhắc tới những oai phong lẫm liệt đó của tiền nhân, lại chợt nghĩ tới chuyện hậu thế. Có những kẻ mang tính xấu, vốn đã bất tài, nhưng nặng lòng thèm khát tiếng tăm, nên đã dám hạ bút viết càn về những sự kiện, và những nhân vật kiệt liệt trong lịch sử, hay những tác phẩm của những người có tài, khiến người ta phân vân mỗi khi giở những trang sử của đất nước, hoặc đọc những tác phẩm lừng danh của dân tộc. Không hiểu, chúng bôi bác mạ lị tiền nhân thì ích lợi gì cho đất nước, nhưng chắc chắn chúng được tiếng là đồ vô lại bất hiếu. Sự ti tiện vô liêm sỉ ở đời là không biết tự ‘’đấm ngực’’ mình, mà lại đòi ‘’đấm ngực’’ tổ tiên. Thật là bất tường, đúng là lũ trùng kí sinh vô trách nhiệm. Mà cũng thực bực mình, vì vẫn có kẻ vỗ tay cổ võ chúng.

            Trở lại phần trên,thì tóm tắt như thế này: dân chủ là quyền năng của người dân. Còn dùng tới hay không, hoặc biết dùng hay không biết dùng lại là chuyện tùy thuộc vào trí năng, tình huống suy tưởng, và ý thức quyền hành của người dân. ‘’Nhân quyền, dân quyền’’ là đương nhiên của con người, của nhân quần, không phải là quyền được trao bởi lãnh đạo, hay bất cứ năng lực nào cả. Mà đúng ra, nhân quần trao quyền cho lãnh đạo. Phương cách trao quyền thì vô cùng linh động, thiên hình vạn trạng, bằng một thế cách nào đó.

            Như tiêu đề đã đặt ‘’Độc Tài Là Yếu Tính Của Lãnh Đạo’’, mà cũng đã đề quyết như thế, để lãnh đạo thực thi ý nguyện của tập thể,và hướng dẫn tập thể thăng tiến. Tương quan giữa độc tàidân chủ là tương quan hỗ tương. Đối thủ của dân chủbạo ngược, là lãnh tụ bạo tàn, là ‘’hôn quân, bạo chúa’’. Đó mới thực là mục tiêu mà dân chủ phải tiêu diệt.

            Tiêu diệt tham tàn, trừ bỏ lãnh đạo bạo ngược là tiến trình thăng hoa của nhân văn, là tiến trình tính người thắng tính thú. Vì sự bạo ngược chính là thú tính. Ở khía cạnh này, vị kỉ là trọng tâm của tác động làm mù tối mọi hình ảnh bình đẳng xung quanh. Bạo tàn là chỉ vì mình, bất kể thiệt hại, buồn thảm, chết chóc của tương quan xung quanh. Đặc tính đó là bản năng thú vật. Hay một cách rõ hơn, bạo ngược chính là thể cách thú vât hiện hữu trong thế giơi loài người.

            Kẻ cầm quyền, chỉ cốt thỏa mãn cho mình mà tìm mọi mánh khóe dù lưu manh, bất nhân, tàn ác tới đâu cũng dám thực hiện như cung cách một ác thú,thì đấy là bạo quyền. Đó chính là đối tượng người dân phải tiêu diệt, loại trừ. Còn thực thi đường lối thỏa ý nguyện thăng tiến tốt lành của dân, của tập thể một cách nghiêm chỉnh ngay ngắn thì đáng quí lắm. Có nghĩa là phải độc tài chấp hành ý nguyện của dân chúng. Xét ra, kịch liệt lên án độc tài mà độc tài vẫn đấy là vì cái ý nghĩa của hành động đả kích không ổn, và đối tượng bị kết án không chuẩn đích. Lẽ ra, đối tượng phải tiêu diệt chính là lũ ác thú cầm quyền bạo tàn, bạo lực. Thế nhưng, thật oái oăm tiếng độc tài vẫn bị các người tranh giành quyền vị, và người đời vẫn cứ nhập nhằng khoác vào nghĩa xấu. Sự việc xẩy ra như vậy bởi vì nhiều lí do, nhưng thử đơn giản vài nét lớn của các nguyên uẩn ấy.

            Gọi người cầm quyền hay người khác là độc tài vì do tự lòng ganh ghét mà nên. Những việc người cầm quyền hay người khác nghiêm chỉnh cứng rắn thực hiện điều ước chung đều bị coi là đáng ghét và phải bôi xấu. Điều xấu xa dễ gán nhất là độc tài. Bởi chưng, nghĩa của độc tài thật vu vơ, nhưng vốn bị gắn với ấn tượng không tốt.

            Chỉ vì muốn tranh giành quyền vị, mà lại bất tài, bất lực nhưng lòng vị kỉ thật cao, nên phải tạo cho đối thủ một hình ảnh tồi tệ; Dễ dàng nhất và dễ gây ảnh hưởng đối vời quần chúng, nhất là những người vốn có mặc cảm tự ti nhược tiểu, một ý niệm xấu về người có quyền vị bằng cách gán tiếng độc tài cho họ.

            Như trên đã đề cập tới, giới lãnh đạo vốn chẳng có người toàn hảo, không những thế, thành phần tệ hại lại quá nhiều. Mà theo lẽ tự nhiên của qui trình thăng hoa, thì quần chúng phải hủy bỏ, diệt trừ những xấu xa đó để kiện toàn xã hội. Nhưng công tác đó không thể hàm hồ vu vơ bôi nhọ tất cả bằng tiếng ‘’độc tài’’. Những tội lớn của lãnh đạo như: bạo ngược, bất nhân, tham nhũng,độc đoán, dâm loạn bỉ ổi, cung cách ‘’dâm tặc’’vua chúa như sách sử đã ghi. Chẳng hạn như ở bên Tàu, mỗi vua, theo kinh điển của các thánh triết Trung Hoa quy lập, có tới 120 vợ. Có thời, nhiều tên ‘’dâm tặc’’(tiếng của nhà bỉnh bút Bá Dương-Đài Loan- gọi bọn loạn dâm này) có tới 3000 vợ. Hay như những tên cầm quyền bạo ngược của nhiều thể chế, ngay ở thời này, trong cả hình thái mới nhất là dân chủ, bọn tệ hại này khi thì lộ liễu, khi thì ngụy trang bằng kiểu ‘’đơn hôn liên tục’’(serial monogami) để thoả mãn dâm dục. Tệ hơn nữa, là ở thời buổi này, có những tập thể ‘’mê tín dị đoan’’ đã lập qui thành ‘’đạo’’ cho lũ đàn ông dâm dục được quyền có 4 vợ, và coi đàn bà chỉ là đối tượng tình dục một cách độc ác. Chúng độc ác vì quá ích kỉ, và bỉ ổi tới mức hủy bỏ các cơ phận cảm khoái của phụ nữ, để họ phải chịu mất khoái cảm thiên chức. Có những nơi, lũ tàn ngược đã thỏa mãn trên sự khốn cực của người khác. Chống đối đi, lớn tiếng kết án đi nếu đủ dũng khí. Trừng trị đi, hủy diệt đi nếu đủ can đảm. Nhưng không hiểu trí năng của con người đời nay đã tới trình độ đủ can đảm, đủ dũng lực vượt thắng thú tính chưa? Những thứ khốn kiếp tàn độc đó không phải là độc tài đâu. Những thứ đó là tội phạm của nhân loại, là tính thú vật cản đường thăng tiến của nhân văn.

            Lại thêm duyên do nữa là ‘’thị dục huyến ngã’’. Vì thèm có tiếng tăm, thèm được đời biết tới, mà mình thì ngu dốt, bất tài, bất lực, nên tìm cách này, cách nọ để phá đám, gây rối cho thỏa lòng đố kị bằng cách chụp mũ độc tài cho đối tượng. Mũ độc tài là cái hình ảnh dễ được mọi người thỏa thuận. Còn nêu lên những tội ác tầy đình như đã kể trên, thì phải có bằng cớ phân minh, thứ này khó kiếm lắm, mà lại chẳng dễ gì có đồng minh,mà còn dễ bị lũ bạo ngược đầy đọa, giết chóc. Ở thế giới tự do thì việc loạn ngôn chỉ bị người đời khinh bỉ quay đi, chứ ngày xưa ở vào đời nhà Tần 221-207 của Tàu thì lôi thôi to, vì Thương Ưởng đặt luật ‘’vu cáo phản toạ’’ nghĩa là vu cho ai tội gì thì sẽ bị xử phạt tội đó. Điều luật này cốt răn đe bọn loạn ngôn... Không hiểu đời nay, loạn ngôn có là một quyền trong ‘’tư do ngôn luận’’ không? Chứ dân gian ta cho là đáng khinh lắm, nên đã khuyên rằng:

Không cho nói thì mếu, cho nói thì khóc

            Có thể ‘’nói’’ đây, ngụ ý là loạn ngôn, vu khống, mà văn hoá ta coi là tội, phải trừng phạt, nên mới khóc chứ. Lối nói bừa bãi, loạn ngôn của lũ tham quan bạo quyền gây hại cho người đời thì thật là tệ hại thối tha lắm, nên dân ta mới nói: Miệng quan trôn trẻ.

            Tới đây, có lẽ cũng tạm đủ để tóm lại rằng, kẻ thù của dân chủbọn lãnh đạo bạo ngược, bất nhân, tham tàn, dâm loạn, độc đoán, lũ này phải hủy diệt cho bằng tuyệt. Còn độc tài là yếu tính của lãnh đạo để thực thi ý nguyện dân chúng một cách nghiêm chỉnh mà tạo thăng tiến cho nhân quần xã hội. Cho nên, mong rằng người đời nhận diện được ‘’kẻ thù của nhân văn’’ và tránh được nhầm lẫn giữa sự ‘’nghiêm chỉnh thăng tiến’’ với ‘’kìm kẹp bất nhân’’.

            Thật mong thay.

MC TRẦN(CVA Phạm Quân Khanh,Ottawa, Canada)

* * *


Ông bình vôi, đáng thương hay đáng trách?

CVA Vị Chung

Vào chuyện: Tại miền Bắc Việt nam, trước đây đa số đàn bà và kể cả đàn ông đều ăn trầu nên nhà nào cũng có 1 bình đựng vôi. Bình vôi chứa vôi ăn trầu, khi vôi đã được quết vào lá trầu mà còn dư, người ta thường quết trả lại miệng bình. Vì vậy miệng bình vôi càng ngày càng nhỏ lại trong khi trong bình lại càng ngày càng rỗng. Người dân quê đã thần thánh hóa bình vôi nên gọi là Ông Bình Vôi và người ta còn đặt ông bình vôi vào nơi thờ tự

            Như đã nói ở trên, miệng bình vôi càng ngày càng bị bít lại, cho tới ngày nào đó, miệng bị bít hoàn toàn và bình vôi trở nên vô tích sự. Vì thế mà nhà văn Phan Khôi trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm ở miền Bắc đã có lần ví các nhà lãnh đạo miền Bắc như các ông bình vôi” Càng sống lâu lại càng tồi. Vì sự châm biếm nặng nề này mà cụ Phan đã bị giới cầm quyền ở miền Bắc vùi dập cho tới khi cụ qua đời.

Câu chuyện dưới đây xẩy ra vào khoảng năm 1984, 1985

Cứ vào những ngày năm cùng tháng tận, Thư hay ngồi một mình hồi tưởng lại những diễn biến trong qúa khứ mà chính nàng đã trải qua hay chứng kiến từ những người xung quanh. Năm nay nàng đã mất khá nhiều thời gian để suy nghĩ về ông Đô, cha nàng mà nàng chỉ được biết mặt sau năm 1975, lúc nàng đã trưởng thành và đã có 2 con.

Ông Đô năm 1954 là một giáo sư dậy Trung học ở Hà nội, cũng như một số các thanh niên thời bấy giờ, ông đã thoát ly gia đình, lao mình vào cuộc kháng chiến chống Pháp. Rất nhiều thanh niên cũng hành động như ông nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, họ đã nhìn thấy bộ mặt thực của Việt Minh, nhất là sau vụ Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc nên họ đã rời bỏ hàng ngũ kháng chiến và trở về Hà nội và sau cùng đã di cư vào Nam tránh cuộc sống tồi tệ của chính phủ Hồ chí Minh. Riêng ông Đô lúc bấy giờ vẫn chưa nhìn ra bộ mặt thật của nhóm lãnh đạo miền Bắc, từ vùng kháng chiến, ông ra Hà nội và có ý định bắt vợ và 2 con ở lại, không cho gia đình cùng một số bà con theo vào Nam thở hít không khí tự do, dưới sự che chở của chính phủ Quốc gia. Lúc bấy giờ, Thư mới 4 tuổi và em nàng thì mới lên 2, chị em nàng chỉ ngơ ngác nhìn cha mẹ tranh luận, bà thì nhất định ra đi, dù phải bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, mồ mả tổ tiên vì bà đã có kinh nghiệm sau mấy năm sống trong vùng Việt Minh, còn ông thì vẫn còn hăng say với những hoa ngữ độc lập, tự do, quê hương, xứ sở và bài bác miền Nam, nơi xứ lạ quê người.

Mẹ Thư nhất quyết ra đi cùng 2 con nhỏ sau khi đã hết lời năn nỉ, khóc lóc để mong chồng cùng vợ con tìm tự do nhưng thất bại trước sự cố chấp của chồng. Cuối cùng ông Đô đã ôm 2 chị em Thư từ biệt và răn đe bà Đô: “Tôi đã làm tất cả những gì có thể làm được để giúp vợ con tìm “con đường sáng”, nhưng bà đã “u mê” như thế thì bà phải gánh chịu lấy trách nhiệm sau này, nhất là đối với tương lai của 2 đứa nhỏ”.

Mẹ Thư quyết liệt hơn: “Hai bàn tay tôi còn khỏe mạnh, nhất là cái đầu tôi còn sáng suốt thì tôi sẽ nuôi nổi 2 đứa con tôi như từ trước đến giờ ông yên tâm, ông cứ thoải mái với cái lý tưởng hão huyền của ông.” Và bà đã dứt khoát với người chồng đang bị lú lấp với mớ lý thuyết cuồng vọng ngoại lai.

Hơn 20 năm sau, sau biến cố 1975, ông Đô từ miền Bắc vào Sàigon tìm gặp lại vợ con, bà Đô rất ngạc nhiên khi không thấy ông đả động gì tới luận điệu năm xưa, ông tỏ ra mừng rỡ khi được gặp lại gia đình. Ông ca ngợi và hãnh diện về người vợ đã nuôi 2 đứa con thành tài trong khi ông không giúp gì được cho người thân, ông không nói ra nhưng thầm nghĩ, nếu năm 1954 mà ông giữ vợ và 2 đứa con ở lại ngoài Bắc thì không biết tương lai của chúng sẽ đen tối như thế nào. Giờ đây nhờ sống với mẹ dưới chính thể tự do nên chúng đã được học hành ít nhất cũng qua hết bậc trung học, đủ khả năng lập thân mà ông không phải lo lắng nếu ông phải sống xa chúng. Ông sống ở Sàigon rất lâu và hàng ngày quấn quýt bên vợ con, nhất là với 2 đứa cháu ngoại.

Vợ chồng, bố con tuy sống trong cùng một mái nhà nhưng hình như 2 bên còn gờm nhau, không muốn đề cập tới thái độ chính trị khác nhau từ trước năm 1954. Hai đứa nhỏ hàng ngày đi học do ông ngoại chở bằng chiếc xe đạp của bà ngoại vẫn xử dụng từ lâu. Buổi tối 2 đứa trẻ học bài, chúng hay nhai đi nhai lại các bài vở tuyên truyèn ca ngợi Hồ chí Minh, nào là bài bác Hồ yêu nước, nào là bài “Ao cá bác Hồ” khiến bà Đô khó chịu, bà khẽ cằn nhằn 2 thằng cháu, nhưng cũng đủ cho ông Đô nghe thấy: “ Cái gì cũng bác Hồ, bác Hồ mà bác Hồ của chúng mày có ra làm sao đâu cơ chứ”

            Hai đứa trẻ ngơ ngác chẳng biết phản ứng thế nào, hết nhìn bà ngoại lại nhìn mẹ và liếc ra xa nhìn ông ngoại đang chú tâm vào tờ báo của nhà nước. Nghe vợ bầy tỏ lập trường, ông Đô khẽ nén một tiếng thở dài quay mình vào phía tường để vợ con không đọc được tư tưởng của ông.

Tình trạng “dòm chừng” nhau trong gia đình ông Đô cứ dai dẳng không dứt cho tới một ngày kia. Vừa đi bán mấy món hàng do chồng gửi từ Mỹ về, Thư đang tính toán với số tiền trong tay, nàng sẽ mua thêm 1 chiếc xe đạp nữa để ông Đô có phương tiện chạy đi chỗ nọ chỗ kia mà không phải chờ bà Đô đi làm về thì Ông Đô bước ra ngoài cửa, đón Thư và ôn tồn bảo con gái :

- Con đi làm về đấy à.

Thư không muốn bố biết chồng mình vẫn tiếp tế cho mẹ con nàng nên chỉ đáp khẽ “Vâng ạ” rồi đi nhanh xuống bếp lo cơm nước buổi chiều nhưng ông Đô đã đi theo nàng rồi ngồi trên chiếc ghế đẩu và gợi chuyện.

-         Bố thằng Tính, thằng Toán có viết thư về thường xuyên không.?

-         ….

Từ tháng 5/1975, chồng Thư đã cùng hàng trăm ngàn người di tản qua Mỹ và chàng vừa đi học vừa đi làm để có tiền gửi về nuôi vợ con và giúp đỡ gia đình 2 bên, lúc đầu chàng phải gửi qua Pháp để nhờ đứa cháu chuyển về giùm. Sau này chàng gửi trực tiếp từ Mỹ, sau khi chàng đã tốt nghiệp và có việc làm thích hợp thì hàng hóa tiếp tế cho gia đình khá thường xuyên. Nhờ vậy mà gia đình Thư và gia đình chồng bớt khó khăn như những gia đình khác. Nhưng Thư không muốn cho bố biết sự thực nên chỉ đáp lấy lệ

- Nhà con thỉnh thỏang cũng gửi thư về cho con và các cháu.

- Thế bố nó có tính chuyện đón 3 mẹ con sang Mỹ hay không ? ông Đô hỏi con gái một cách thành khẩn trong khi cô con gái vẫn cố tình giữ khoảng cách giữa 2 bố con

- Dạ, anh ấy cũng chưa biết tính sao

Và Thư giải thích để ông Đô khỏi nghi ngờ:

- Vả lại còn mẹ con ở nhà, con không nỡ để mẹ con lủi thủi tuổi gìa một mình, mặc dù đã có bố bên cạnh.

Ông Đô nắm lấy ngay cơ hội:

- Sao bố chúng nó không bảo trợ cho cả mẹ vợ cùng đi, người ta làm như vậy nhiều lắm.

Thư đã chuẩn bị sẵn nên nàng mau mắn đáp lời bố:

- Nhưng còn bố thì sao? Sau mấy chục năm bố mẹ xa cách, nay bố mẹ mới đoàn tụ thì mẹ con nỡ nào để bố sống lẻ loi lúc tuổi già.

Nói tới đây Thư quan sát bố để xem thái độ của ông ra sao. Nàng thấy bố có vẻ ngại ngùng điều gì. Một nửa ông muốn nói ra, một nửa ông lại muốn che dấu. Ông lẳng lặng bỏ ngang câu chuyện và bước lên nhà trên để mặc con gái với những thắc mắc trong lòng.

Qủa thật Thư đang băn khoăn tự hỏi mà không biết giải quyết ra sao về hoàn cảnh của gia đình nàng lúc bấy giờ. Thư đã làm thủ tục để mẹ nàng cùng nàng và 2 con qua Mỹ đoàn tụ với chồng, nhưng còn ông cụ. Để ông ở lại thì ông biết nhờ cậy vào ai lúc tuổi gìa mà đón ông đi thì không biết ông có chịu đi không, có khi ông còn cản trở việc mẹ nàng theo gia đình con rể “Mỹ Ngụy”. Mặt khác, Thư cũng tự hỏi, một đảng viên Cộng sản như cha nàng, mấy chục năm theo Bác, theo Đảng, đã từng dứt khoát với vợ con để quyết tâm ở lại miền Bắc năm 1954, thản nhiên nhìn vợ con ra đi tới một nơi hoàn toàn xa lạ thì nay chắc gì ông thay đổi được lối suy nghĩ như xưa, nhất là bây giờ phe nhóm của ông đã chiến thắng. Mẹ nàng cũng có lối suy tư và lo lắng như vậy, 2 mẹ con đã nhiều đêm tâm sự mà chưa biết giải quyết ra sao. Do đó, Thư tạm quyết định là cứ tiến hành thủ tục để mẹ ra đi với mình và 2 con, vào phút chót sẽ tùy cơ ứng biến

Ông Đô ra nhà ngoài một lúc bỗng ông mạnh dạn bước xuống bếp, nơi con gái ông đang làm cơm, ông dơ tay gãi đầu, một thói quen mỗi khi ông có điều gì khó nói:

-         Thư à, hay là con nói với chồng con lo cả cho mẹ mày với bố qua Mỹ, có được không ?

-         ....

Thư thực sự bối rối, nàng không thể tưởng tượng được một con người Cộng sản như cha nàng, đã bị mê hoặc bởi chủ thuyết này, đã từng thẳng thắn từ bỏ gia đình để theo Đảng, dửng dưng trước cảnh chia ly với vợ dại, con thơ khi ông dứt khoát chọn con đường do ông Hồ chí Minh ép đặt lên đất nước mà nay lại suy nghĩ như vậy. Nàng sửng sốt đến nỗi buột miệng thốt ra những lời mà đáng lẽ nàng không nên nói vì nó xúc phạm nặng nề tới cha nàng

- Bộ Ba cũng muốn đi Mỹ sao ? Con tưởng rằng...

            Ông Đô có lẽ đã hiểu được con gái mình sắp nói gì nên ông tự nói trước:

            -Hãy thông cảm cho bố, trước đây bố đã không nhìn ra trắng đen nên đã phải cay đắng mấy chục năm rồi. Nay bằng mọi gía, bố quyết không muốn sống xa vợ con như trước nữa, mặc dù bố biết thân bố ngày nay chẳng khác gì ông bình vôi như cụ Phan Khôi đã nói. Thay vì cưu mang, đùm bọc gia đình thì bố chỉ là kẻ ăn bám vợ con trong qúa khứ, trong hiện tại và ngay cả trong tương lai. Bố rất xấu hổ khi phải nói chuyện này với mẹ của con. Con thay bố nói với mẹ con và nhất là với chồng của con nhé.

            Nói xong, ông Đô không đợi Thư trả lời, ông bước thẳng lên nhà trên, vì nói được xong những lời này, ông cảm thấy như đã làm được một việc qúa khó khăn mà trước đó ông nghĩ ông không có thể làm nổi.

            Thư đã chuẩn bị xong bữa ăn tối cho gia đình. Nàng làm việc như 1 cái máy không biết mình đang làm gì nhưng trong lòng nàng thì đang nghĩ nhiều tới tâm trạng của những người mà nhà văn Phan Khôi gọi là các ông bình vôi. Họ đáng thương hay đáng trách? Thư bỗng mỉm cười một mình khi nghĩ tới tối nay nàng phải viết thư để chồng biết thái độ của cha.

Vị Chung

* * *


Bạn cũ

Phan Chừng Thanh, CVA 1946

Ta về thăm bạn cũ

Xa tít nơi triền sông

Bạn ta tóc đã bạc

Vẫn lãng đãng phiêu bồng

Xuân sang đón gió lộng

Thu về ngắm trăng trong

Chõng tre bình rượu cúc

Ta và bạn tương phùng

Mấy chục năm gặp lại

Cùng dòn tan tiếng cười

Mừng vẫn nhiều tri kỷ

Thanh bần nhưng rất vui

* * *


Một đám cưới ngày ấy

CVA Trần TrịChi

Lời tòa soạn: Truyện ngắn “Một đám cưới ngày ấy” của tác giả Trần Trị Chi, CVA 1962, là truyện đầu tiên trong 10 truyện ngắn trong tập truyện “Gia Phả” mà tác giả đã cho ra mắt sách vào ngày 12 tháng 10 vừa qua tại San Jose, California. Nhận thấy truyện này thích hợp với chủ đề “Một Thời Chinh Chiến” của Đặc San CVA kỳ này, do đó, Ban Biên Tập quyết định cho in lại để cho quý độc giả thưởng thức.

Tôi gặp lại Viễn ngay những ngày đầu trong trại tù cải tạo. Từ đó hầu như ngày nào chúng tôi cũng gặp nhau. Hoặc chí ít thì trong tuần cũng vài lần trò chuyện. Cũng chẳng hiểu tại sao chúng tôi trở nên thân thiết với nhau như vậy. Vì so với nhiều bạn bè cũ hiện cũng ở trong này thì Viễn là người tôi biết ít nhất. Anh không phải là bạn của tôi ngày trước. Một, là chúng tôi không cùng trang lứa với nhau. Hai, là thời gian quen biết nhau quá ngắn. Tất cả chỉ gồm chín tuần ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung và vào khoảng ba tuần nữa ở Trường Bộ Binh Thủ Đức. Sau đó Viễn được bốc về Không quân, chờ học khoá sĩ quan phi công trực thăng. Rồi mỗi người một ngả, cho đến nay cùng nhau gặp lại trong tù.

Vậy là tình bạn cũng như sự tin cẩn giữa anh với tôi mới được gắn bó từ trong này. Rồi từng ngày, dần dần tôi biết thêm về đời anh.

Cuối tháng tư năm 75, trước sự tiến công cương quyết của quân đội miền Bắc, không khí chính trị tại Sài Gòn sôi lên sùng sục, quay như con thò lò. Tất cả rối tinh lên. Nhiều lúc lại ì ạch, lẫn lộn, nhiêu khê hình thức nào là hợp hiến với hợp pháp. Trong lúc giới chóp bu miền Nam đang ra sức diễn tuồng trên sân khấu; thì các mũi tiến công của Bắc quân vẫn ráo riết siết chặt Thủ đô lại từng giờ. Rồi nhiều chuyến di tản người Việt được chính giới chức Mỹ thực hiện, đẩy bùng lên làn sóng dao động. Người ta hoảng hốt tìm đường ra đi. Người người ngược xuôi nghe ngóng tin tức, tìm bắt mối lái. Giữa cơn lốc xoáy, Viễn chẳng lưỡng lự gì và trở thành người bình thản trước đám bạn đồng ngũ tất bật, lo âu.

Trưa 30 tháng tư, Viễn từ đơn vị trở về nhà cha mẹ. Không còn ai. Nhìn đồ vật khắp nhà. Anh hiểu. Anh đôn đáo tìm kiếm khắp nơi. Không tăm hơi. Anh chạy tới những nơi quen biết. Không tin tức. Chẳng ai dư thì giờ để bận tâm tới nỗi hụt hẫng của anh. Nhà nào cũng có quá đủ những âu lo riêng tư của họ. Lẻ loi, anh lang thang khắp nơi trong thành phố.

Trên đường Trương Minh Ký, từ hướng Lăng Cha Cả, một đoàn xe vận tải chở đầy lính miền Bắc có kéo theo nhiều khẩu trọng pháo đổ về trung tâm thành phố. Dân chúng hai bên đường lộ vẻ e ngại, ngơ ngác nhìn. Một vài tên cò mồi thúc dục:

“Hoan hô đi! Hoan hô ... Hoan hô chiến sĩ Giải Phóng Miền Nam!”

Đáp lại chúng, lác đác vài người sợ hãi, ngại ngùng vỗ tay theo.

Có đường vắng ngắt, xác một người lính miền Nam co quắp sát chân tường. Nhiều đường lại đầy người. Lẫn vào với thường dân, những binh sĩ miền Nam đã trút bỏ khí giới và quân phục, chỉ độc có bộ đồ lót trên người. Lề đường ngổn ngang mũ sắt, đạn dược, quần áo rằn ri và giầy lính. Từ cửa sổ dăm căn nhà, không biết ai đã sửa soạn từ bao giờ, thò ra lá cờ Mặt Trận Giải Phóng mầu xanh đỏ với ngôi sao vàng.

Bọn theo đóm ăn tàn “30 tháng 4” lẹ tay chớp thời cơ. Chúng quấn vội miếng vải đỏ, lổn nhổn trên nhiều chiếc xe hơi đủ mọi loại. Tên lái xe xả tốc lực chạy vòng quanh khắp phố. Bọn có súng ngồi đằng sau thỉnh thoảng lại quạt một băng đạn lên trời.

Nhiều cửa tiệm vắng chủ bị đập phá. Từng đoàn nhào vào, ìn ìn khiêng đồ mang ra. Một cô gái thất sắc, nhìn vọng sang bên kia đường. Một tiệm bán đồ ngoại quốc lớn, cửa kéo bằng sắt bị phá cong. Bọn hôi của ngang nhiên bồng bế, khiêng vác nào là tủ lạnh, ti vi, máy hát ... chất lên xe. Cô gái vẫn đứng rịt bên này đường, mếu máo.

Có nhẽ nhận ra được nét quen quen nơi cô gái, Viễn e dè lên tiếng gọi:

“Hoàng Cung!”

Tiếng gọi không thoát ra khỏi miệng. Viễn nhíu mày, cố nhớ lại bóng dáng cô bạn học năm xưa. Hơi lộ vẻ ngờ ngợ lẫn một chút bàng hoàng, Viễn thì thầm trong miệng đủ cho mình nghe:

“Đúng rồi...”

Hình như Viễn có hơi rùng mình. Hình như thể xác có chao đi. Có một luồng điện chạy suốt khắp cơ thể. Máu dồn lên ứ lại trong tim. Miệng há hốc. Mắt lạc thần. Đầu tê tê. Đây rồi... Đây rồi! Viễn thì thầm cái gì trong miệng. Mà không phải. Miệng Viễn vẫn há hốc, cứng đơ. Anh lịm dần trước người con gái đang chập chờn, chao đảo.

Hoàng Cung không nghe thấy tiếng gọi. Làm sao cô nghe thấy được. Nó nhỏ quá. Nó hình như không có. Nhưng cô cảm thấy có cái gì gai gai ngay bên gáy. Cô quay lại. Sững sờ giây lát. Cô gọi to, giọng có hơi uất ức vì cảnh ngộ lẻ loi trước sự ngang nhiên của bọn cướp:

“Anh Viễn phải không?...”

Nghe tiếng gọi. Viễn chợt tỉnh lại, vừa kịp để đứng vững, đón ôm toàn thân người con gái nhào tới, gục trên ngực mình. Cô khóc. Không phải vì xúc động được gặp lại người bạn xưa. Cô khóc cho chính cô. Khóc giữa cơn hoảng loạn lúc bấy giờ. Hai người cứ đứng trơ ra như vậy mãi. Giữa phố. Như xung quanh chẳng có ai...

*
*   *

Viễn và Hoàng Cung, ngày xưa, cùng học một trường. Trung học tư thục Ngô Đình Khôi ở Phan Thiết, một trường tư thục bề thế, ngang ngửa với Trung học công lập của thị xã. Học sinh của nhà trường cũng phải mặc đồng phục như trường công. Hai đứa lại còn học chung lớp đệ nhị trong năm chót.

Hoàng Cung, Bích Khuê và Phương Lan cùng học một lớp và ngồi riêng hẳn một bàn. Các cô họp thành một bộ ba luôn luôn dính chùm, trong trường cũng như ở ngoài phố. Ông trời, nếu có, thì cũng không phải là một đấng công tâm như người ta vẫn cố tin. Ông cho ba cô bạn học này được hưởng nhiều về phần sắc. Ông lại còn thiên vị, đặt để cuộc đời của cả ba vào những gia đình giầu sang ở Phan Thiết thời bấy giờ. Đã đẹp lại dư tiền để vỗ đắp, nhan sắc ba cô nữ sinh trường Ngô đình Khôi trong những năm đó chẳng ai còn sánh kịp. Tiếng tăm lan tới cả các trường khác trong tỉnh lỵ.

Dĩ nhiên quý bạn đọc cũng như tôi, khi được nghe Viễn kể đến đây, chúng ta đều đã thoảng thấy phảng phất một chút hương vị ngọt ngào của tuổi mới lớn. Thì hẳn cậu học trò Nồng Chí Viễn đã si tình cô bạn cùng lớp đệ nhị là Lê thị Hoàng Cung. Viễn không phủ nhận điều đó. Nhưng để xác định dấu vết khởi đầu của mối tình thì anh không rõ tự hồi nào.

Có nhẽ bắt đầu từ đôi mắt. Có một lần đôi mắt tình cờ gặp nhau. Rồi cả hai cùng luống cuống cố tránh ánh mắt của nhau. Từ đó lòng anh rạo rực cho dù bóng dáng Hoàng Cung còn mãi tít từ đằng xa. Ở trường anh không còn đùa giỡn ồn ào và mạnh bạo với chúng bạn như trước nữa. Anh ăn mặc gọn ghẽ hơn, có một chút chải chuốt hơn. Và anh chú ý tới một điều chưa bao giờ anh bận tâm: hoàn cảnh túng thiếu của gia đình anh bấy giờ.

Rồi lại một lần cũng bắt đầu từ đôi mắt. Anh đứng một mình dưới bóng mát của một tàng cây lớn trong sân trường, dõi mắt tìm kiếm bóng dáng quen thuộc. Hoàng Cung và hai cô bạn từ cuối sân đi tới. Hoàng Cung tươi tắn, nói cười. Hoàng Cung tung tăng trong nắng vàng. Họ đi lẫn cùng với nhiều nữ sinh khác... Tà áo trắng của các nữ sinh trở thành một nền trắng xóa. Hai cô bạn của Hoàng Cung chìm trong cái mảng trắng đó. Rồi cái nền trắng xóa nhòa hẳn đi. Chỉ còn một Hoàng Cung tung tăng. Tà áo nàng bay lượn trong nắng. Áo nàng là nắng. Hoàng Cung tan trong nắng. Anh lóa mắt chăng?... Nhưng rồi, sao từ nắng vàng lại có một tà áo trắng đang bay? Tà áo quấn quít cùng đôi chân. Hoàng Cung lại từ trong nắng vàng đi tới. Nàng vẫn tung tăng, tươi tắn, nói cười.

Giây phút lãng đãng, xuất thần ấy chỉ đến với anh một lần trong đời. Nhưng ánh mắt gặp nhau của lần đầu vô tình trước đó, vẫn mãi mãi theo anh suốt đời. Đêm đêm sao sáng trên trời như ngàn vạn con mắt đong đưa, đong đưa, xen kẽ trong những giấc mơ của anh...

Phải đến năm đệ nhị, hai đứa chung lớp, Hoàng Cung mới cảm nhận được mối tình của anh. Trong lớp tâm trí Viễn chia làm ba. Một phần nghe lời thầy giảng. Hai phần kia để cả vào Hoàng Cung. Bù lại, về nhà anh chăm chỉ hơn trước. Vì thế anh vẫn là người trả lời được hầu hết những câu hỏi khó của các giáo sư. Anh cố học không phải cho anh. Cũng chẳng phải vì thương xót bố mẹ nghèo túng. Anh chăm vì anh sợ. Anh sợ Hoàng Cung nghĩ anh là một học sinh tầm thường, không sáng trí.

Sung sướng nhất là những lần được gọi lên bảng, để giải một bài toán mà Hoàng Cung vẫn còn đang loay hoay mãi ở trên ấy. Những lúc ấy anh cố phớt tỉnh, tạo cho bằng được cái dáng dấp của những nhà thông thái bẩm sinh, chẳng màng chi tới nhan sắc cô em đứng bên cạnh. Một nhan sắc mọi người đều ngưỡng mộ là hoa khôi trong trường từ nhiều năm nay.

Là một học sinh giỏi, Viễn có nhiều vinh dự. Anh được bạn bè nể và quí mến. Đó cũng là một chút vỗ về, an ủi cho cậu học trò con nhà nghèo. Và đốm sáng hy vọng nơi anh vẫn long lanh như mắt ai trên nền trời sao sáng.

Trong số những người mến anh, có Hoàng Cung. Nhưng tình cảm của Hoàng Cung với Viễn khác những người khác. Hoàng Cung đẹp và biết là mình đẹp nhất trường. Chính từ địa vị hoa khôi trong trường, nàng có được rất nhiều bài học nho nhỏ. Dĩ nhiên các bài học này đều nằm ngoài khung cửa của lớp học. Và những bài học dễ thương đó đã giúp nàng hiểu đời hơn. Nàng phán đoán chính xác hơn. Nàng biết tỏng là đã có nhiều tay chết mê chết mệt vì nàng. Không phải chỉ có trong lớp này, mà còn từ những lớp khác. Lại còn nhiều cậu be bé lớp dưới nữa, cũng cố làm con kiến mà leo cành soan. Mà không phải chỉ có bạn học mà thôi đâu... Hoàng Cung vẫn giấu kỹ những ý nghĩ thầm kín này cho riêng mình, với nụ cười mãn nguyện, khi bắt gặp ánh mắt của vài ông thầy chỉ hơn nàng không bao nhiêu tuổi.

Cái anh chàng Viễn chỉ là một con nai tơ. Hoàng Cung một lần mỉm cười nghĩ thế. Nhận định đó có được bằng cả trực giác lẫn kinh nghiệm của nàng. Thì cái lần nàng đưa cục phấn cho anh chàng đó. Nguyên cái mặt nạ phớt tỉnh to tổ bố rớt huỵch xuống. Bộ mặt với vài mụn trứng cá đỏ ké lên. Còn luống cuống đụng vào tay nàng nữa chứ. Đã luống cuống lại càng luống cuống thêm. Không nhịn được, nàng đã cưỡi mủm mỉm. Trông hắn thật tội nghiệp!

“Lúc đó tớ chỉ muốn độn thổ thôi.” Khi kể đến chỗ này, Viễn ngượng ngùng nói với tôi. “Lại còn cười nữa! Thật là giết người ta.”

Hồi đó Viễn cũng biết Hoàng Cung có cảm tình với anh. Nhưng bằng những tín hiệu khác. Cái ý nghĩ của Hoàng Cung về anh hồi đó, anh mới biết đây thôi.

“Chết thật!” Viễn tiếp tục. “Không biết hồi đó nàng có cười mình cho mấy cô bạn Bích Khuê với Phương Lan biết không. Để khi nào về, tớ phải hỏi lại mới được.”

Rồi như vẫn còn ngượng, Viễn đổi hướng:

“Hồi xưa tớ học giỏi lắm!”

Để làm giảm bớt ý nghĩa câu vừa nói, anh nhũn nhặn hơn:

“Giỏi là nói vậy thôi. Nếu giỏi thật, tớ đã đỗ vào đệ thất trường công! Mà thủa nhỏ tớ có nhiều ý tưởng lạ lắm. Đến bây giờ nghĩ lại vẫn thấy không sai. Hồi đệ nhất cấp tớ bị ông thầy Quốc văn quật cho một trận mê tơi. Tội hỗn; vì đã muốn sửa một chút trong câu chuyện Trương Chi-Mỵ Nương.

Hồi ấy anh muốn sửa như thế này. Cái câu:

Ngày xưa có anh Trương Chi.

Người thì thật xấu hát thì thật hay.

Viễn muốn sửa lại là:

Ngày xưa có anh Trương Chi.

Nhà thì thật khó, hát thì thật hay.

Viễn đã muốn sửa và bây giờ vẫn muốn sửa như vậy. Văn chương, dù là văn chương truyền khẩu, vẫn bị quyền lực eo ép. Chính cái xã hội đẳng cấp nặng nề đó đã đẩy lệch câu thơ. Chữ xấu được dùng chỉ cốt để đánh lận lòng người. Mấu chốt của truyện tình đẫm nước mắt này chỉ vì chàng Trương có tài nhưng thuộc giai cấp mạt rệp.

Như vẫn còn cay cú về trận đòn năm xưa, Viễn giáng tiếp:

“Thường các trường tư thục không coi đệ nhất cấp là quan trọng. Các môn Sử Địa, Công dân, Quốc văn lại còn nhẹ hơn nữa. Thầy giáo các môn đó toàn là những tay quen biết hay người nhà của chủ trường. Ông thầy Quốc văn dậy lớp đệ tứ mới đỗ Tú tài một đó đã nện tớ một trận mê tơi. Vì thế nhiều ông to bây giờ, cũng có tí học hành đấy, mà mỗi khi xài xể, lên lớp thuộc cấp vẫn cứ như mán rừng nói tiếng Việt, ngây nga ngây ngô.”

Tôi đã đi quá xa. Nguyên do lạc đề có sự góp phần của anh Viễn. Xin trở lại với quý bạn đọc.

Nhiều người vẫn thường nói:

“Mối tình thời học trò sẽ kết thành những kỷ niệm êm đềm vẫn vỗ về lòng người mỗi khi hồi tưởng.”

Và cũng có nhiều người đồng ý như thế.

Viễn thì không cho là thế. Anh có một lối nhìn chua chát, xuyên suốt hơn trong phân tích. Mối tình đẹp nhất của anh với Hoàng Cung đã bị ước lệ của xã hội ngăn lại. Một lằn ranh vô hình chia rẽ đôi trẻ. Lằn ranh này chẳng ai vẽ ra. Nhưng mọi người đều mờ mờ thấy. Và Hoàng Cung cũng hiểu, nên vẫn chờ. Rồi ra, sẽ có một mối tình khác đến với nàng. Cũng rất chân thật, mà lại hợp với khuôn đúc của xã hội hơn. Người ấy có nhẽ sẽ hơn nàng năm, ba tuổi. Thời gian vừa đủ để anh ấy tạo được một địa vị vững vàng.

Chính những trói buộc của xã hội đã cột Mỵ Nương trong phòng loan. Chính những ước lệ của đời sống đã xô ngã chàng Trương xuống đáy nước. Và chuyện tình Trương Chi - Mỵ nương đã làm tốn biết bao nước mắt của dân gian, trải qua nhiều thế hệ. Không phải chỉ có một cổ tích Trương Chi - Mỵ nương đâu. Đã có nhiều cổ tích như vậy vẫn được tiếp tục viết ra.

May cho Viễn. Anh không phải là một nghệ sĩ si tình như chàng Trương, để đến nỗi phải dìm thân, hóa thành khối ngọc, dưới đáy nước. Anh chỉ là một cậu học trò ngây ngất men tình, đêm đêm đạp xe lên nhà nàng. Cậu học trò với mối tình si đầu đời ấy, từ bên kia đường, dõi mắt lên khung cửa sổ, mong chụp được bóng dáng yêu kiều. Cũng có đôi lần Viễn được hưởng cái giây phút mơ ước ấy. Nhưng niềm lo lắng, chột dạ thì đêm nào cũng canh cánh. Mỗi khi ánh đèn được bật lên. Bên khung cửa, chắc hẳn Hoàng Cung vừa ngồi vào bàn học. Tưởng tượng ấy của Viễn đẩy chính anh về với thực tại. Anh vội vàng phóng xe về nhà, lao vào bài vở. Không thể nào để cái chuyện em thì đậu, còn anh lại rớt đài xẩy ra được.

Rớt Tú Tài anh đi Trung sĩ.

Em ở nhà ...

Khúc rẽ này là nỗi ám ảnh của tất cả các cậu học trò lớp đệ nhị trung học đương thời. Nếu tình cảnh đó xẩy ra, và nếu nàng lại đậu? Còn mặt mũi nào mà gặp lại nhau!

Ấy đấy. Thì cũng chính cái quy luật xã hội vô hình đó đã đẩy Viễn lên cao.

Cũng như các nữ sinh đôn hậu khác, Hoàng Cung rất chăm chỉ. Đó là sợi xích đã khóa cậu si tình vào với đèn sách. Niên học chót của Viễn tại Phan Thiết quả là vất vả. Anh xanh sao vì bài vở. Anh mất ăn mất ngủ vì cuộc tình. Nhưng hè năm đó là mùa hè sung sướng nhất trong đời Viễn. Công lao đèn sách được đền bù. Anh khỏi phải đi Trung sĩ. Thêm vào đó, Hoàng Cung thi rớt, tạo một khoảng cách cần thiết để mối tình có hơi thở. Trong quan hệ trai gái, một mô hình thứ bậc vẫn mờ mờ có trong đầu anh và trong đầu mọi người. Người ta vẫn thường để lộ niềm vui thích khi mình thành công. Và người ta cũng có âm thầm mỉm cười khi thấy người khác thất bại. Nhất là khi người ấy lại là bạn bè thân thiết của họ. Không phải chỉ có Hoàng Cung rớt không thôi. Lớp anh có nhiều người rớt lắm. Trong số đó có cả Bích Khuê và Phương Lan. Điều này càng làm anh hãnh diện và yên tâm. Hãnh diện vì thỏa mãn tính hẹp hòi vị kỷ của anh. Yên tâm vì anh có lòng bao dung khi anh nghĩ tới Hoàng Cung. Như vậy nàng cũng đỡ cô đơn.

Ở tỉnh lẻ, một cậu học sinh đỗ Tú tài một đã là to lắm. Cậu được nhìn lớn hẳn lên, đáng tin cậy hơn, vì đàng hoàng lắm. Viễn tự tin hơn, dựng nên một giấc mộng con con. “Để rồi hôm nào mình sẽ tới nhà Hoàng Cung, an ủi nàng”. Cũng là cho thỏa nỗi lòng. Chuyện bốc đồng đó không bao giờ xẩy ra. Chưa bao giờ anh dám bước chân vào tiệm bán ti vi, máy hát, tủ lạnh và đồ điện của gia đình Hoàng Cung.

Thế nhưng một sự tình cờ đã cho anh cơ hội ngàn năm. Ông trời hình như cũng có ý muốn giúp người thành tâm.

Mùa hè của một học sinh thi đậu thật là dài và nhàn nhã. Viễn rộng cẳng nên chiều chiều thường vẩn vơ ra biển...

Bãi biển Phan Thiết thủa đó vừa để học trò ra tắm, vừa để bạn chài lụi thuyền lên bãi. Đó cũng là nơi các bà buôn cá và các đứa trẻ đi “hâu cá” kiếm sống. Sinh hoạt này ở đây vẫn có từ bao giờ nhưng chưa một lần Viễn chú ý. Anh đã từng nhiều lần cùng bạn bè ra đây tắm biển, vui đùa. Thế mà đến bây giờ anh mới nhìn sâu vào cuộc sống. Đầu tiên là giá mua của các bà buôn cá. Rẻ đến độ cứ như cho không. Mà không phải ai cũng có thể ra đây buôn cá hay mua cá được. Họ đã thành băng với nhau rồi. Tiền trao lúc nào không biết. Nhưng khi thuyền vừa cập bến, cá không còn thuộc về bạn chài nữa. Tất cả đều là của các bà đi buôn. Đó là luật buôn.

Rồi lại tới luật sống cho các cậu đi “hâu cá” nữa. Khi sọt cá được đổ xuống bãi - mà tại sao phải đổ xuống bãi thì Viễn không hiểu - con nào văng ra khỏi đống cá lớn ở giữa, con đó sẽ thuộc về kẻ nào nhanh tay. Cũng không phải ai cũng có thể mò ra đây để nhào vào, cùng nhanh tay với đám trẻ. Chúng cũng thành băng cả rồi.

Thành thử mỗi khi một sọt cá đổ xuống bãi là một cuộc tranh sống trổi dậy. Một phe, các bạn hàng làm thành vòng rào bảo vệ đống cá ở giữa, nhanh chân đá trở lại những con văng ra. Phe kia, bọn trẻ cũng làm thành vòng tròn, nhanh tay vồ để chút nữa sẽ chia nhau. Nhưng cuộc tranh sống không đơn giản thế. Sẽ có vài đứa trẻ nhanh nhẹn chớp thời cơ, lọt qua được vòng đai phòng thủ, nhẩy vào đống cá, đá văng vài con ra ngoài cho các đứa khác vồ. Những lúc đó thật là náo loạn, ồn ào, và vô cùng hào hứng.

Trận chiến chỉ xẩy ra vài phút cho một sọt cá. Nhưng có nhiều sọt trong một buổi chiều. Thành ra mùa hè năm ấy, chiều nào Viễn cũng mò ra biển. Để sống với hoạt cảnh đó. Để được phóng tầm nhìn ra khơi với những cánh buồm xa xa. Để ngắm hải âu bay lượn. Thỉnh thoảng lại có con nhào xuống mặt nước, quặp được con cá. Để được nghĩ tới nhiều chuyện. Để được mơ mộng. Tất nhiên trong những câu chuyện, những mộng mơ của Viễn bao giờ cũng có Hoàng Cung...

Một chiều Viễn cũng đứng gần đống cá mới đổ xuống. Nhưng anh phóng tầm mắt hơi xa một chút, quan sát đám bạn chài. Họ chạc tuổi bố anh và cũng đang là khán giả của cuộc tranh sống. Họ vấn thuốc hút, nghỉ ngơi, và lơ đãng nhìn cái đám đang chí chóe trước mặt. Gương mặt phẳng lì, giáng mệt mỏi, đám bạn chài ngồi yên, không lộ một ý kiến hỗ trợ cho phe nào. Những con cá đó giờ đây bị giành dựt, mua bán, nấu nướng, ăn uống ra sao không còn là chuyện họ phải lo lắng nữa...

Bỗng trời như muốn mưa. Gió đổi hướng và mạnh hơn. Sóng lớn, biển đục ngầu. Mây đen kéo xuống thấp rất nhanh. Viễn đã dạm đi lấy xe đạp để ra về thì chợt thấy một cô gái đang đi xuống bãi, hướng về phía anh.

Ủa! Hoàng Cung. Viễn thót người khi nhận ra Hoàng Cung. Nhưng anh bình tĩnh lại được ngay. Vì lúc đó Ông Trời đã giúp anh. Ngay lúc đó, mưa ào xuống. Một cơn mưa rào, to hạt. Thế là cả hai cùng chạy lúp xúp tới trú dưới một gốc cây lớn. Bãi biển ít phút trước náo nhiệt như thế, bây giờ vắng hoe. Họ chạy đâu hết cả? Viễn đảo mắt tìm kiếm. Cả dấu tích cũng chẳng còn. Mưa đã xô đi và xóa sạch dấu vết của nhóm người chí chóe, tranh dành lúc nẫy. Bãi biển giờ đây chỉ còn dăm chiếc thuyền nghiêng mình trên bãi cát. Và chỉ có mình anh với Hoàng Cung bên gốc cây. Viễn có một chút thích thú, một chút ấm áp trong lòng. Nhưng những chút ít đó đang quay lộn, đảo điên bởi lòng anh đang bối rối. Một lớp sóng ngượng ngùng dấy lên khiến Viễn đâm ra đờ đẫn câm lặng. Hoàng Cung cũng chẳng hơn gì. Nàng như chim non mắc bẫy, lặng lẽ run run.

Giây lát Viễn mới lên tiếng, giọng không được trôi chẩy:

“Học tài thi phận...”

Những ngày vừa đây, trong một lúc bốc đồng, Viễn đã nhủ lòng, để rồi hôm nào sẽ tới nhà Hoàng Cung, an ủi nàng. Cái ý định đó giờ đây buột miệng thành lời. Chưa hết câu, anh đã tự thấy mình ngớ ngẩn, rồi đâm ra ngập ngọng và tịt luôn. Hoàng Cung không trả lời, vẻ như không nghe thấy gì. Thái độ giữ yên lặng của Hoàng Cung càng làm Viễn đuỗn người ra...

May thay! Lúc này trời lại giúp Viễn thêm lần nữa. Trong bãi, trời vẫn mưa nặng hạt. Nhưng ngoài khơi, lại tạnh mưa. Bầu trời rất trong, ánh sáng ửng hồng chiếu xuống mặt biển phẳng lặng. Cảnh sắc thật thanh bình!

“Coi kìa, Hoàng Cung. Viễn vừa nói vừa chỉ tay ra sau lưng nàng.”

Hoàng Cung xoay người lại, nhìn ra khơi. Quá đẹp! Trời vẫn mưa trên bãi cát. Mây đen vẫn còn che một lớp trên lùm cây chỗ hai người trú. Từ khoảng tối đó nhìn ra khơi, sắc trời mầu hồng rực rỡ phủ xuống sóng nước dội trở lên. Đại dương bừng lên sức sống mãnh liệt.

Hứng khởi trước cảnh sắc, Viễn lẩm bẩm:

“Đẹp quá! Đẹp quá!”

Rồi như miên man bởi chính lời nói của mình, Viễn lạc hồn vào cõi xa xăm:

“Đẹp quá! Đẹp quá! Em...”

Giật mình, Hoàng Cung quay trở lại. Viễn không nhìn ra khơi. Ánh mắt Viễn mê man và rớt trên mặt nàng. Bẽn lẽn. Thích thú. Mãn nguyện. Tự ái được mơn trớn bởi mọi cảm giác trộn lẫn kể trên, vẫn không làm nàng mất cảnh giác. Đúng là ăn gian. Thông minh. Mập mờ mà khôn ghê.

Hãnh diện với nhan sắc của mình, Hoàng Cung nhẹ nhàng đưa tay vuốt lại mái tóc ướt. Có lẽ bị phấn kích bởi động tác của Hoàng Cung, bất giác Viễn nắm lấy bàn tay người yêu.

Như thỏ con bị bắt, Hoàng Cung muốn rút tay về nhưng chỉ thở hổn hển, rồi ấp úng:

“Tuần tới gia đình em dọn về Sài Gòn!...”

Đã nói được, nàng định lại được thần. Hoàng Cung thu vội tay về, rồi xoay người chạy vội lên đường.

Lúc ấy trời đã tạnh mưa.

Viễn vẫn đứng yên như trời trồng. Anh không hiểu mình đã làm gì? Anh mơ màng cố nhớ lại xem anh đã làm gì Hoàng Cung? Rồi anh lo. Anh sợ Hoàng Cung giận...

Đó là lần chót Viễn gặp Hoàng Cung. Đúng như lời nàng nói, ít ngày sau nàng cùng mẹ và các em dọn đi Sài Gòn trước, bằng máy bay. Ông bố nàng ở lại thu vén cửa hàng, rồi đi sau.

Viễn nhớ thương, đau khổ nhưng vẫn nuôi hy vọng. Anh da diết luyến thương chiều mưa hôm ấy. Tại sao Hoàng Cung lại báo cho anh biết là sẽ đi Sài Gòn? Có lẽ nàng ra biển tìm ta? Rõ ràng nàng xưng em với mình. Nàng không rút tay về ngay. Hình như nàng có khóc.

Viễn nhớ nhung.

Viễn đau khổ.

Nhưng Viễn vẫn mơ...

Rồi Viễn tình nguyện đi sĩ quan Thủ Đức. Chỉ có cách đó anh mới vào được Sài Gòn.

Sau đó là chuyện của những năm tháng đáy biển mò kim.

Thực ra chuyện hai người gặp nhau ở biển hôm ấy chỉ là tình cờ. Được biết sẽ dọn vào Sài Gòn, Hoàng Cung muốn đi khắp nơi trong thành phố một lần chót. Ra biển, tình cờ nàng gặp Viễn. Rồì hoảng hốt, nàng đã buột miệng nói ra cái chuyện đi Sài Gòn, lúc đó luôn luôn nằm trong đầu nàng. Nàng còn cho Viễn biết thêm, gia đình bạn của bố mẹ nàng đã giúp đỡ để cả nhà nàng chuyển vào trong đó. Họ có người con lớn đang học y khoa và muốn cậu ta có cơ hội được gặp Hoàng Cung. Những chuyện đó sau này Viễn mới biết

“Dể khi nào ra tù.” Viễn nói với tôi. “Tớ phải hỏi xem anh ta tên là gì mới được.”

*
*   *

Chiều nay Viễn gặp lại người xưa. Khác với Viễn, gia đình Hoàng Cung có kế hoạch ra đi rõ ràng. Mọi việc được âm thầm chuẩn bị và diễn tiến gọn gàng. Nhưng giờ chót, số mệnh đã tách Hoàng Cung ra và đẩy nàng ở lại, một mình.

Trong cơn hoảng loạn, lẻ loi, Viễn trở thành điểm tựa của Hoàng Cung. Sự tín cẩn được bắt rễ tự lâu lắm. Từ cái hồi xa xưa, khi hai người đã cùng chung một lớp. Mối tình si đầu đời, từ bao năm, giờ sống trở lại. Viễn vẫn còn cái rạo rực ngây ngất thời xa xưa. Viễn có thêm cái ngất ngây nóng bỏng ngay hiện thời.

Hai cuộc đời bị quẳng lại, tưởng là đơn côi, mà lại không. Bởi vì những trói buộc, ước lệ của xã hội lúc này không còn nữa. Ngày 30 tháng 4 năm 75 đã tạo nên một khoảng trống. Quyền lực cũ đổ nhào; luật pháp cũ bị gỡ bỏ; quy luật xã hội cũ tan vỡ. Trong khi đó quyền lực mới chưa kịp ngồi vào ghế; luật pháp mới chưa được ban bố; và xã hội mới chưa bắt rễ. Trong cái khoảng trống ngắn ngủi này, tội ác loài người được tháo cũi phơi bầy, và cái tâm tính tốt lành của người ta cũng được tự do bồi đắp.

Khoảng trống ấy cũng là miếng đất mầu mỡ cho cây tình tự do quấn quít, đơm hoa. Cái chuẩn định lệch lạc xưa không thể mượn đôi mắt của cha mẹ hai bên, để phán xét mối tình Viễn và Hoàng Cung nữa. Hai mảnh đời lẻ loi kết hợp. Đôi lứa bù đắp và sưởi ấm cho nhau. Viễn biến căn phòng của Hoàng Cung thành cảnh lầu ngọc bên sông nước với Trương Chi và Mỵ nương. Và lứa đôi hôm nay viết lại chuyện tình ngày xưa. Chuyện tình của hai đứa thời xa lắc, hồi cùng chung một mái trường. Và Chuyện Tình Của Dân Gian với bao thổn thức từ ngàn năm vẫn vọng về. Không. Không còn cảnh ướt át và đẫm nước mắt của nàng Mỵ nữa. Mà là ướt át vì ngây ngất, nóng bỏng ân tình bây giờ. Không còn chuyện chén ngọc vỡ tan vì giọt lệ năm xưa. Mà giờ đây chính là một khối tình nóng bỏng, sưởi ấm cho đôi thân. Đôi lứa đã xây dựng lại những đổ vỡ cũ, bù đắp thêm những dở dang xưa. Thiên Đàng Hạ Giới là có thật. Hoàng Cung lặng yên tận hưởng mật ngọt hạnh phúc. Viễn hớn hở với nỗi niềm lứa đôi.

Như đứa trẻ được cưng chiều vẫn vòi vĩnh đòi thêm quà, anh thủ thỉ bên tai Hoàng Cung những khắc khoải của đời anh. Đã có lúc anh như cánh diều đứt dây, lao mình xuống đất, lăn lóc nơi cống rãnh. Mệt mỏi. Chán chường. Buông xuôi.

Là một phi công thời chiến, anh đi khắp mọi chốn. Đâu thì cũng thế thôi. Đâu rồi cũng buông xuôi. Cũng chán chường. Và cũng mệt mỏi. Anh vẫn chỉ là cánh diều không dây, nằm bên cống rãnh. Bởi anh chỉ có nơi đi mà không có chốn về. Anh không có người để nhớ tới. Và cũng chẳng có ai mong đợi anh về.

Rồi một chiều anh lạc qua thành phố cũ của thời thơ dại. Ngôi trường xưa dọc bờ sông ngày nào trở nên xa lạ. Mà anh cũng chẳng còn là cậu học trò nhỏ dại nữa. Anh đang chếnh choáng hơi men của nhiều ly rượu hồi chiều. Phan Thiết không có bãi biển chào đón du khách. Nhưng tiếng sóng vỗ rì rầm bao giờ cũng vẫn vậy. Sự quen thuộc đã vỗ về anh vào giấc ngủ, cùng với men say.

Quá khuya anh thức giấc. Vẫn nằm dài trên cát biển. Anh khóc. Anh vẫn thường hay khóc sau khi tỉnh cơn say vào những lúc đơn côi như thế.

“Đời ta rồi vẫn mãi như thế này sao?”

Anh thèm một đời sống khác. Anh thèm có được người yêu. Được nằm với người yêu, bên nhau, dưới bầu trời đầy sao như đêm nay...

Dưới bầu trời đầy sao như ngàn vạn con mắt đong đưa, đong đưa... Có đôi mắt của ai như đang vẫy gọi anh trở về. Về với... Ừ nhỉ! Trong một khoảnh khắc thật ngắn. Không đầu óc nào có thể tưởng tượng là ngắn đến như vậy. Tiếng nhà Phật có lẽ gọi là một sát-na. Anh bừng tỉnh. Hình như là một đổi thay toàn diện. Một hoàn hồn. Một lột xác.

Có.

Có đến từ cái không có.

Viễn chợt có người yêu. Anh đã có người yêu. Rõ ràng là có.

Viễn dứt khoát một niềm tin.

Người yêu của anh có thể là một cô gái nào đó, quanh đây, tại đất nước này. Nàng cũng có thể từ nơi nào rất xa, tận một quốc gia nào đó bên kia bờ biển. Nàng cũng có thể đã sống từ xa xưa, hàng nghìn năm về trước. Nàng cũng có thể sẽ sinh ra sau này, mãi tận về sau. Anh có nàng. Bầu trời đầy sao sáng trên kia là một gạch nối. Rồi một đêm nào đó. Dưới bầu trời sáng sao, nàng sẽ tự vấn. Và ánh sáng của những ngôi sao tầng trên sẽ đưa nàng về với anh. Ôi! Bầu trời đầy sao. Ngàn vạn con mắt lung linh, đong đưa trên nền trời thăm thẳm.

Nước mắt vẫn trào ra, nhưng Viễn khóc bởi hạnh phúc. Anh đã có người yêu. Anh sẽ có một chốn để về. Anh đổi thay. Lột xác. Một cuộc đời mới sẽ đến với anh. Và anh thoát khỏi cống rãnh từ đấy...

Những ngón tay gầy của Hoàng Cung vẫn lùa sâu trong tóc anh. Nàng ve vuốt Viễn. Như vỗ về đứa con trai. Của riêng nàng.

Vẫn nằm yên đón nhận mọi vỗ về, vuốt ve của Hoàng Cung, Viễn không che dấu, dơm dớm nước mắt thì thầm:

“Anh có em. Hoàng Cung! Anh có em...”

Rồi một buổi sáng, chẳng rõ ai là người đã lên tiếng trước đề nghị:

“Mình làm đám cưới chứ?”

“Ừ. Thì làm đám cưới.”

Khi yêu nhau, người ta trẻ lại. Giờ đây đôi trẻ bắt chước người lớn. Cho vui. Bắt chước nhưng theo cách riêng của chúng. Và chúng làm đám cưới với nhau.

Đám cưới ấy quả là có một không hai. Chả có ai tưởng tượng ra nổi trên đời lại có một đám cưới như vậy. Thế mà đám cưới ấy có thật. Chính miệng chú rể, anh Nồng Chí Viễn, kể lại cho tôi nghe. Tôi còn gặp lại cả cô dâu, Lê thị Hoàng Cung, tức chị Viễn và cháu bé trai của hai người.

Hôm ấy, những ngày đầu tháng 5 năm 75. Chính xác ngày nào Viễn cũng chẳng quan tâm. Viễn và Hoàng Cung đã vùng dậy, tổ chức đám cưới cho chính mình.

Cũng phải có đôi nhẫn cưới chứ?

Tìm được tiệm kim hoàn lúc này không phải là dễ. Họ đã ra đi từ lâu. Nếu có ai còn ở lại, họ cũng đóng cửa im ỉm vì e ngại. Nhưng với số tiền quá lớn, do Bố mẹ của Hoàng Cung để lại, đôi trẻ cũng có được đôi nhẫn cưới, mua từ một tiệm kim hoàn trong ngõ hẻm. Đám cưới được tổ chức ngay khi tấm cửa sắt của tiệm kim hoàn vừa khép lại. Đôi trẻ trao nhẫn cưới cho nhau. Rất tự nhiên và trịnh trọng, đứa này nâng tay đứa kia lên. Rồi cũng rất trịnh trọng và tự nhiên chúng lồng nhẫn cưới cho nhau. Không phải dòm chừng ông thợ ảnh. Cũng không phải đóng trò để cho có được những tấm hình đẹp. Sau khi trao nhẫn cưới cho nhau xong, chúng ôm nhau, cười khúc khích. Thế là thành vợ, thành chồng. Thật là giản dị.

Đám cưới đã không diễn ra tại nhà thờ, hay trong chùa hoặc trước bàn thờ gia tiên. Đám cưới diễn ra ngay khi chúng có được đôi nhẫn cưới, trong con hẻm trước cửa tiệm kim hoàn. Chẳng có sự chứng kiến của cha mẹ đôi bên. Cũng không ai là bà con hai họ. Không phù dâu, chẳng phù rể. Cần chi tới xe hoa với y phục rườm rà. Chỉ có cô dâu và chú rể. Hai đứa cùng chung một lòng. Thế mà hóa ra vui. Lại còn tiệc mừng đám cưới nữa chứ.

Cũng chẳng biết ai lên tiếng trước đề ra cái mục này. Nhưng cô dâu là người lên tiếng chọn nhà hàng:

“Đi ăn hủ tiếu bò viên há?”

Thế là cũng chỉ có cô dâu và chú rể. Không một thực khách nào được mời. Nhà hàng là xe bò viên ngay lề đường Cao Thắng gần rạp ciné Đại Đồng. Và thực đơn chỉ có hai tô hủ tiếu bò viên. Viễn còn nhớ thêm. Cô dâu có một chai nước ngọt và chú rể, một chai bia lớn.

Cô dâu đã chọn bò viên cho ngày cưới. Món ăn này, không có trong thực đơn của gia đình nàng, một gia đình giầu có và khép kín. Hoàng Cung chỉ được thưởng thức món bò viên trong những lần đi chơi với chúng bạn.

Viễn cho rằng đám cưới diễn ra rất đầy đủ. Lễ nghi chân thành. Nhất là lại vui và tự nhiên nữa. Cô dâu, chú rể không phải lo lắng sửa soạn chi cho nhọc nhằn. Cũng không có cảm giác mình đang làm hề vì phải đóng tuồng.

“Vai hề.” Viễn nói. “Hề không bao giờ có trong cảnh chân thành. Hề chỉ lên sân khấu chọc cười thiên hạ. Bản thân hề có bao giờ vui?”

Câu chuyện này nếu chấm dứt được ở đây thì còn gì bằng.

Được vậy thì ngày 30 tháng 4 năm 75 cũng được con dân miền Nam Việt Nam chào đón. Và vong linh những người nằm xuống từ cả hai miền chắc cũng siêu thoát. Chí ít thì sự hy sinh của họ cũng tạo nên được miếng đất mầu mỡ cho câu chuyện tình này đơm hoa kết trái. Chuyện tình Viễn - Hoàng Cung. Và ngày 30 tháng 4 năm 75 chính là ngày đã lật được mặt trái câu chuyện tình Trương Chi - Mỵ Nương mà người xưa muốn gởi gấm. Nghèo khổ. Chàng nghệ sĩ họ Trương ơi. Tất cả chỉ vì chàng nghèo mà thôi. Đồng thời bằng hạnh phúc của đời mình, Viễn - Hoàng Cung đã lấp bằng hố sâu ngăn cách giữa giầu và nghèo. Và ngày 30 tháng 4 năm 75 phải là ngày nêu cao lá cờ Bình Đẳng. Con người nên được đối xử bình đẳng như nhau.

Nhưng câu chuyện không được phép chấm dứt. Vẫn phải đi tiếp.

Tất cả cũng bắt đầu từ sự giả trá của chữ nghĩa.

Cái thuật dùng chữ để đánh lừa lòng người đã được xử dụng như một vỗ về ngày xưa. Nay cái thuật đó cũng được dùng lại; nhưng là cái bẫy. Mười ngày thực phẩm mờ mờ ảo ảo mười ngày tập trung. Tất cả đã bị đánh lừa và toàn thể chui vào rọ. Xã hội mới vẫn mang bộ mặt ma quỷ. Lần này nghiệt ngã hơn. Tuyệt đại đa số con dân miền Nam không có quyền sống.

Họ bị đẩy ra biển.

Họ bị quẳng vào tù.

Hoặc đời sống của họ bị hạ xuống tận cùng; nhiều khi phải đổi nhân phẩm lấy miếng ăn.

Và ngày 30 tháng 4 năm 75 chỉ là một ngày đổi đời mà thôi.

Ăn phải đũa của anh Viễn, tôi lại đã đi lan man. Hãy trở về với cuộc đời của Viễn. Bây giờ là cuộc đời Viễn - Hoàng Cung qua lời anh tâm sự. Tôi nhắc lại. Qua lời anh tâm sự. Bởi anh đã kể hết rồi. Và cuộc đời Viễn lúc này, cũng là cuộc đời tôi lúc này, cũng là cuộc đời biết bao người khác nữa. Cái cuộc đời đó đang lăn. Uể oải lăn. Trong vòng rào. Chỉ khác ở chỗ mỗi người lăn riêng một tâm sự mà thôi.

Viễn - Hoàng Cung đón nhận lệnh tập trung cải tạo các sĩ quan cấp úy rất thản nhiên.

“Thì cũng phải vậy thôi.” Viễn an ủi vơ. “Cũng phải mười ngày để biết đời sống mới thay đổi ra sao chứ. Chúng mình còn cả đời để sống cơ mà. Với dây tơ hồng em cầm, con diều này sẽ bay cao. Cứ tin anh đi. Rồi anh em mình sẽ có một đời sống tuyệt vời em ạ.”

Viễn chẳng cần an ủi. Hoàng Cung cũng vẫn yên tâm. Viễn chẳng cần hứa hẹn, động viên. Hoàng Cung cũng rất tin tưởng. Chị còn khuyếnh khích ngược lại chồng:

“Trình diện ngay ngày đầu anh ạ. Thêm một ngày ở nhà cũng chẳng là bao. Mình chấp hành ngiêm chỉnh bao giờ cũng tốt hơn. Để em sửa soạn đồ ăn cho anh mang đi.”

“Cũng chẳng cần lắm đâu. Muối đậu phọng thôi. Người ta kham khổ bao lâu nay. Mình ăn uống ngon. Dị lắm!”

Hoàng Cung đã chở Viễn đi trình diện cải tạo ngay hôm đầu tiên, theo lệnh gọi. Lúc chia tay vợ chồng cũng có bịn rịn đôi chút. Nhưng họ vẫn tin tưởng và cố làm vui lòng nhau. Trước khi đi vào cổng, Viễn còn khều vợ một cái, rồi ghé tai thì thầm:

“Nợ anh một ngày đấy nhé!”

Mười ngày trôi qua. Chẳng thấy học tập gì. Nhiều ngày trôi qua. Vẫn chẳng thấy động tĩnh gì. Viễn bắt đầu thấy tiêng tiếc. Anh tiếc vì đã lỗ mất một ngày thần tiên. Anh đã đem một ngày sống bên vợ để đánh cuộc lấy một điều vớ vỉn: “chấp hành nghiêm chỉnh bao giờ cũng tốt hơn”.

Đúng là đánh bạc với một tên đãi bợm!

Rồi nhiều tháng trôi qua kéo theo nhiều anh em tù nằm liệt giường. Số thực phẩm chúng tôi đem theo đã sạch boong. Số thực phẩm tích lũy trong cơ thể chúng tôi cũng đã teo tóp. Thời gian càng kéo dài, số người liệt càng lên cao.

Nhiều người thường bảo Cộng sản rất giỏi trong chiến tranh. Khi hòa bình, loay hoay chẳng biết làm ra sao.

Thực ra, nếu không sai thì cũng thiếu.

Bởi vì còn cái món cầm tù nữa. Bọn “chủ nhân ông mới” này đáng là bậc thầy thiên hạ trong cách bỏ tù đồng loại, nhất là bỏ tù người cùng một nước. Chúng chả mất quái gì, mà vẫn tận dụng được xương cốt của tù nhân. Này nhá. Hàng rào nhốt chúng tôi; chúng tôi làm. Nhà giam chúng tôi; chúng tôi xây. Thực phẩm nuôi chúng tôi; chúng tôi sản xuất. Và khi thiếu thốn, kiệt lực; chúng tôi viết thư ăn xin vợ con, thân nhân của chúng tôi.

Thế là ân huệ được ban ra: mọi cải tạo viên được viết thư về nhà. Kết quả các thùng quà được tới tấp gửi vào. Những người liệt đã ngồi dậy được. Những người còn khoẻ thì thêm da, thêm thịt.

Và chúng tôi lại đi lao động!

Nhớ ngày nào mới vào tù. Sau mười ngày vẫn chưa thấy đả động gì tới việc học tập. Có người lên tiếng hỏi. Lão quản giáo cười cười, vênh vênh cái mặt lên, ra giáng chúng tôi ngô nghê chẳng hiểu gì hết về cái lệnh rất rõ ràng của Ủy ban Quân quản. Nay lão phải làm phúc giảng giải cho rõ:

“Chúng tôi có bảo các anh đi tập trung cải tạo mười ngày đâu? Bảo các anh mang theo mười ngày ăn. Bởi vì gấp quá. Sau mười ngày Cách mạng mới đủ thì giờ lo thực phẩm cho các anh được.”

Khi ấy một anh bạn tù đã nói:

“Bài học thứ nhất trong trường cải tạo đấy nhé: Đãi bợm!”

Nay nhận được các thùng thực phẩm của gia đình gởi vào. Chúng tôi học được bài học thứ hai: Trấn lột!

Thư từ liên lạc được viết đúng theo tiêu chuẩn quy định. Toàn là những lời lẽ động viên nhau. Cớ sao chúng tôi lại lo lắng? Nay thì ngoài lo cho trong và trong lại lo cho ngoài. Cả trong lẫn ngoài, con dân miền Nam đều khốn đốn.

Môt hôm anh Viễn cho tôi biết:

“Vợ tớ có bầu.”

“Chúc mừng anh có con đầu lòng.”

Tôi chân thành mong cho anh. Anh cám ơn lời chúc của tôi bằng nụ cười mếu máo. Rồi nhẩm tính, anh bảo:

“Vậy là ăn Tết xong. Ra giêng sẽ đẻ.”

Từ đó anh bâng khuâng, ít nói. Anh hỏi nhiều hơn. Anh lắng tai nghe mọi người, nhất là những người đã có con. Anh hỏi tôi đủ thứ. Con tôi như thế nào? Sinh đẻ ra làm sao? Ăn uống cái gì tốt nhất? Rồi anh lẩm bẩm:

“Không biết mua những thứ đó ở đâu bây giờ?”

Tôi cũng kể cho Viễn nghe cái ngày tôi đi trình diện học tập. Thì cũng y chang như anh và rất nhiều người khác. Nghĩa là ngay từ ngày đầu tiên của lệnh gọi. Nhưng may cho tôi. Hôm đó tôi còn làm được một việc nhỏ cho vợ con. Tôi nấu được một nồi nước đủ mọi loại rau, dùng để pha sữa cho con gái tôi.

Viễn yên lặng ngồi nghe, chẳng nói hay hỏi thêm gì.

Dĩ nhiên chúng tôi đều hiểu vì sao dạo này Viễn u sầu và lặng câm. Nhưng chẳng ai giúp được gì cho anh. Trong đây mọi người ai cũng đành vậy. Chẳng còn làm sao khác hơn được.

Chúng tôi ăn xong cái Tết đầu tiên trong tù. Ra giêng chúng tôi có cái tang đầu tiên. Anh Nồng Chí Viễn bị bắn chết. Anh Viễn cùng hai người bạn tù cùng muốn vượt trại đêm qua. Viễn bị bắn chết trong vòng rào trại. Hai người bạn kia đang bị nhốt trong hai thùng sắt phơi nắng giữa sân.

Xác Viễn nằm cong queo trên con đường vòng quanh khu nhà ngủ của anh em tù. Con đường này còn quá xa mới tới hàng rào kẽm gai. Giữa con đường với hàng rào còn mấy luống rau của tù nhân canh tác. Những người tù trong dẫy nhà gần chỗ Viễn nằm chết, có nghe tiếng anh la:

“Tôi trúng đạn rồi. Đừng bắn nữa!”

... Súng vẫn nổ tiếp.

Xác Viễn nằm đấy suốt ngày hôm ấy. Cái ba lô căng phồng vẫn vắt sau lưng. Thỉnh thoảng một tên quản giáo tới. Hắn dùng chân đá vào xác Viễn, mắt liếc về phía chúng tôi. Hắn xỉa xói chửi cái xác bằng những lời lẽ tục tĩu. Hắn muốn dằn mặt chúng tôi.

Có hai bài học liên tiếp.

Bài thứ ba: Dã man!

Bài thứ tư: Mất dậy!

Ít lâu sau, hai người cùng vượt trại với Viễn hôm đó được ra khỏi thùng sắt. Hai anh cho chúng tôi biết. Viễn mang theo quá nhiều đồ. Toàn vật dụng do Viễn chế ra để làm kỷ niệm sau này: ca uống nước, lược, vòng đeo tay. Khi di chuyển, những thứ đó va vào nhau trong ba lô, gây tiếng động, tên vệ binh mới biết. Hai anh phải nằm bẹp dưới luống rau, cho khuất, mới thoát chết.

Sau khi Viễn bị bắn chết. Nhiều thùng quà của Hoàng Cung vẫn được gửi vào. Không có ai nhận. Tất cả đều rơi vào tay quản giáo.

Bài học thứ năm: Lờ tịt!

...

Ba năm sau, tôi được thả về.

Tôi đã chán ngấy từ lâu cái việc ghi lại những bài học trong tù. Đó là việc làm vô ích. Bài học thì đầy rẫy ra đấy. Tất cả đều được phô bầy ngay trước mặt. Lụa là ngày xưa dùng để trang điểm cho con người. Miếng vải bây giờ còn khó kiếm, nói chi đến làm đẹp. Thôi thì cứ việc phơi bầy thân xác, phơi bầy mọi xấu xa. Có gì lạ đâu mà phải đắp điếm. Thế là xã hội mới mang bộ mặt nhăn nhó của những người lặng câm...

Chị Hoàng Cung yên lặng ngồi nghe tôi kể chuyện anh Viễn bị bắn chết ra sao. Tôi có được địa chỉ của chị từ một thùng quà chị gửi cho anh.

Tôi cũng nhắc lại cái câu Viễn vẫn thường tâm sự với tôi hồi anh còn sống:

“Nghe hoài mình không để ý, nên cứ tưởng là thường. Ái ân. Hay thật! Ngẫm nghĩ kỹ mới thấy hay. Ái ân. Mình phải biết ơn người trao thân cùng mình.”

Một quan điểm về tình yêu rất cao thượng mà vẫn giữ được tính người.

Chị Viễn vẫn ngồi lặng câm.

Lòng chị đã lạnh băng, khô cứng thành viên đá cuội. Trái tim chàng Trương kết tinh thành khối ngọc. Giọt nước mắt nàng Mỵ thấm mát lòng chàng, đồng thời cũng làm trôi đi những xót thương của người đời. Xác anh Viễn phơi khô trên con đường bao quanh trại tù. Giọt máu nào cho viên đá cuội kia?

Đứa con trai của hai người vẫn níu lấy áo mẹ. Bé trai thừa hưởng được từ bố nó, anh Viễn, cái dáng hình cao lớn. Nhưng người nó khảnh nên trông hơi lòng khòng. Tôi chợt nhớ và kể lại cho chị nghe về những bâng khuâng và lo lắng của anh Viễn từ khi được tin chị có bầu thằng nhỏ.

Nghe chuyện này, chị khóc. Nước mắt người mẹ hiền, chẩy xuôi thành hai hàng trên khuôn mặt hơi trắng xanh. Nhiều nét xa xưa, như lời anh Viễn từng hãnh diện về vợ, vẫn còn đâu đó trong dáng dấp và khuôn mặt này. Bằng lời nói nhẹ vừa đủ cho tôi nghe, giọng chị có hơi da diết luyến thương:

“Thì ra chính cái tin vui ấy đã giết bố nó chết!”

Ngừng một chút, chị ngao ngán tiếp:

“Vợ chồng chúng tôi không có giấy hôn thú anh ạ. Cháu nó phải lấy họ mẹ, tên là Lê Chí Viễn. Không biết có xóa được cái lý lịch con của sĩ quan ngụy hay không?”

Chúng tôi giữ im lặng. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng. Tôi nghĩ tới con gái tôi. Nó trông đẹp gái và cũng sắp tới tuổi đến trường. Vợ chồng tôi sẽ phải cố thêm ít tiền để sắm cho nó bộ quần áo lành lặn.

Không biết chị Viễn đang nghĩ gì?

Cháu Lê Chí Viễn vẫn níu áo mẹ, nhèo nhẹo khóc. Có vẻ nó muốn đòi cái gì.

Tôi chợt nhớ đã tới giờ phải về. Bấy giờ đã quá trưa.

CVA Trần Trị Chi

* * *
THÊM LẦN NỮA YÊU EM

bây giờ là buổi sáng

vuột tỉnh giấc mơ hiền

trời ban mai sương nhẹ

mờ màu – trắng hồn nhiên

đã qua thêm một tối

chìm thơ em một miền

ngày đêm thương trống vắng

mối tình – một ngả nghiêng

có bao giờ ta lại

buổi sáng lẫn buổi chiều

cùng yêu thương và nhớ

tràn giờ ngập tình nhau

thương yêu trong khóe mắt

ngày lẫn đêm một màu

tình ta yêu chan chứa

rộn ràng lại – Nhớ nhau

bây giờ – thêm lần nữa

những ngày tháng – thêm em

thêm tình – rơi gió thoảng

lần nữa thêm!... – Yêu em

trầnanhlinh


Chùm hoa Cosmos

CVA Vũ Ngọc Ruẩn

Lời tòa soạn: Sau đây là một đoạn văn trong truyện dài “Chùm hoa Cosmos (Hoa Cúc Bướm)” của CVA Vũ Ngọc Ruẩn. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả.

Cùng với tin may mắn đó, Đoàn đã ngỡ ngàng khi Mai cho biết vừa nhận được điện thoại từ gia đình. Báo tin Lĩnh bị tử trận trong một phi vụ ở vùng 4, anh để lại người vợ mới cưới được gần 2 năm và đứa con trai chưa trọn một tuổi!

Mặc dầu với Lĩnh, Đoàn đã có một dấu vết không vui trong bữa tiệc kỷ niệm 5 năm ngày hợp hôn của vợ chồng Khoa. Nhưng tin buồn đó đã làm Đoàn lịm người, thương cảm cho một người mà anh chỉ quen biết thoáng qua trong một trạng huống thiếu vui vẻ. Dù sao, Lĩnh trong con mắt của Đoàn vẫn là một người đàn ông có nhiều nét oai hùng, cao ngạo của người thanh niên thời chiến. Đoàn cũng ngậm ngùi đau xót cho cả một thế hệ không may trong lứa tuổi của anh và Lĩnh. Lứa tuổi được sinh ra, lớn lên trong thời điểm tối tăm, máu lửa, chiến tranh của đất nước. Đã nhiều năm qua, từ ngày Đoàn trưởng thành, bước vào tuổi của chiến tranh. Gần như cứ vài tháng anh lại nhận được tin một vài người bạn phải trả giá cho cuộc chiến kéo dài qúa lâu!  

    

Đoàn nhớ lại những câu nhục mạ của Lĩnh dành cho mình trong bữa tiệc hơn hai năm về trước. Mặc dầu có vài điều đụng chạm vào tự ái, làm cho Đoàn buồn lòng, tức giận. Nhưng sau thời gian thụ huấn khóa sĩ quan, anh nhìn rõ hơn, hiểu rõ hơn tâm trạng và nỗi cực nhọc, hiểm nguy của người lính chiến. Anh cảm thấy những lời nhục mạ của Lĩnh có điều gì hợp lý và đúng sự thật!

Thật vậy trong cuộc chiến tranh tương tàn đầy tang thương này. Những người may mắn còn sống sót, dù với bất cứ lý lẽ trực tiếp hay gián tiếp nào. Không ai có thể phủ nhận được, những thiếu may mắn, bất hạnh của những người như Lĩnh là một thiệt thòi to lớn của họ. Cái chết, cái mất mát của họ, chính vì họ đã dành sự sống và may mắn cho những người còn lại.

Ngày an táng Lĩnh, Đoàn đã đề nghị với Mai lấy vài ngày nghỉ về Sàigòn tham dự, chia buồn với vợ con của Lĩnh. Lần đầu tiên anh đến nhà và biết mặt tất cả những người thân trong gia đình Lĩnh. Nhìn bức ảnh chân dung, đặt trên chiếc bàn nhỏ trước chiếc quan tài phủ lá quốc kỳ, Lĩnh ngạo nghễ, oai hùng với cặp lon Đại úy gắn trên hai cổ áo của bộ đồ bay mầu xanh lá mạ. Đôi mắt anh sáng ngời đầy vẻ anh linh, thu hút sự kính ngưỡng của Đoàn và Mai khi hai người đứng trước chiếc bàn thờ nghi ngút khói hương.

Đoàn trầm mặc, nhìn vào đôi mắt Lĩnh như muốn xác nhận trước linh hồn anh. Những câu trách cứ của anh dành cho Đoàn trong bữa tiệc không vui ngày trước là sự thật. Đoàn mong anh tha thứ cho những câu đối chất, thiếu cảm thông của mình đối với anh.

Đứng bên cạnh Đoàn, Mai ướt đẫm nước mắt. Nàng khóc thương cho người đàn ông đã một lần có ý định đến với nàng, dành cho nàng những cảm tình đặc biệt. Nhưng chỉ vì thời gian không đúng lúc, duyên tình không hoà hợp để rồi gây ra một vài ngăn cách không vui! Ngày nay, anh đã phủi bỏ tất cả để ra đi miên viễn. Nhưng âm thanh tiếng nói nhiệt tình, vững mạnh, cũng như bóng dáng cao ngạo tự tin của anh, người đàn ông có qúa nhiều ưu ái trong xã hội, vẫn còn lưu lại trong trí nhớ nàng với rất nhiều cảm giác kính trọng.

CVA Vũ Ngc Run


QUY NHƠN,

MỘT KỶ NIỆM BUỒN

CVA PHẠM-VĂN-NHUỆ

         Tới tháng 8 năm 1960, “Thượng cấp” đã đày ải chúng tôi gần được một năm. Lũ chúng tôi 33 “mạng cùi”, gồm 3 Sĩ quan cấp bậc Trung úy và Chuẩn úy, 5 Hạ sĩ quan và 25 Binh sĩ ốm đau bệnh hoạn, được lệnh từ Nha Trang ra Qui Nhơn, thi hành một công tác “Đội đá vá Trời”: Thành lập một kho đạn khổng lồ, Đại Đội 524 Kho Đạn dược Tiền Tuyến tại Đèo Son, bên ngoài Thị Xã Qui Nhơn nghèo nàn, chỉ với vỏn vẹn 33 khẩu súng Carbine M-1, ngoài ra chẳng có gì khác, kể cả thực phẩm và nơi che mưa nắng.

         Các quan lớn thượng cấp của chúng tôi ngày đó, chắc đã có những bộ óc siêu việt hơn người, các vị chỉ ngồi trong văn phòng sang trọng, đầy đủ tiện nghi tối đa, máy lạnh chạy êm ru suốt mùa hè, nên tưởng tượng việc thành lập và quản trị một kho đạn to lớn như Kho 524 Đạn dược tại Quy Nhơn, dễ dàng như việc xuống Câu lạc bộ Đơn vị uống bia, tán dóc những chuyện Trời, Trăng, Mây, nước . . .như quý vị vẫn thường “tự cho phép” trong giờ làm việc. Có thể quý Quan còn nghĩ rằng 33 mạng quân nhân yếu đuối và bệnh hoạn chúng tôi toàn là Thiên Sứ, đều có sức khỏe Hercule, dư sức thay cho khoảng 300 quân dân chính, cùng cả hàng trăm quân xa cùng cơ giới, là quân số và quân dụng căn bản không thể thiếu của một Kho đạn dược tiền tuyến, có nhiệm vụ cung ứng bom đạn cho toàn thể các Đơn vị Hải, Lục và Không quân, đồn trú trong Quân Khu 2 lúc bấy giờ.

         Cá nhân tôi ngày đó, một Trung Úy xuất thân từ Trường Võ Bị Đà Lạt. Tôi đã có nhiều kinh nghiệm lúc điều hành kho đạn Nha Trang, nên biết trước trách nhiệm của kho đạn tân lập Quy-Nhơn sẽ cực kỳ khó khăn, chưa kể tới quân số của kho đạn mới thành lập này chỉ là các quân nhân bất khiển dụng của các kho đạn Nha-Trang, Ban-mê-Thuột và Pleiku muốn thải ra. Nhưng đã mang nghiệp lính, đã được dậy câu “Thi hành trước, khiếu nại sau” ghi rõ ràng trong Quân kỷ, nên dù không muốn cũng phải tuân hành, cho dù nhiều khi đến lúc được khiếu nại thì mạng sống của mình cũng không còn. Tôi cay đắng lãnh chức vụ Đại-Đội-Trưởng và đứng ra thành lập Kho đạn Quy-Nhơn, bằng số quân nhân quá “khiêm tốn” nói trên.

         Nhiệm vụ chính của một kho đạn nơi cửa biển như Quy Nhơn là tiếp nhận bom đạn viện trợ, chở từ ngoại quốc đến hải cảng Quy-Nhơn bằng những tầu buôn to lớn như những trái núi nổi, đậu tuốt ngoài khơi, mỗi “núi nổi” chứa cả 2, 3 chục ngàn tấn đạn. Các “sà-lan” chuyển dần bom đạn từ tầu vào bến, mỗi chuyến khoảng 2, 3 trăm tấn. Ngoài các chuyến tầu buôn dân sự này, kho đạn còn phải vài tuần một lần, tiêp nhận những chuyến tầu Hải Quân cũng chở bom đạn, nhưng từ kho trung ương Thành-Tuy-Hạ đến bến cảng Qui Nhơn, trong chương trình “điều hòa nội địa”. Tính chung, rồi chia trung bình thì mỗi tháng kho đạn Quy nhơn chúng tôi phải nhận không dưới 10 ngàn tấn đạn từ các tầu biển Dân sự và Quân sự nói trên.

         Bom đạn sau khi nhập kho, một phần nhỏ để lại dùng yểm trợ cho các Đơn vị chiến đấu đồn trú tại 2 tỉnh Bình-định và Phú-yên, phần lớn hơn được xếp lên các quân-xa chuyển tiếp tới 2 kho đạn khác nằm sâu trên cao nguyên Pleiku và ra miền bắc Quảng-Ngãi. Như vậy dù không muốn, mỗi tháng chúng tôi cũng bắt buộc phải khuân vác một trong lượng không dưới 20 ngàn tấn bom đạn, bằng những đôi vai gầy cùng hai cánh tay yếu đuối.

         Việc khuân vác bom đạn bằng sức người làm chúng tôi điêu đứng. Với nhiều chục ngàn tấn bom đạn đè nặng trên 33 đôi vai gầy, một chuyện tưởng như “nói chơi”, nhưng chúng tôi vân phải làm, vì đó là “sự thật”, là “nhiệm vụ”, là “ý muốn” của Thượng cấp đầy quyền uy của chúng tôi. Vây mà không rõ vì lý do huyền bí nào, chúng tôi không ai chết vì vác đạn, chúng tôi vẫn sống dù lây lất để cố công biến Đại Đội 524 Kho Đạn dược Tiền tuyến thành một Đơn vị nổi danh nơi đất Quy Nhơn đầy sỏi đá cùng nắng lửa.

             Ngoài công tác khuân vác là chính, chúng tôi còn có cả trăm việc phải làm như: kế toán, tồn trữ, kiểm tra, phá hủy bom đạn hư hỏng v.v. . , rồi mỗi tháng vài lần chuyển tiếp hàng ngàn tấn bom đạn tới hai kho đạn khác tại Quảng Ngãi và Pleiku. Mỗi lần gửi hàng đi xa như vậy, Kho Đạn chúng tôi phải cung cấp quân nhân cơ hữu đi áp tải đạn dược, chính việc “áp tải” vô duyên này là câu chuyện tôi muốn viết hôm nay.

         Công tác “áp tải đạn dược” mà kho đạn chúng tôi phải làm ngày đó, không có nghĩa thông thường như mọi người nghĩ, là dùng một lực lượng quân số hùng hậu để bảo vệ đoàn xe trên đường di chuyển, chống trả các cuộc phục kích cùng tấn công của đối phương. Nó giản dị hơn nhiều: chỉ định một quân nhân cấp bậc Binh Nhất hoặc Binh Nhì, mang một bản ghi số lượng đạn dược di chuyển, theo đoàn xe từ kho gửi tới kho nhận hàng. Sau khi kiểm nhận, người này mang bản “Phiếu gửi hàng” có chữ ký nhận về kho gửi là xong nhiệm vụ. Việc “áp tải” này thực sự không cần thiết, vì chỉ là công việc của Quân Bưu, nhưng vì đã áp dụng từ lâu, nên không ai giám tự ý bỏ. Mỗi đoàn quân xa chở đạn gồm khoảng 4, 5 chục xe vận tải GMC, thường có hàng trăm quân nhân Đơn vị Bộ binh theo hộ tống, bảo vệ an ninh cho đoàn xe trên đường di chuyển. Về phía kho đạn chỉ có một “áp tải viên”.

         Với số quân nhân ít oi của Kho đạn chúng tôi ngày đó, việc cử một quân nhân làm “áp tải viên” là một phí phạm không cần thiết, chưa kể tới tính mạng anh ta có thể hiểm nguy do thiếu kinh nghiệm chiến đấu, vả lại anh ta theo đoàn xe không phải để chiến đấu. Thêm vào đó, một chi tiết nhỏ khác ít ai biết tới là ngân quỹ gia đình anh ta vốn đã thiếu thốn, sẽ càng thêm trầm trọng vì phải tiêu pha những khoản tiền không dự liệu. Quân nhân cấp nhỏ như anh, đều phải tự túc mỗi khi đi công tác xa, họ không bao giờ được bồi hoàn “công tác phí” như các cấp Hạ sĩ quan và Sĩ Quan cao hơn họ.

         Quân nhân cấp nhỏ của Kho Đạn chúng tôi ngày đó lại không nhiều, một số có gia đình, tạm thời tá túc trong những căn nhà lợp tole dột nát gần đơn vị. Mỗi lần phải đi công tác như vậy là một biến cố lớn lao cho toàn trại gia binh nghèo nàn này, họ có lệ tuần tự chia nhau, ai tới phiên là phải lên đường, không ngập ngừng hoặc tìm cách tránh né.

         Lần đó tới phiên Binh nhì Nguyễn văn Mùi, nhận công tác làm áp tải viên, theo đoàn xe Quân vận, từ Qui Nhơn tới Kho Đạn Pleiku. Đoàn quân xa gồm khoảng 50 xe vận tải GMC đã “lên hàng” xong từ buổi chiều, đậu nối đuôi thành một hàng dài trong kho đạn, sẵn sàng lên đường vào sáng sớm hôm sau. Mọi quân nhân của kho đạn đã về nhà tắm rửa nghỉ ngơi, mọi tài xế của Đơn vị Quân vận cũng phải ra khỏi kho đạn, cắm trại ngoài bãi đất trống phía Đèo Son, nổi lửa nấu cơm và nghỉ qua đêm. Vì lý do an ninh, không một ai được ở lại trong vòng rào kho đạn ban đêm, ngoại trừ nhân viên an ninh được chỉ định.

         Tôi một mình lái xe jeep thăm một vòng kho đạn rộng mênh mông, nhìn ngó sơ qua các dẫy nhà kho chứa đạn kiểu Igloo kiên cố nằm chìm một nửa trong lòng đất, kế tới thăm đoàn xe Quân vận trên đầy đạn, nằm nối đuôi nhau thành một hàng dài trên “Đại lộ Bắc Bình” dọc “hồ Than Thở, khu A”. Chúng tôi đặt những tên như vậy để dễ phân biệt vị trí, trong một kho đạn rộng lớn nhiều cây số vuông, cùng nhiều đường chằng chịt. Tôi chợt chú ý tới một bóng người thấp thoáng bên một xe chở đạn, nên lái xe vòng lại.

         Binh nhì Nguyễn-văn-Mùi giơ tay kính cẩn chào tôi, anh giải thích lý do còn ở lại một mình trong kho đạn lúc này: “Em tìm chiếc xe nào còn mới, chạy êm và chở nhẹ nhất, để gửi ít quân trang cá nhân, sáng mai em chỉ lên xe là xong”. Rồi anh ngập ngừng nói với tôi, như có ý phân trần:”Em kẹt qúa,Trung úy! Em đòi vợ em ít tiền để đi công tác ngày mai, nhưng rủi quá nó chẳng còn đồng nào, thành ra kỳ này em đi công tác “tay không”, đành phải nhờ tụi bạn em ở kho Pleiku cho ăn rình vậy”.

         Tôi ra Qui Nhơn dù đã gần năm, nhưng gia đình tôi chỉ mới đoàn tụ với nhau chừng hơn một tháng, vợ tôi dậy học tại Nha Trang nên không thể mỗi lúc đi theo, phải qua nhiều thủ tục phiền phức và rắc rối để xin thuyên chuyển theo chồng, nên thực tình chính chúng tôi cũng đang xính vính về tiền bạc. Tôi chợt nhớ sáng nay vợ tôi có bỏ vào túi cho tôi khoảng 200 đồng, đề phòng những việc phải tiêu bất ngờ. Tôi rút tiền ra đếm, rồi trao cả cho Mùi, và nói: “Tôi chỉ còn có bấy nhiêu thôi, cho cậu để ăn đường, khỏi phải trả lại tôi, chúc cậu đi công tác bình an, rồi sớm về với vợ con”. Mùi há hốc miệng nhìn tôi, không tin là sự thực, anh cầm tiền mà quên cả cám ơn.

         Sáng hôm sau tôi có cuộc họp hàng tuần tại Bộ chỉ huy 2 Tiếp vận, nên về tới kho đạn hơi trễ. Anh Đại đội phó đón tôi ngay trước cổng trại và nói với tôi:” Đoàn xe chở đạn đi Pleiku dự định khởi hành vào lúc 8 giờ, nhưng thằng Mùi nhất định không lên xe, nó nói còn phải chờ để chào Trung úy, nó đang đợi ở trong phòng”. Tôi hơi ngạc nhiên cho câu chuyện bất thường này, vì đã cả hàng trăm chuyến xe chở đạn lên Cao nguyên và ra miền Trung, chưa có người áp tải viên nào cầu kỳ chào hỏi như vậy.

         Mùi chờ tôi tại văn phòng chắc đã lâu, anh rụt rè phân trần việc cản trở đoàn xe không cho di chuyển, anh nói: ”Ông Đại úy chỉ huy đoàn xe la em quá trời, nhưng em năn nỉ ông ta, em có việc riêng phải chờ Trung úy: Vợ em căn dặn trước khi đi phải vào cám ơn Trung úy đã cho tiền, em chia lại cho mẹ con nó một nửa để đong gạo, bây giờ xin chào Trung úy em đi công tác”. Nói xong Mùi chạy vội ra cổng trại, leo lên xe. Tôi tuy hơi bực mình vì chuyện vớ vẩn này đã làm chậm trễ giờ xuất hành của đoàn quân xa, nhưng cũng linh cảm thấy một chuyện gì có vẻ bất thường, chưa bao giờ xẩy ra ở bất cứ nơi nào, dù trước đây tôi đã có nhiều năm làm việc tại nhiều kho đạn khác, cũng như đã gửi nhiều đoàn xe chở đạn như vậy.

Nhiều công việc phải thanh toán trong ngày đã làm tôi quên bẵng đoàn xe chuyển vận đạn dược lên Pleiku, cho tới . . .

         Khoảng xế trưa hôm đó, Thiếu tá tiểu khu phó Tiểu khu Bình Định điện thoại khẩn cấp tới kho đạn cho tôi: ”Anh Nh. phải không? Tôi có tin quan trọng cho anh đây, tôi vừa được Phòng Hành quân / Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn điện thoại cho biết, đoàn xe chở đạn của anh bị Việt cộng phục kích trên quốc lộ 19, quãng đèo Mang Giang, mình “bị” rất nặng, Quân Đoàn đã gửi quân tiếp viện, nhưng chưa rõ chi tiết ra sao, có tin gì khác tôi sẽ cho biết sau . . .” Tôi chưa kịp hỏi thêm thì ông gác máy.

         Tôi có cảm tưởng như đầu mình bị vật gì đập mạnh, mắt hoa lên, tim đập loạn xạ trong lồng ngực. Tôi nghĩ ngay tới Mùi, người binh nhì mới tới chào tôi sáng nay để đi công tác áp tải đạn dược lên cao nguyên, Mùi đang ở trong đoàn xe bị phục kích, lại “bị rất nặng”. . , tôi bối rối và hốt hoảng như chính tôi đang trong đoàn xe bị phục kích vậy. Mãi lúc khá lâu tôi mới dần bình tĩnh lại để quyết định mình phải làm gì, tôi gọi anh Đại đội phó dặn coi Đơn vị, rồi lái xe sang Tiểu khu Bình Định tìm hiểu thêm tin tức.

         Tiểu khu đông nghẹt những quân xa và lính, họ sửa soạn đi tiếp viện, cấp cứu và tải thương. Ông Trung tá Tiểu khu Trưởng căn dặn ông Đại úy chỉ huy đoàn xe: ”Sau khi cấp cứu thương binh, anh cho gửi những toán nhỏ khoảng 2, 3 người vào sâu trong rừng, để tìm kiếm những người còn sống sót hiện đang ẩn trốn nơi lùm cây, hốc đá nào đó. Phải gọi thực lớn, làm sao cho các người này biết là “quân mình” tới cứu họ, nếu không họ không giám ra đâu, họ sợ tụi VC cũng sẽ giả quân mình làm vậy, ai không biết mò ra là “bị” liền với chúng”.

         Tôi vì quan tâm mạng sống của Mùi, nên ngỏ ý muốn theo đoàn quân tiếp viện này lên đèo Mang Giang, nhưng ông Trung tá Tiểu khu trưởng gạt ngang: ”Các anh là lính Tiếp vận, biết gì về trận mạc, các anh lên đó không ích lợi gì, chỉ làm cản chân người khác, chưa kể tới việc người ta phải bận tâm bảo vệ các anh. Anh về kho kiểm điểm lại số lượng đạn, xem thiệt hại bao nhiêu”.

         Tuy không được đi theo đoàn xe tiếp cứu, nhưng cũng từ lúc đó tôi ngồi đứng không yên, tôi không quan tâm nhiều tới số đạn bị mất, mà chỉ bồn chồn lo lắng cho số phận của Mùi. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi gặp chuyện này, chuyện một người lính, một người chiến hữu thân thương của tôi hiện trong hoàn cảnh không biết sống chết ra sao. Tôi chỉ thị cho anh Đại đội phó, cử người túc trực tại Quân y viện Quy Nhơn để báo cho tôi biết lúc nào đoàn xe tản thương về tới. Tôi thầm cầu nguyện cả Chúa lẫn Phật cứu cho người bạn tôi thoát hiểm trở về. Tôi lý luận theo ý riêng để tự trấn an: “Đoàn xe bị phục kích gồm cả trên trăm nhân mạng, trong khi lính kho đạn chỉ có một người, nếu chẳng may có thiệt hại 100% thì mới tới người lính của tôi được”. Dù tự trấn an như vậy, tôi vẫn lo lắng không yên.

         Mãi tới chiều gần tối, anh quân nhân túc trực tại Quân y viện Quy Nhơn điện thoại về cho tôi: ”Đoàn xe di tản thương binh đã về tới Qui Nhơn, nhiều người bị thương lắm nên tôi chưa biết có anh chàng Mùi của mình không, Trung úy xuống bệnh viện ngay nhé”. Nói xong anh gác máy, dù tôi còn muốn hỏi thêm. Chỉ ít phút sau, anh tài xế đã đưa tôi tới Quân y viện Quy Nhơn. Tôi chạy lao vào nơi nào có đông người, mà không cần biết phòng lựa thương hay điều trị. Một cô y tá bảo tôi: ”Bệnh viện mới nhận được bấy nhiêu, số người chết đã được chở xuống nhà xác, ở đây chỉ là thương binh mà thôi, nhiều vậy mà vẫn chưa chở hết, ngày mai sẽ còn thêm nữa”.

         Số thương binh thực nhiều, ước lượng không dưới 3 chục người, tơi tả trên các “Băng ca” bê bết máu, la liệt khắp nhiều phòng, nằm ra cả ngoài hành lang bệnh viện, chờ được lựa theo thương tích nặng nhẹ để điều trị. Người nằm bất động không rõ còn sống hay đã chết, người khác rên la nho nhỏ, tay chân quờ quạng dãy dụa trong vô thức. Các bác sĩ và y tá đi lại tấp nập, làm việc luôn tay không ngưng nghỉ. Tôi khó khăn len lỏi giữa hai hàng băng ca, tới từng giường bệnh để tìm kiếm người bạn mà tôi thực tình cầu mong không có mặt tại đây. Tôi nghiêng người, nghẹo cổ cố tìm tư thế thuận tiện nhất để nhận diện người bệnh, mà không giám đụng vào thân thể, sợ gây thêm đau đớn cho họ. Sau cả giờ cố công tìm kiếm, tôi tuy thất vọng nhưng cũng thấy đôi chút nhẹ nhõm vì không thấy anh Mùi trong số thương binh bất hạnh này.

        Còn một nơi nữa phải tìm là nhà xác, một nơi mà chắc chắn không một người nào muốn tới, dù giữa ban ngày. Tôi cũng chẳng gan dạ hơn ai, nhưng không thể né tránh, nên bảo anh tài xế đưa tôi tới nhà xác, nằm phía sau bệnh viện và rất xa các phòng điều trị.         Lúc này trời đã tối mịt, khu nhà xác lại tối thui không một bóng đèn. Anh tài xế dường như bắt đầu sợ hãi, run run đề nghị với tôi: ”Hay để sáng mai hãy tới, Trung úy! đêm nay “họ” vẫn còn nằm đây mà, đi đâu được!” Thấy tôi tỏ vẻ không chịu, anh nói thêm : ”Em để máy xe chạy, bật đèn pha soi qua cửa kính, rồi em đi bộ ra cổng nhà thương đứng chờ Trung úy. Khi nào xong, Trung úy lái xe ra cổng sẽ có em chờ ở đó”. Nói xong, không chờ tôi trả lời chấp thuận hay không, anh “pha” đèn cực sáng, rồi bỏ xe chạy bộ trở lại đường cũ, phía cổng ra vào.

         Còn lại một mình, tôi cũng thấy nao núng ở nơi ghê rợn này. Nhà xác mới xây, hay mới tân trang lại không rõ, gồm 2 phòng không mấy rộng, tường quét vôi một mầu trắng lạnh lẽo, nền nhà tráng xi măng nhưng trống hốc, không có bất cứ một vật dụng gì. Nhà xác còn có các khuôn cửa kính rất rộng, nhờ đó phía trong phòng có được một ít ánh sáng của chiếc đèn xe jeep chiếu qua. Phòng cũng chưa có lấy một ngọn điện, nên tạm thời soi sáng bằng một vài ngọn nến leo lét, không biết do ai thắp, cắm trên một thùng đạn đặt giữa mỗi phòng. Không hiểu khi những ngọn nến này cháy hết, có còn được ai thắp thêm nữa hay không ?

         Xác chết thực nhiều, ước lượng không dưới 20 tử sĩ, được đặt nằm la liệt ngay trên mặt sàn xi-măng lạnh. Tử thi tuy được sắp xếp ngay ngắn nhưng không theo một thứ tự nào, đầu người này quay mặt vào chân người nằm cạnh. Xác nào cũng bê bết máu, quân phục rách bươm, nhầu nát và ướt sũng. Nét mặt mọi xác đều lộ vẻ kinh hoàng, dúm dó tới mức ghê rợn, không dễ nhận diện. Rất nhiều bộ mặt bị nát bấy, tím ngắt, từ hai lỗ mũi chảy ra hai vệt nước xám đen, đặc sệt, không rõ là máu hay bùn đất.

         Phòng quá tối, ánh đèn xe jeep chỉ chiếu sáng lên tường vôi trắng, rồi phản chiếu một ánh sáng lờ mờ xuống những khuôn mặt méo mó vì thương tích, nên dù cố gắng cũng không cách nào nhận diện. Cuối cùng tôi dùng ngọn nến trên thùng đạn soi sát vào mặt từng người. Mặt tôi ngó nghiêng rồi ngó thẳng, quay tới rồi quay lui, cố tưởng tượng một nét bình thường của người chết, để liên hệ tới nét mặt của Mùi, nhưng cố gắng mấy cũng không thành công, tôi chẳng nhận diện được ai cả.

         Nhà xác chưa có mùi hôi thường lệ, nhưng mùi máu tanh thì thực nồng, đặc biệt không khí trong phòng hình như lạnh xuống, làm tôi phát run, hai hàm răng dù nghiến chặt mà vẫn va vào nhau lộp cộp. Tôi cố gắng tự trấn an, nhưng vẫn có cảm giác rờn rợn, tóc gáy đứng dựng vì như thấy Tử thần đang lẩn khuất đâu đây. Một vài tiếng động nhỏ bất thường có lẽ do chuột hoặc tiếng côn trùng khiến tôi quay vội nhìn về phía sau lưng, tôi có cảm tưởng một xác nào đó đang từ từ đứng dậy, lừng lững đi về phía tôi. Mùi máu tanh làm tôi hoa mắt, lợm giọng, ói khan.   Mãi cả giờ sau tôi mới cố gắng làm xong công việc cực kỳ khó khăn, mà chắc chắn không bất cứ ai có can đảm, hoặc điên khùng mất trí mới làm như mình. Hai ống quần trận đang mặc, từ đầu gối xuống bàn chân ướt sũng máu, hoặc chất lỏng gì tương tự, tay tôi cũng ướt máu vì phải lật mặt tử thi để nhìn cho rõ. Dù tự trấn an là các tử sĩ nằm đây đều là đồng đội của mình, là bạn với mình, lúc sáng nay còn tay bắt mặt mừng . ., nhưng tôi vẫn không sua đuổi được nỗi sợ hãi tuy vô hình, nhưng đang “hiện diện” tại ngay đây. Tôi run run cắm lại ngọn nến trên thùng đạn, rồi vội vã ra khỏi nhà xác như trốn chạy, lái xe ra cổng nhà thương tìm được người tài xế, mà tay vẫn còn run.

         Trời tối đã lâu, tôi lại chưa ăn một chút gì từ sáng, nhưng vẫn không thấy đói. Tôi bảo anh tài xế đưa tôi về Kho đạn trước khi về nhà. Vào văn phòng, tôi tháo bỏ đôi giầy cao cổ và bộ quân phục nhơ nhớp máu, rồi mang mọi thứ ra bờ hồ nước mặn rộng mênh mông cạnh kho đạn, cuộn bộ quân phục và đôi vớ nhét vào một ống cống gần đó, còn đôi giầy trận tôi rửa thực sạch cả trong lẫn ngoài, với ý định sẽ dùng lại nó khi khô hết nước. Rồi chỉ với quần đùi cùng áo lót, tôi bảo anh tài xế đưa tôi về nhà.

         Vì chờ tôi từ sáng tới khuya trong tình trạng bất an, vợ tôi đón ngay từ cửa, nàng không hỏi gì thêm vì anh Đại đội phó đã điện thoại báo cho nàng việc tôi về trễ, nàng lấy quần áo pyjama cho tôi thay, rồi lui cui hâm lại đồ ăn đã nguôi lạnh vì chờ tôi đã quá lâu. Các con tôi vẫn còn thức, đang học bài, chúng thấy bố về nhà với độc quần áo lót, bộ mặt thiểu não bất thường, nên chẳng đứa nào giám đến gần nhõng nhẽo líu lo như thông lệ. Biết tôi nhọc mệt lại đói vì từ sáng không ăn một chút gì, vợ tôi cặm cụi làm cho tôi một món đặc biệt mà tôi thường ưa thích : Một miếng beefsteak lớn bằng cả bàn tay, cùng với cà chua chín thái mỏng và khoai tây chiên vàng, lại thêm một ly rượu chát đỏ, chúng tôi để dành từ lâu, chỉ dùng khi có “đại tiệc”.

         Tôi ngồi vào bàn, vì mệt nhọc nên cũng chẳng muốn ăn, mắt lơ đãng nhìn miếng beefsteak mà vợ tôi đã trân trọng và khổ công sửa soạn từ chiều. Miếng thịt dầy dặn, chiên thực khéo nên vừa đủ chín mà không cháy, trên mặt miếng thịt mầu nâu đậm còn rịn ra một chất nước hồng hồng. Đột nhiên tôi nghĩ tới cảnh nhà xác, tới các bộ mặt nát bấy của các tử sĩ, rồi nhìn lại miếng beefsteak sắp ăn, thế là tôi vội buông dao nĩa, chạy vội vào nhà vệ sinh để ói tới mật xanh mật vàng. Tôi ói tới lúc không còn gì trong bao tử để ói, mà cổ họng vẫn cuồn cuộn đưa lên, ruột tôi đau quặn như thắt lại, nước mắt nước mũi tèm nhem không lau kịp. Mãi lâu lắm tôi mới lết được vào giường nằm nghỉ, tôi nằm im lặng nhìn lên trần nhà, nhưng ruột tôi vẫn cồn cào, đau quặn và cổ họng ói khan vẫn muốn đưa ra. Nằm im một lúc rất lâu, nước mắt đã khô, nhưng mắt vẫn còn rát như xát ớt . . .Đột nhiên có tiếng đập cửa, vợ tôi vội chạy ra, rồi một lúc lâu sau trở vào nói với tôi: ” Có một ông Trung úy trên Liên Đoàn Quân Cụ tới muốn gặp anh. Em đã mời anh ấy vào trong phòng khách, anh có thể cố gắng dậy ra gặp anh ấy được không”. Tôi cố gắng gượng ra tiếp khách, đó là anh Minh, cũng là bạn và cùng cấp bậc như tôi, anh làm việc trên Liên Đoàn 82 Quân Cụ, coi về quân xa cùng vũ khí, khác với tôi chuyên về bom đạn, chúng tôi cùng trong ngành Quân cụ nên rất thân nhau.

         Anh Minh nói với tôi : ”Thiếu tá Liên Đoàn trưởng cho gọi anh đến trình diện gấp tại tư thất. Anh làm gì để ổng giận dữ mà la hét ầm ầm? Tiện có xe jeep tôi đưa anh đi, rồi trả anh về nhà, đêm nay tôi trực”.

         Tôi xin tạm dừng một phút nơi đây, để nói sơ qua về tổ chức và nhiệm vụ của ngành Quân Cụ ngày đó. Quân cụ là tiếng gọi tắt của các từ “Dụng cụ dùng trong Quân Đội”, là số quân dụng khổng lồ và đắt khủng khiếp như quân xa, chiến xa, các loại súng ống cùng đại bác, các loại đạn dược, bom, mìn, hỏa tiên cùng chất nổ.   Số quân dụng lớn lao trên còn được phân chia thành “Loại”:   “Loại 2 và 4” chỉ quân xa và vũ khí, “Loại 5” cho bom đạn. Mỗi “Loại” như vậy đều có các Đơn vị chuyên môn và riêng biệt chịu trách nhiệm, không ai xen vào lãnh vực của ai. Tại Quy-Nhơn ngày đó có Liên đoàn 82 Quân Cụ, coi về “Loại 2 & 4” do một Thiếu tá chỉ huy. Liên đoàn này chỉ trợ giúp Kho đạn “Loại 5” chúng tôi trong công tác hành chánh cùng quản trị Quân số. Tôi kính trọng ông Thiếu tá này vì cấp bậc trong Quân Đội, mà không thống thuộc ông trong hệ thống chỉ huy.

         Tôi mặc vội bộ thường phục, vì nghĩ đêm đã khuya và cũng vì đôi giầy trận tôi còn phơi trong trại, theo anh Minh đến gặp ông Liên Đoàn trưởng 82 tại tư thất sang trọng của ông. Ông Thiếu tá trong bộ kymono mầu bordeaux rất đẹp, ngồi tại salon cạnh bà vợ trẻ. Có lẽ chờ tôi đã lâu nên vừa thấy tôi vào, ông lớn tiếng “chửi” liền: ”Đ. m. !!! Tại sao tôi cho gọi anh từ chiều, mà bây giờ mới tới ? Anh bỏ đi chơi đâu từ sáng nay? Ai cho phép anh mặc thường phục tới trình diện tôi? Anh có biết Quân phong, Quân kỷ là gì không? Lính của anh chết trên đèo Mang Giang mà anh không hề hay biết, cứ trốn đi chơi, đi ăn nhậu. Tôi sẽ bỏ tù anh, sẽ lột lon anh, vì tội vô trách nhiệm này”.

         Tôi không dám viết ra thêm những ngôn từ hạ cấp của ông Thiếu tá hách dịch và thiếu tư cách này. Tôi cũng không phân trần một câu, vì dư biết lúc này bên bà vợ trẻ, ông chỉ muốn nói, muốn thị oai mà không muốn nghe ai. Vả lại ông có tật nói cà lăm, chữ nọ vấp chữ kia líu tíu, nghe rất . . . mệt, và không thể nào hiểu được. Mãi sau, có lẽ vì mỏi miệng nên ông im tiếng, tôi mới có dịp xen vào: ”Thưa Thiếu tá, tôi biết tin này ngay từ trưa nay, rồi cả buổi chiều và buổi tối hôm nay, tôi tìm anh Mùi tại Quân y viện cùng nhà xác, nhưng không thấy, có lẽ anh ấy còn kẹt trên đèo Mang Giang, ngày mai tôi sẽ lên đó tìm tiếp”.

        Nói xong, tôi đứng dậy ra khỏi nhà ông, không chào cũng không để ông kịp có phản ứng gì tiếp. Tôi sợ nếu ngồi nán lại, dù với bản tính cực kỳ trầm tĩnh của mình, nhưng bị liên tiếp “chọc giận”, tôi sẽ khó giữ được những hành động nóng nẩy, ngôn ngữ sỗ sàng, sẽ nói năng bậy bạ y như ông Thiếu tá này. Tôi nghĩ “tránh hủi, không xấu mặt”.

         Hôm sau tôi vào trại thực sớm, với ý định dù phải đi một mình, tôi cũng lên đèo Mang Giang tìm tin tức của Mùi. Nhưng khoảng 9 giờ sáng, nhân viên tôi gửi lên túc trực tại Quân y viện gọi về :”Thưa Trung úy, có nhiều xe GMC tải thương vừa về tới nơi, mời Trung úy lên ngay”. Chỉ vài phút sau tôi đã tới Quân y viện Quy Nhơn. Trong lúc chứng kiến việc di chuyên thi hài từ xe xuống, tôi nhận ra ngay người chiến hữu cũa tôi: anh Mùi, nằm chung trong những tử sĩ xấu số này.

         Mùi nằm trên băng-ca, đang được chuyển từ xe GMC xuống thềm nhà xác. Mặt anh xám nghoẹt nhưng cực kỳ bình thản, đôi mắt khép hờ như trong giấc ngủ say. Quần áo anh ướt nhẹp và đẫm máu, vết thương dù đã qua một ngày mà vẫn không cầm, máu vẫn rỉ ra nhiều nhất ở phần bụng. Tôi sờ má rồi cầm lấy tay anh, da anh lạnh ngắt nhưng còn mềm mại, chứng tỏ anh mới qua đời không lâu.

         Ông Thượng sĩ già đi theo đoàn xe tải thương nói với tôi: ”Tôi kiếm được anh này sáng sớm nay, anh nằm phía trước một bụi cây thực rậm, chỗ này chúng tôi qua lại rất nhiều lần chiều qua mà sao không nhìn thấy”. Rồi sau một hơi thuốc Quân tiếp vụ nồng nồng, ngai ngái để lấy lại bình tĩnh, ông tiếp: ”Chúng tôi đoán có lẽ mới đầu anh ta chỉ bị thương thôi, nên trốn sâu trong bụi rậm để tụi VC không tìm thấy. Hôm qua chúng tôi đã gọi nhiều lần nhưng anh tưởng là “chúng nó” gọi, nên không dám mò ra. Rồi tới gần sáng, biết không sống nổi, lại nghĩ nếu cứ ở sâu trong đó thì mất xác, nên cố bò ra để chết ở phía ngoài, chúng tôi tới là nhìn thấy ngay”.

         Đứng trước thi hài Mùi nằm bất động trên “băng ca”, tôi tự cảm thấy mình có phần nào trách nhiệm trong cái chết này, nên bịn rịn không nỡ bỏ mặc anh trong căn nhà xác âm u ghê rợn. Tôi xin nhà thương tắm rửa cho anh, nhưng việc tẩm liệm sẽ chỉ cử hành theo lời yêu cầu của chúng tôi vào chiều nay, sau khi thông báo cùng chờ ý kiến của thân nhân người quá cố.

         Có lẽ công việc khó khăn nhất trong đời, không ai muốn nhận là báo tin tử trận, nhưng hôm nay tôi vẫn phải làm cái việc tế nhị này. Tôi muốn tới gặp gia đình Mùi để đại diện cho Đơn vị nhỏ bé nhưng thân thương của chúng tôi, chân thành chia sẻ sự đau buồn với thân nhân người quá cố. Tôi bảo anh tài xế đưa tới nhà Mùi trong trại gia binh.

         Vừa nhìn thấy chúng tôi, chị Mùi một tay bế đứa con nhỏ khoảng chừng vài tháng, tay kia dắt đứa lớn hơn ra đón trước cửa, chị nghẹn ngào trong tiếng khóc: ”Em biết rồi, em biết tin từ sáng nay rồi. Hôm qua khi được tin đoàn xe bị phục kích, em đã đoán ngay tới việc chẳng lành này, rồi sáng nay Chuẩn úy Tu đến báo tin đã tìm thấy xác nhà em trên đèo Mang Giang, em như chết ngay từ lúc đó. Từ nay mẹ con em không biết sống sao đây”. Dù đã tiên liệu những việc sẽ xẩy ra, cùng những lời sẽ nói, nhưng lúc này trong hoàn cảnh quá thương tâm, tôi quên hết những lời dự tính sẽ nói để an ủi người góa phụ. Mọi lời nói của tôi lúc này chỉ là thừa.

         Chị Mùi nhờ chúng tôi toàn quyền quyết định trong việc khâm liệm và chôn cất người chồng ngắn số ngay tại Quy-Nhơn. Chị nói trong nước mắt: ”Em chẳng biết làm gì trong hoàn cảnh đau đớn này, em một nách 2 con mọn, lại không còn một đồng xu nhỏ, quê chúng em ở quá xa, mãi tận Sóc Trăng lại trong vùng “tụi nó” kiểm soát, nên mọi việc em nhờ Trung úy và các anh em trong kho đạn định đoạt, thế nào cũng được”.

         Anh em chúng tôi ngày đó, từ Binh lính tới Sĩ quan, đều túng thiếu như nhau, chúng tôi phục vụ tại Kho đạn là một trong những đơn vị hoàn toàn không hề có lấy một xu “quỹ đỏ, quỹ đen” như các Đơn vị lớn khác, mỗi khi cần một số tiền dù rất nhỏ, dùng trong công tác Xã hội, chúng tôi đều phải chia nhau đóng góp kẻ ít người nhiều.   Hôm nay cũng vẫn theo “thông lệ” tội tình đó, chúng tôi lại đóng góp, vì biết rằng chẳng ai thương xót cứu trợ chúng tôi bằng chính chúng tôi tự cứu trợ lẫn nhau.

         Chúng tôi khâm liệm và chôn cất Mùi bằng tất cả những gì có được. Anh được an táng trong một nghĩa trang tư nhân ngay cạnh kho đạn, tiền mua đất do toàn thể anh em chúng tôi chung góp, ngoài ra chính người chủ nghĩa trang thấy hoàn cảnh thương tâm cũng giảm giá rất nhiều. Lễ an táng diễn ra trong không khí cực kỳ trang nghiêm và cảm động. Toàn thể Quân-nhân, Công-chức và Lao-công phụ-động cơ hữu kho đạn, lại thêm Tiểu-đoàn Địa phương quân, Phòng Vệ kho đạn gồm nhiều trăm người, tất cả tề tựu trước mộ huyệt để tiễn đưa Anh, trong không khí cực kỳ trang nghiêm hiếm thấy.   Liên đoàn 82 Quân cụ của ông Thiếu tá hách dịch nói trên, không giúp đỡ cũng không hề gửi đại diện tới chia buồn với gia đình người quá cố.

         Sau biến cố trên, tôi tưởng việc đề cử quân nhân áp tải đạn dược sau này sẽ gặp khó khăn, vì không ai muốn nhận công tác nguy hiểm đó. Nhưng thực bất ngờ ngoài dự đoán, các quân nhân đến phiên công tác đều hăng hái lên đường, họ coi việc làm đó như nhiệm vụ bình thường của một quân nhân có kỷ luật. Họ hăng hái như vậy có thể một phần do đã chứng kiến các việc làm của Đơn Vị chúng tôi “đền ơn” người bạn quá cố : Chiến hữu Nguyễn văn Mùi. Anh Tu, người Đại đội phó của đơn vị, bằng cách nào đó đã vận động để gần một tháng sau chị Mùi được lãnh 12 tháng lương tử tuất của chồng. Chúng tôi tuy tạm thời an tâm, nhưng cũng biết số tiền này chỉ giúp chị và hai con nhỏ sống tạm trong thời gian ngắn, cần phải có giải pháp lâu dài và vẹn toàn hơn giúp họ.

         Một hôm chúng tôi cho mời chị Mùi tới Đơn vị, đề nghị chị vào làm cho kho đạn với quy chế “Phụ động”, như chúng tôi đã có ngân khoản thuê muớn dài hạn cả trăm người như vậy. Đặc biệt trường hợp của chị vì sức yếu lại còn con nhỏ nên sẽ chỉ làm các việc vặt trong Đơn vị, mà không phải khuân vác đạn dược như mọi người phụ động khác. Nhưng chị từ chối, chị nói với chúng tôi: ”Em cảm ơn Trung úy cùng tất cả các anh chị em trong kho đạn, đã thương mến giúp đỡ mẹ con em trong hoàn cảnh ngặt nghèo này. Nhưng em muốn đưa các cháu nhỏ về bên ngoại chúng tại Sóc Trăng, để mẹ con, bà cháu đùm bọc sống qua ngày. Ở Quy-Nhơn này không còn nhà em, chúng em sống sao nổi”.

         Khoảng một tuần, sau khi nói chuyện với chị Mùi, ông Thiếu tá Liên đoàn trưởng 82 Quân cụ điện thoại gọi tôi lên Bộ chỉ huy Liên đoàn cũng để nói về việc này, nhưng dưới một hình thức khác. Vẫn bộ mặt đen đủi và nhăn nhó bẩm sinh, giọng nói cà lăm khiến người nghe phát mệt, ông gay gắt hỏi tôi: ”Đ. M., việc giúp đỡ cho vợ con thằng Mùi anh có ý định gì không, tới đâu rồi ? Các anh thực vô tích sự , lính trong Đơn vị chết mà không ai nghĩ đến việc giúp đỡ vợ con họ, như vậy còn thằng lính nào muốn làm việc cho các anh”.

         Dù rất bất bình với “nghệ thuật chỉ huy” đặc biệt cố hữu của ông Liên đoàn trưởng, mỗi khi mở miệng với thuộc cấp là chửi thề tục tĩu như một thói quen khó bỏ, nhưng tôi cố dằn vì biết nếu làm ông cụt hứng sẽ có kết quả rất tai hại cho mình, tôi ôn tồn nói với ông: ”Thưa Thiếu tá, quân nhân phục vụ cho Quân Đội, chứ không “làm cho” bất cứ riêng ai. Việc giúp đỡ cho gia đình binh sĩ chúng tôi xếp ngang hàng với các công tác khác, riêng đối với hoàn cảnh của chị Mùi, chúng tôi đã nghĩ tới từ lâu, và đang tìm cách nào tốt nhất giúp chị ấy. Hiện giờ chị Mùi vẫn còn bàng hoàng về cái chết của chồng, đang cần một thời gian tĩnh dưỡng nghỉ ngơi, chúng tôi đã đề nghị chị Mùi vào làm tại Kho đạn, nhưng chị ấy không nhận”.

         Ông Thiếu tá có lẽ cũng thấy mắc cỡ vì giọng côn đồ của mình, nên ôn tồn hơn :”Thôi cũng được, anh bảo chị ấy làm đơn xin việc đưa lên tôi, rồi cho thâu nhận vào làm việc trong kho đạn với tính cách lao công phụ động”.

         Tôi xen vào khi ông Thiếu tá chưa nói hết câu: ”Thưa Thiếu tá, như vừa trình Thiếu tá, chúng tôi đã cho mời chị ấy tới Kho đạn, đề nghị giúp việc trong kho, nhưng chị Mùi không muốn đi làm, nhất là làm công việc của kho đạn, vì công việc đã quá nặng nhọc trong khi chị ta rất yếu đuối”.

         Ông Thiếu tá ngắt lời tôi :”Tôi đã nói hết đâu, tôi đâu muốn chị ấy phải vác đạn, sức đó làm gì nổi! Theo ý tôi muốn nói là chỉ ghi tên chị ta vào danh sách lao công phụ động của kho đạn, nhưng vẫn ở nhà rồi hàng tháng tới lĩnh lương, tức là chỉ có tên trong sổ lĩnh lương thôi, chứ không phải đi làm”.

         Tôi thực sự bàng hoàng về “ý kiến mới mẻ” của ông Liên đoàn trưởng, Liên đoàn 82 Quân cụ hôm đó, mới mẻ vì “không làm mà vẫn lĩnh lương”. Mãi một lúc sau tôi mới nói lên lời: ”Thưa Thiếu tá, chỉ thị của Thiếu tá quá mới mẻ làm tôi lãnh hội không kịp. Trong kho đạn chúng tôi có cả hàng trăm lao công làm việc, nếu đặc biệt cho một người, các người khác sẽ suy bì, đưa đến nhiều hậu quả phiền phức vì một việc làm không đáng gì. Tôi kính đề nghị xin Thiếu tá cho chị Mùi làm việc tại Liên đoàn, Liên đoàn vừa làm lương, vừa phát lương sẽ tiện hơn chăng. Riêng kho đạn thì không dám làm như vậy “.

         Có lẽ ông Thiếu tá cho tôi là thằng ngu ngốc nhất đời, sáng kiến “dùng của người, làm phúc ta” thần diệu như vậy mà không biết nhận, nên nạt ngay: ”Anh ngu bỏ mẹ ! Công việc của Liên đoàn là làm kế toán, là viết văn thư, đâu phải vác đạn khổ sở như các anh mà thâu nhận lao công. Tôi có ý muốn giúp cho chị ta có tiền chi dụng, cũng như giúp kho đạn các anh có dịp trả công cho thân quyên người đã hy sinh, riêng tôi có lợi lộc gì, nếu anh không muốn thì thôi”. Nói xong, ông khoát tay lia lịa, muốn đuổi tôi ra khỏi văn phòng.

         Trên đường về, và cho tới mãi hôm nay đã qua nhiều chục năm dài, mỗi khi nhớ lại chuyện này, tôi vẫn phân vân nghĩ mãi không ra, việc tôi “khôn” hay “ngu” trong khi từ chối “hảo ý” của ông Thiếu tá liên đoàn trưởng muốn người quả phụ tử sĩ hàng tháng được lãnh lương, mà không phải làm việc? Dù tự nhận mình ngu, đã không giúp đỡ gì cho chị Mùi cùng hai cháu nhỏ, nhưng lại tự bào chữa có thể vì “ngu” như vậy nên đã không bị vướng mắc vào bất cứ trở ngại gì về tiền bạc sau này. Đành để ông Thiếu tá Liên đoàn trưởng 82 Quân cụ “khôn” một mình ông.

         Hơn một tháng sau, chị Mùi vào kho đạn chào từ biệt chúng tôi để về Sóc Trăng, chị nói trong ngậm ngùi: ”Em về đó sống tựa vào má em, quê bà cụ lại ở vùng không mấy an ninh, ban ngày quân mình nhưng ban đêm là mấy ổng”. Im lặng hồi lâu, chị tiếp: ”Vì ở nơi mất an ninh như vậy, nên dù rất mang ơn Trung úy nhưng lại không dám mời Trung úy có dịp ghé thăm Sóc Trăng quê mùa của mẹ, con, bà, cháu chúng em. Dù khó có ngày gặp lại, nhưng suốt đời em sẽ không bao giờ quên ơn Trung úy và các anh chị em trong kho đạn”.

         Tôi dặn anh Tu lấy xe jeep kho đạn, tới nhà đón mẹ con chị Mùi ra bến xe vào sáng sớm hôm sau. Khoảng 9 giờ sáng, anh Tu lên báo với tôi: ”Vợ chồng tôi cùng ra bến xe tiễn chị Mùi. Lúc xe sắp chạy, chị ấy khóc quá cứ nắm cứng lấy tay nhà tôi không rời, làm “bà xã” tôi cũng khóc theo. Chị Mùi gửi lời chào và cám ơn Trung úy cùng tất cả các anh chị em trong kho đạn của mình”.

         Hơn một năm sau tôi bị thuyên chuyển từ Quy Nhơn về Cần Thơ, nguyên do xích mích với ông Thiếu Tá Liên đoàn trưởng 82 Quân cụ, trong việc ông muốn chiếm đoạt một số gỗ ván của trại gia binh kho đạn, nhưng tôi không cho. Thị xã Cần Thơ không xa Sóc Trăng bao nhiêu, tôi lại có nhiều dịp đi công tác tới nơi này, tôi vẫn có ý định muốn tìm gặp gia đình chị Mùi cùng 2 cháu nhỏ nhưng không được, vì nơi này đã hoàn toàn mất an ninh. Tôi vĩnh viễn mất liên lạc với gia đình Mùi, người bạn thân thương đã một lần cùng chúng tôi đồng lao, cộng khổ tại một nơi mà ngày nay thực tình tôi không còn muốn trở lại: Qui-Nhơn ./.

CVA Phạm Văn Nhuệ


THÓI QUEN

CVA Nguyễn Thạch Lục

Ai cũng có thói quen. Có thói quen tốt và cũng có thói quen xấu. Thói quen là hành động liên tục được thực hiện mà chính ngừơi chủ động cũng không biết là mình làm. Những hành động này được lập đi lập lại nhiều lần tới một lúc không thể bỏ được nữa. Có người nói một hành động lập đi lập lại trong vòng một tháng sẽ trôũthành thói quen. Người Việt chúng ta ăn nước mắm suốt đời. Nếu mà bị ép ăn hamburger thì ta sẽ bị đau khổ lắm. Cái thói quen này do cha mẹ chúng ta cho ăn từ khi biết ăn cơm nên đã thành thói quen lâu đời khó bỏ. Hồi năm 75 chạy qua Guam, lính Mỹ cung cấp nước mắm Phi cho dân tỵ nạn chúng ta ăn, chỉ cần một thời gian ngắn cái bàn bày nước mắm trống trơn vì nhiều người có bàn tay dính (sticky fingers).

Thói quen tốt: Các em nhỏ đang lớn nếu được cha mẹ tập cho có thói quen tốt như đi ngủ đúng giờ, làm home work sau khi tan trường về. Các em sẽ không làm chuyện khác, như coi TV hay chạy qua chơi với trẻ em hàng xóm. Con cái sang đây có thói quen nói tiếng Mỹ vì chung quanh ai cũng xử dụng tiếng Mỹ cả. Nhưng nếu ta ngăn chặn kịp thời bắt chúng nói tiếng Việt thì chúng sẽ nói và hiểu được rất nhiều. Lớn lên khó học, lưỡi cứng khó nói. Nếu không con cái sẽ nói tiếng Việt lai căng. Tôi có anh bạn lên tôi chơi, bà vợ gọI về nhà hỏi con: con đang làm gì đó? Cô con gái trả lời: Con đang hút bụi-ing. Mỹ-Việt đề huề. Thói quen tốt nữa là sáng dậy các cháu phải làm giường trước, xếp quần áo gọn ghẽ trước khi đi học. Đồ chơi phải được xếp vào ngăn nắp như trước khi chơi. Thói quen tốt này sẽ theo các em suốt đời. Có nhiều người ra ngoài đường là ăn măc chải chuốt, gọn ghẽ. Thói quen thắt dây seat belt rất tốt khi lái xe vì có thể sẽ save mạng sống của mình. Nhiều người có vẻ khó chịu khi bắt đầu nhưng sau một thời gian chúng ta sẽ quen và nếu quên thì giống như ta thiếu một cái gì.

  1. Thói quen xấu: Một người ban đầu được bạn bè mời hút thuốc chơi, không để ý tật hút thuốc sẽ đem đến nhiều hậu qủa tai hại cho mình. Lúc đầu có thể anh nghĩ là hút chơi đâu có sao! Hít khói thuốc vào rồi thôũ ra có hại chi mà lại còn có vẻ oai là khác, giống như các tài tử đóng phim vào những năm 50,60. Nhưng sau đó một thời gian thì anh có thể bị ghiền khó bỏ. Rồi anh ta trôũnên chain smoking và có thể bị bệnh cancer phổi có khi cả chục năm sau. Có nhiều người được bác sĩ khuyên nên bỏ hút thuốc nhưng chỉ dạ vâng cho qua chuyện về nhà vẫn tiếp tục. Khó bỏ một thói quen lâu ngày. Có nhiều người hễ bắt đầu nói là chửi thề hai tiếng Đ.M. Mỹ cũng vậy. Có anh hay la và gắt gỏng vợ, con nhưng nếu hỏi anh sao cứ la lối hoài vậy thì anh trả lời anh có la hét gì đâu?

     Hồi tôi trong quân đội, tôi biết có một anh bạn có một thói quen mà giờ này sau mấy chục năm xa anh tôi vẫn nhớ. Anh hay dùng ngón tay trỏ phải cậy mũi (pick his nose) rồi lấy tay búng cho cứt mũi rời khỏi ngón tay, có khi chẳng có gì anh đem ra được theo ngón tay nhưng anh cứ cho tay vào mũi. Và đôi khi anh rút ngón tay ra khỏi mũi xong anh chào bằng cách bắt tay. Thú thực là tôi không đưa tay tôi ra một cách mạnh dạn. Có cái may là anh bắt tay không chặt lắm và rất lỏng lẻo làm cảm thấy đỡ hơn.

Có người lên nói trước đám đông cứ à, ừ thì chỉ sau vài chục phút là khán thính gỉa chỉ chú ý đến à, ừ chứ không cần nghe diễn gỉa muốn nói gì.

Về vấn đề ăn uống, các cụ dạy ăn trông nồi, ngồi trông hướng, hay liệu cơm gắp mắm. Ví dụ có người khi ăn cơm vì theo thói quen là bới đĩa đồ ăn lên chọn, bất kể người chung quanh làm như gà bới tìm mồi. Nhiều lần tôi thấy có ngừơi gắp đồ ăn mà đũa còn dính cơm, miếng thịt được gắp lên nhưng hạt cơm lại rơi xuống đĩa thịt. Ai sẽ gắp những miếng thịt còn dính cơm đó. Có người gắp đồ ăn lên rồi lại bỏ xuống. Tôi biết có một anh gần thành phố tôi ô. Anh ta nói ngày xưa học tại một trường Tây tại Dalat. Anh hay dùng đũa để gắp đồ ăn dù đồ ăn bầy trên đĩa hay là trong tô ví dụ như canh măng chẳng hạn. Anh không dùng cái muỗng lớn mà chủ nhà để sẵn trong tô để múc canh mà dùng đũa để gắp và đôi khi anh còn lựa miếng này bỏ miếng kia. Trông không có vẻ đẹp chút nào cả. Một thói quen tai hại. Cách hay nhất là trôũđầu đũa khi gắp đồ ăn.

Có người sau khi đi tiểu cũng chẳng bao giờ rửa tay, rồi ra bắt tay người khác tỉnh bơ. Có nhiều anh butcher không theo luật khi đi tiểu, đi cầu không rửa tay, ra thái thịt tiếp cho khách. Cách đây nhiều năm có tiệm Taco Bell, VA Beach, VA, người làm không rửa tay kỹ serve đồ ăn làm cho cả chục khách ăn bị Hepatitis.

     Có một anh bạn trẻ mới đây về Việtnam thăm nhà. Từ ngày anh bạn qua Mỹ anh có được thói quen tốt là xếp hàng. Tới phi trường Tân sơn Nhất, anh ta cố gắng xếp hàng theo kiểu Mỹ. Nhưng anh bạn cứ đứng sau miết và không lên tới bàn tên cán bộ check out được và cuối cùng anh lên bàn tên cán bộ và hỏi sao các hành khách không chịu xếp hàng. Tên cán bộ phi trường bèn đáp: đây là Việt Nam rồi anh ơi không phải Mỹ nữa đâu. Anh bạn trẻ chào thua và cũng làm theo các hành khách khác là kẹp $5.00 vào passport và cũng chen lấn kiểu Viêtnamese để ra khỏi phi trường càng sớm càng tốt.

Nhiều người VN qua Mỹ sống lâu năm nhưng về tới VN thì thói quen cũ lại sống lại để thành Việt nam hơn. Có cái thói quen rất xấu là giờ giấc mà nhiều người cho là tự nhiên. Mời ăn chẳng hạn. Có thể ta mời khách đến ăn lúc 18:00 giờ chiều, thì có nhiều ngừơi đến lúc 19:00 giờ. Có người còn đến muộn hơn. Giờ này gọi là giờ cao-su. Thói quen này đã ăn sâu vào con người chúng ta.  

Một thói quen xấu khác là lái xe tại Việt Nam. Những người Mỹ qua du lịch Việt nam thường nói: Lái xe Sàigonlà nightmare. Xe đạp, xe gắn máy, cyclo tranh nhau chạy không có kỷ luật gì cả. Người Mỹ không hiểu là mỗi người Việt có một chức Thủ Tướng trong người khó bỏ, ai muốn làm gì cứ làm. Chia rẽ cũng là thói quen xấu và có ảnh hỏôũng xấu đối với tập thể và quốc gia.

     Trên đây là vài thói quen thường thấy. Thói quen có thể bỏ được. Thói quen tốt thì mình giữ, thói quen xấu thì cố gắng bỏ. Muốn sửa lại thói xấu thì lại làm ngược lại nhiều lần những gì mình cho là xấu, một thời gian sau mình sẽ thấy kết qủa.

CVA Nguyễn Thạch Lục

* * *


Bên Đời Hiu-Quạnh

Tự truyện của CVA Nguyễn Gia Bình

Mến tặng Hai

Phần I                                                              

           

1.       Thấm-thoát đã đến giỗ đầu người cô mà tôi hằng yêu thương như mẹ vào một ngày cuối tháng ba. Mùa xuân sang kém vui tươi vì phải ngay mấy hôm trở trời nóng hừng-hực, đến nỗi thoạt chui vào xe người ta chỉ muốn cởi tuốt cả áo trong áo ngoài ra thôi. Chúng tôi cần chạy một mạch ba giờ đường để đến với các con cô cho kịp giờ cầu-nguyện. Con gấu của tôi vẫn mải say-sưa làm ăn nên ít khi nhàn-tản bên tôi vào những dịp như vầy. Chuyến đi thiếu nàng, tôi bèn nhân tiện kéo theo mấy tay anh em cho đám họp mặt thêm long-trọng vì họ-hàng gần cũng chẳng có mấy ai.

            Tôi những tưởng như vẫn còn lắp-bắp nghẹn lời vĩnh-biệt hương-hồn cô tôi, bên tiếng gầm-gừ của chiếc xe ủi lấm-lem đang quờ-quạng múa-may các động-tác cuối cùng. Đời dài gánh-vác giang-san quên cả phấn son đã đến lúc thong-dong trở về nơi thiên-cổ. Từng mảng, từng mảng đất lạnh thi nhau đổ xuống huyệt sâu vùi nốt những bông hoa tiễn-đưa buồn… Suốt dọc đường tôi cố chống mắt tự nhắc-nhở rằng hiện đang có vài tính-mạng trong tay mình, để hết sức bình-sinh giữ cho xe khỏi chệch ra ngoài lane. Giọng trầm-ngâm của người lãng-tử Trần-Tiến từ đĩa CD cũ, chập-chờn hoà cùng tiếng xe êm êm và âm-thanh của gió quyện tôi chơi-vơi vào điệp-khúc mơ-mòng, “Đường nào dìu tôi đi đến cơn say? Một lần nằm mơ tôi thấy tôi qua đời …” Tôi đã thả hồn phiêu-diêu về chốn nào rất xa-xăm cô-quạnh.

            Hân-hoan tay bắt mặt mừng, mấy người em họ lôi thẳng chúng tôi vào phòng gia-đình dùng làm nơi thờ-phượng. Trông cô vẫn tươi-tỉnh như hôm xưa sau khung kính trang-nghiêm dựng đứng ở góc bàn thờ. Khách cùng chủ đăm-chiêu chia sẻ niềm vấn-vương man-mác, cảnh đấy nhưng người còn đâu nữa mà về! Tiếng khẽ thở dài quanh-quất đâu đây như hoạ vào hợp-âm lâm-râm cầu cho bà an-lạc đời đời trên nước Chúa. Dưới hào-quang lung-linh của đôi nến trắng gồ-ghề, thoáng lấp-lánh một ánh mắt bâng-khuâng ngước lên cao như mải dõi theo điều gì ngoài cõi thật. Thêm giọt lệ nhoè vừa được kín-đáo thấm khô giữa vùng khói hương tan loãng…

2.         Giây phút tưởng-niệm chóng qua, mọi người chậm-chạp rời chỗ ra ngoài hiên nhập tiệc. Nhác trông những mâm cỗ thịnh-soạn bày-biện quá công-phu, tôi cảm-khái thấu hiểu lòng các em đã hướng về cô như thế nào. Đối-diện làn nắng xế vàng ươm của nửa ngày còn lại, lòng tôi bừng ấm sau vài ngụm bia khai-vị đậm-đà. Những giò lan diêm-dúa vây quanh thỉnh-thoảng đong-đưa theo cơn gió lay nhè-nhẹ.

           Món cù-lao ngồn-ngộn như khêu như gợi tiết-tâm-linh đã đập ngay vào mắt thực-khách giữa ê-hề đồ ăn thức uống trên mỗi bàn. Đó là chiếc soong inox có miệng loe rộng như cái khay hình vành khăn, trên đó bày la-liệt đủ thứ sống-sít thành một vòng không hở chỗ nào. Những con trai mũm-mĩm nằm gọn-lỏn trong nửa vỏ óng-ánh xà-cừ, xen lẫn lô mực tươi cắt khía ca-rô trắng ngần bon-chen choán hẳn một bề mặt cong cong. Vài thứ gì đó trông rất bắt mắt được lèn vào cạnh bao nhiêu là viên thịt, viên cá bóng nhẫy. Rút cục bọn tôm bóc nõn đành lồm-cồm đè nhau sát-rạt, ý chừng để nhường bớt chỗ cho những nhát phi-lê xấu số còn rươm-rướm tiết hồng. Chưa kể đến đầy ắp các nụ nấm ngà ngà kèm mớ cải cúc non tơ xoắn-xuýt, cả lũ con mồi tội-nghiệp này dường như chỉ chực nhảy tõm vào giữa lòng soong; hòng lặn-ngụp đến chết thì thôi trong bể nước súp thơm lừng đang sôi lên sùng-sục từng cơn. Sau khoảnh-khắc ân-cần mời-mọc, mọi đôi đũa lập-tức khai-triển đội-hình theo điệu luân-vũ tất-tưởi trong bóng hơi nước mờ mờ. Dáng người nhấp-nhổm, tiếng xì-xụp suýt-soa, những chai bia xô-xát lộc-cộc trên mặt bàn pha loãng tiếng cười nói lao-xao. Tất cả đang nhịp-nhàng hoà điệu. Và tất cả được chiếu-cố hết sức tận-tình ở bàn tiệc. Vào một lúc nào đó chợt có tiếng nhắc, “Hay chửa, từ đầu bữa đến giờ chả thấy ông anh động-đậy gì, sao bát đũa còn sạch như lau như ly thế này?” “Vâng”, tôi muốn đáp, “Thôi, xin để cho khi khác. Mấy thứ nước nôi đưa cay với rượu sec có lẽ thú-vị hơn. Chứ bây giờ chơi bia cho đã, rồi lại húp đẫy nước vào thì chỉ tổ óc-ách bụng, mất cả sướng đi.”

3.         Điều hay nhất trần-đời là đừng bị ép theo những gì thực lòng mình không tha-thiết, giống như đừng bắt nhau ăn một khi người ta không thấy thích. Nhiều năm về trước chúng tôi thí mạng xả-láng cuộc sống quèn của cả gia-đình chỉ vì khát-khao mỗi tiếng tự-do đang nung-nấu trong lòng. Song-le, quả đúng lời thầy bảo từ tấm bé mà lâu ngày tôi quên khuấy đi mất, “Quyền tự-do của mỗi con người bị giới-hạn bởi tự-do của kẻ khác.” Kể từ khi hoà-nhập vào nền văn-hoá hở một tí đâm đơn kiện như giờ đây, tôi đã thực-sự sáng mắt thêm về lẽ công-bằng cũ-kỹ nằm sờ-sờ bên hai chữ tự-do kia. Thế là tôi vẫn không đủ tự-do ung-dung bước ra khỏi đời của kẻ đang chung sống trừ một bản án toà, hoặc-giả vai chính như bà cô nhà mình vừa đóng xong năm ngoái.

           Vì không dư-dả nhiều buồng tim dành cho tình yêu, hay là do bản-năng nặn sẵn từ mười ba bà Mụ mà phái yếu muôn thuở vị-kỷ trong tình-trường? Kể cũng khó trả lời. Nhưng tôi dễ-dàng nhận ra một nghịch-lý bất lợi cho đời trai qua cái biết nôm-na về công-bằng. Có điều gì hình như là độc-đoán. Phụ-nữ nghiễm-nhiên lấy làm tự-do như chỗ không người trong việc quặp chặt lấy kẻ phối-ngẫu làm sở-hữu riêng-tây. Máu Hoạn-Thư là kho vũ-khí vô-tận được hạ quyết-tâm đổ ra bất-kỳ lúc nào cần nắm quyền làm chủ… Thế thì quyền tự-do yêu trong lòng-dạ đối-tượng của họ để đi đâu?

            “Lộn tiết không cơ chứ! Đâu phải bạ lúc nào cũng lấy nê quyền này, quyền kia để muốn hỏi gì thì hỏi vậy. Định dở trò tự-do láo-toét ra trêu-ngươi chúng ông ư?”   Lời phân-bua lạnh như nước đá tiếp-tục vang vang, “…Tội gì để toi cơm nhà còn thêm bị chúng cười mũi hả? Cứ ù-ù-cạc-cạc, đực mặt ra nhìn cái thứ đàn ông luông-tuồng chờn-vờn với của lạ, là thể nào cũng có ngày trơ mắt ếch mà trừ. Dại lắm chỉ có chết. Rồi thì giẫy đành-đạch ra đấy cũng đừng hòng người ta thí cho lấy nửa giọt nước mắt!”

4.         “Hỡi người trong khung cửa, người có thấu cho chăng cái thế thượng-phong không-thể-nghĩ-bàn của kẻ ngoài chân mây?” Hỏi, tức là đương-nhiên được ngay cái lắc đầu rồi vậy… Ngày xửa ngày xưa, để trọng-thưởng cho công duy-trì sự có mặt của loài người dưới gầm trời, Hoá-công đã rộng-lòng nới-nang cho phía nam-tử thêm nhiều ngăn trong tim. Từ đó bậc mày-râu được thể một công đôi việc, thừa chỗ trải rộng tình cảm dạt-dào đồng-thời mặc-sức thực-hiện thiên-chức truyền giống. Kết-quả của sự thiên-vị phái-tính ấy đã được văn-minh nhân-loại trả lời một cách hiển-nhiên, qua hình ảnh bay-bướm của những kẻ đào-hoa sống lia-chia khắp mặt đất. Xuyên suốt chiều dài lịch-sử, thành-phần đùm-đề thê-thiếp hoặc ngất-ngư về khoản nhân-tình mọn kia có mặt nhan-nhản trong bất-kỳ tầng-lớp nào của mọi xứ-sở.

            Bài thuốc Nhất-Dạ-Lục-Giao-Sinh-Ngũ-Tử từ nước Nam ta, chỉ nghe suông đã có người muốn lồng ngay đến hiệu thuốc Bắc rồi. Bởi vì sao? -Nó phải kinh-hồn thế nào mới được tay chơi tôn lên ngôi thần-tượng chứ! Cầm lăm-lăm thang thuốc xa-xỉ vừa mới cắt về, người hiền-nội lật-đật nhét ngay tất cả vào bình rượu nhất để đem chôn âm-dương, sau đó đếm ngày đếm đêm, mong sớm lấy lên chuốc chén hầu tướng-công khuây-khoả vào các buổi nhọ mặt người. Toa thuốc xuất-xứ từ đời Minh-Mạng do mệnh quan thái-y dầy công đặc-chế, qua bao thử-nghiệm bão-táp-mưa-sa thành-công trong chốn phòng the. Đức vua thân hình khôi-vĩ, lại thêm rượu vào, tất-nhiên chỉ sợ chi-chít những nữ-nhân trong tam cung-lục viện còn chưa kịp hồi lại sức để qua ngày đội ơn mưa-móc của ngài. Đời vua cộng lại có hàng trăm hoàng-tử và công-chúa xinh-xắn chen vai chào đời. Kể gì đến người bạn ngày bé của tôi, là con một gia-đình buôn gạo xoàng mà số anh em cậu ấy cũng còn đếm không xuể nữa là. Bạn tôi có nhiều anh chị em sàn-sàn tuổi, đến nỗi lắm lúc tôi hết biết ai là anh chị và ai là em. Chẳng qua họ có cùng cha khác mẹ ở chung nhà. Các bác gái thì đông, lại mắn đẻ nên bác nào bác nấy to ngang. Riêng bác trai không chừng dám bị đau gan do rượu thuốc hành, nên thấy người lẩy ba-lẩy bẩy như thể hết hơi, chả ra làm sao với làm sao! Nếu không kể quân ba-que-xỏ-lá vất đi lẩn vào, thì hầu hết lớp người đa-tình kể trên được số đông trầm-lặng nơi nơi thầm-thì thán-phục hơn là lên mặt phê-phán dài-dòng.

            Trong khi ấy dưới con mắt bảo-thủ, tình-duyên khác phái ở nữ-giới lại được coi là phải đạo một khi từ đầu đến đuôi, hoặc-giả vào mỗi lúc nào đó trong đời, người đàn bà chỉ kết với độc một người đàn ông mà thôi. Những mối duyên lẻ-tẻ trám vào các chỗ trống theo thứ-tự các cú ly-dị, hoặc lần-lượt cạp vào giữa những mảnh tình tan-nát như đời đào xi-nê-ma, được xem là hợp-hiến theo quan-niệm phổ-thông. Ngược lại, thường thời chỉ nghe nói ở những bộ-lạc bán-khai hoặc tuyệt-chủng mới có đông gái nhiều chồng đứng làm chủ gia-đình. Ngoài ra con số thực những vì vương-nữ điển-hình, khéo đa-đoan vỗ béo cả đàn con trai làm chất tươi sống cho lợn lòng trong chốn thâm-cung, cùng lắm cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay khi ta lần ngược trang ngoại-sử. Lại nữa, thân thuyền-quyên khát tình vương luỵ với lắm bạn trai cùng một lúc, có chăng là hi-hữu nếu không phải là chuyện tào-lao.

            Tôi vừa nghĩ vừa đoán rằng, chắc chỉ trừ có giới gái làng chơi, vì nghiệp-dĩ đáng thương đã làm chai-lỳ mọi thứ cảm-giác cho nên họ mới tồn-tại được đời này sang đời nọ. Còn như chút phận tình-si vừa lược qua, cơ-khổ, bị đào-thải khỏi giòng thời-gian cũng là đúng thôi mà! Giá-thử kẻ trong cuộc có thể phân-tâm say-mê không tha một tình-quân nào về mặt tình-cảm đi nữa, thì về chuyện giải-quyết sinh-lý hàng loạt, sức chịu-đựng của nàng hỏi chứ có qua mặt được giới-hạn của ông bà hay không? Người có là voi đâu. Khoái-lạc ban đầu cho là đạt được từ giao-hoan tập-thể, sớm muộn cũng dễ tàn-lụi thành cảm-giác đau-đớn bộ-phận trên thân-thể tơi-bời-hoa-lá của người đàn bà đam-mê. Hậu-quả ấy có nhiều điểm tương-tự khi ướm vào thảm-trạng bề-hội-đồng. Thử xem, cứ dồn-dập tiếp-diễn cái điệu thoả-mãn xác thịt lồng trong khổ-hình chết người như thế, làm sao không khiến cho mẫu đàn bà nặng phần nhục-dục trở nên hiếm-hoi truyền đời. Kịp đến khi nghe một anh bạn nghiêm sắc mặt nói như sách rằng, “Số lớn phụ-nữ đặt ba phần tư tình yêu trong tâm-hồn thuần-tuý; và sở-dĩ họ không quá-thể trong sinh-hoạt riêng-tư là bởi vì bẩm-sinh trong giòng máu không dồi-dào chất kích-thích dương như ở đàn ông,” tôi muốn tin ngay là thật.

Phần II

1.      Có điều gì không hay-ho đầy-đọa cả đời tôi. Sao tôi khổ thân vậy nhỉ! Rùng mình nhìn lại, tôi không may sinh ra đời dưới một vòm trời vô-cùng ảm-đạm. Cha mẹ vì nghèo-nàn kém học nên gia-đình bị thiên-hạ, thậm-chí ngay cả họ-mạc coi thường xa lánh. Những đứa con trở nên thiếu hẳn hiên-ngang giữa cõi người ta vì tự-ti mặc-cảm mọi bề. Suốt tuổi học-trò phải è cổ đỡ-đần việc nhà để người lớn rảnh tay kiếm sống, tôi chỉ còn biết thôi thì mỗi ngày cố-gắng được đến đâu hay đến đấy với chút thì-giờ dành-dụm còn lại. May mà không đến nỗi đội sổ hoặc đừng bị cô giáo cốc túi-bụi lên đầu là đủ mừng rơn rồi. Cho đến ngày trưởng-thành tôi mới chợt linh-cảm được điều không ổn, nỗi đau-khổ thấp-hèn nẩy-nở tự bản-năng nhu-nhược không khéo có ngày làm thui-chột luôn đời mình.

            Nhưng cớ sao xa xưa lại có cô con gái ngây-thơ vô-tội, dám to gan trao ngay cả phần hồn kèm nguyên tấm hình-hài cha sinh mẹ đẻ cho tên cả-quỷnh này dễ như không vậy? Trước nàng, tôi sống vui-sống khoẻ, chả tội gì bận tâm tư-lự về những chuyện yêu-đương dí-dủm mất thì-giờ. Tình yêu với tôi lúc ấy tóm gọn chỉ là những gì lôi-thôi không thực-tế. Thế rồi chúng tôi nên bề gia-thất, tự-nhiên như giòng nước đổ về xuôi…

Cô kia yếm trắng loà loà,

Lại đây đập đất trồng cà với anh.

Bao giờ chín cả cà xanh,

Anh cho một quả để dành mớm con.

                                   (Ca-dao Việt)

            Chẳng mấy chốc cuộc sống gia-đình bình-dị của chúng tôi thoảng qua quá nửa đời. Những đứa con yêu dần-dà lớn khôn, cháu lớn ra trường đã có chút công ăn-việc làm tạm gọi là mở mày-mở mặt. Vợ tôi biết thân chịu thương chịu khó, lại tảo-tần tập-tành làm ăn với người ta. Chút vốn-liếng chắt-chiu từ nàng thêm-thắt vào đôi tay quấy nước lã nên hồ của tôi, đã sắm-sinh được tí-đỉnh cho mái ấm gia-đình gồm căn nhà tiện-nghi để ở, và cửa hiệu đủ to khả-dĩ một nàng đảm-đương lấy kế sinh-nhai.

2.       Âm-nhạc luôn luôn tựa keo sơn thánh-thót nhỏ vào phần khác trong đời người. Đêm thâu ca hát cùng chúng bạn bên ánh lửa hướng-đạo bập-bùng đối với tôi là thời- gian quá-đỗi thần tiên. Tôi lầm-lũi lớn lên bên những tình-ca không rõ nghĩa của Trịnh-Công-Sơn. Phút chốc những lời lẽ nhẹ như thơ ấy nhập-tâm tôi thành nỗi trống-vắng mông-lung chả biết giải-thích sao cho vừa. Đôi lúc dường như tôi tìm được chút hạnh-phúc thoáng qua khi ôm cây guitar vào lòng nghêu-ngao cất tiếng một mình mình nghe. Nhạc-sĩ Phạm-Duy đã ngẫu-nhiên dắt tôi xích lại gần với Nguyễn-Tất-Nhiên hơn bao giờ, “Năm xưa anh khù-khờ. Em như con mèo khờ, đi ngang qua nhà thờ…

Năm xưa. Tôi không mảy-may vất-vả đã có liền tay người con gái hồn-nhiên sau buổi lễ về... Hỡi ơi, chân-dung đầu đời nay còn đâu! Thời-gian dần trôi, Mèo khờ của tôi đã biến-dạng thành con gấu từ lúc nào. Hạnh-phúc là rỗng-tuếch. Khi sự chung đường-chung hướng trong tâm-hồn kẻ thân-thiết bên mình chẳng bao giờ có thật, thì lẽ sống con người nào hơn bản-năng của loài sinh-vật ngu-ngơ? Buồn tênh. Trong tận cùng cảm-giác, tôi nay không còn gì để có.

Có ai nước cũng bằng bờ,

Không ai nước cũng cầm cơ mực này.

Năm năm, tháng tháng, ngày ngày,

Lần lần, lữa lữa, rày rày, mai mai.

Có ai ta cũng thế này,

Không ai ta cũng như ngày có ai

                                                          (Ca-dao)                                

Nguyễn Gia-Bình - Xuân 2003

(Còn-tiếp. Xin đón coi trong Đặc San số tới)

* * *

* * *


Về những đổi thay

CVA Đặng Gia Thoại

Hôm vừa qua trong một cuộc điện đàm với một người bạn định cư đã nhiều năm ở một nước Âu Châu, chưa từng có dịp đến Úc cũng như trở về Việt Nam hay sang Mỹ. Anh bạn này sau những câu thăm hỏi và trao đổi thường lệ với tôi đã đặt cho tôi một câu hỏi khiến cho tôi phải suy nghĩ mà không dám trả lời thẳng trên điện thoại cho anh, vì câu hỏi tuy ngắn ngủi nhưng nó bao quát và liên hệ đến nhiều lãnh vực mà tôi cho rằng khó có thể chỉ trong vài mươi phút ngắn ngủi có thể tìm ra câu giải đáp thỏa đáng cho bạn tôi.

            Câu hỏi của bạn tôi như sau :"Anh cư ngụ đã ngoài hai thập kỷ ở Úc, anh thấy những thay đổi gì về xứ Úc và người Úc? So sánh với Mỹ và Việt Nam thì sao?"

           Nước Úc một quốc gia "non trẻ" với lịch sử chỉ mới hơn 200 năm so sánh với các quốc gia khác tại Âu Châu và Á Châu thì qủa thật là non trẻ, nhưng có một điều đáng nói là nuớc Úc thì non trẻ nhưng lục địa Úc thì lại qúa gìa. Theo những phát hiện mới đây của các nhà khảo cổ thì lục địa Úc vốn từ vài triệu năm về trước là một phần của lục địa Á Châu tách ra đã có sự sống của loài người từ ít nhất là trên 40,000 năm, một khoảng thời gian dài gấp 200 lần tuổi của cái quốc gia "may mắn" nằm ở Nam bán cầu này.

            Ngay từ khi mới lập quốc, tức là từ sau khi vùng đất này được tuyên bố là lãnh thổ thuộc địa của đế quốc Anh thì từ đó người Anh là sắc dân đầu tiên từ Âu Châu đến định cư và lập nghiệp ở lãnh thổ này. Dần dà với thời gian nhiều sắc dân khác đến và lập nghiệp ở vùng đất này. Từ nửa sau của thế kỷ chót của thiên kỷ vừa qua với sự suy thoái và dần dần chấm dứt của chính sách một nước Úc da trắng khiến bộ mặt của dân cư tại Úc dã thay đổi mạnh mẽ.

Chính sách nước Úc da trắng chính thức được ban hành năm 1947 với đòi hỏi bất cứ di dân nào đến từ Âu Châu phải viết và đọc được một đoạn văn bằng một ngôn ngữ ở Âu Châu. Chính sách này trên giấy tờ bị hủy bỏ vào năm 1959 nhưng trong thực tế nó vẫn tiềm tàng trong mọi hoạt động trên khắp nước Úc và chỉ thực sự chấm dứt vào năm 1973.

Từ một tỷ lệ đa số áp đảo trên 70% dân số gốc Anh tại Úc vào cuối thế kỷ thứ 19, nay chỉ còn dưới 38% và dân số gốc Âu Châu nói chung chỉ còn dưới 50%. Các sắc dân khác như da đen xuất xứ từ Phi Châu, Ấn Độ, da vàng xuất xứ từ Á Châu vốn là thành phần rất thiểu số trước kia nay đã tiến đến giai đoạn trở thành những cộng đồng sắc tộc có tiếng nói và ảnh hưởng mạnh mẽ tới chính tình ở Úc.

Một thống kê được phổ biến gần đây cho thấy tỷ lệ dân mới nhập cư trong vài năm gần đây có gốc Anh và Tân Tây Lan chỉ chiếm có 9%, trong khi đó những người có gốc Việt Nam chiếm đến 7.5% và gốc Ấn Độ chiếm 4.5%.

Về mặt nghề nghiệp thì một tỷ lệ đáng cho thấy rõ nét về những thay đổi trên đất Úc là 11.4% các di dân mới đến thuộc thành phần từng là Giám Đốc hay Quản trị Viên. 34% là những chuyên viên các ngành nghề khác, trong đó thành phần chuyên viên ngành điện toán chiếm con số cao nhất. Số còn lại thuộc rất nhiều ngành nghề khác.

Trước đây, ngoài quan điểm chỉ chấp nhận người di dân da trắng, nạn kỳ thị cũng rất phổ biến, ngay trong thành phần dân da trắng cũng có sự kỳ thị. Những nạn nhân đầu tiên của sự kỳ thị này là các di dân gốc Do Thái được giải thoát khỏi các trại tập trung của Đức Quốc Xã sau thế chiến thứ hai. Họ đến xứ Úc chỉ với bộ đồ tù sọc xanh và đen, trên cánh tay xâm những con số tù khi họ bị quân Đức lùa vào trại tập trung. Nhóm người này bị gọi là "bọn vằn" hay lịch sự hơn đôi chút gọi là "bọn Jew". Cuối thập niên 1950, khi công trình thủy điện lớn nhất của Úc được xây dựng ở Snowy River chính là lúc đợt di dân gốc Nam Âu như Ý và Hy Lạp đến Úc, tiếp đó là đợt các di dân gốc Đông Âu tỵ nạn Cộng Sản. Các nhóm di dân trên chịu chung sự kỳ thị khắc nghiệt của những người có quan niệm bảo thủ. Họ bị gọi là "bọn nông dân nhà quê"(chỉ các di dân gốc Hy Lạp và Ý) hay "bọn đỏ" (chỉ các di dân tỵ nạn công sản gốc Đông Âu). Một điều trớ trêu là chính bọn "nông dân nhà quê" và "bọn đỏ" đã là nguồn nhân lực chủ yếu để hoàn tất các công trình vĩ đại của Úc như đập thủy điện ở Snowy River và nhiều công trình khác. Người viết bài này vốn có một số khá nhiều bạn cùng làm một sở trước kia là gốc Hy Lạp va Ý; họ dã kể lại cho nghe kinh nghiệm đắng cay của họ khi cha mẹ họ và chính bản thân họ phải chịu đựng vào những ngày mới đến Úc như khi di chuyển trên xe Bus hay xe lửa là các phương tiện chuyên chở công cộng tại Úc, họ không bao giờ dám nói chuyện lớn tiếng, chỉ dám thầm thì với nhau để tránh cảnh bị các người Úc đã sống ở đây từ lâu "nguýt háy" thậm chí có thể bị nạt lớn vào mặt "shut up !" hay bị yêu cầu tài xế xe bus ngừng xe giữa đường và bị đuổi xuống ngang xuơng kèm theo lời mắng "ném mấy tên nhà quê ra khỏi xe cho khuất mắt !" Cuối thập niên 1970 khi có đợt nhận các người tỵ nạn Cộng Sản từ Đông Nam Á Châu thì những người mới đến này bị gọi là "bọn người kỳ quái" (weird mob) chỉ các người gốc Việt hay Lào hoặc Cambodia và "bọn chinh choong" chỉ những người gốc Hoa.

Những cảnh kỳ thị nói trên ngày càng dần dần biến mất, chưa kể là Chính Phủ Úc đã ban hành hẳn một đạo luật chống kỳ thị bao gồm cả các sự kỳ thị vì nguồn gốc sắc tộc, phái tính hay tín ngưỡng và ngôn ngữ.

Những thay đổi nói trên đã và đang ngày càng gia tăng,thậm chí trong một lần trả lời trong một cuộc phỏng vấn cho một tờ báo lớn ở Úc là tờ The Weekend Australian đương kim Thủ Tướng Úc, ông John Howard, đã cho rằng với đà tiến triển hiện nay thì trong một tương lai nào đó Thủ Tướng Úc có thể là một người Úc gốc Việt Nam. Nước Úc ngày nay là một tập hợp gồm 147 sắc dân đến từ khắp các châu Lục trên thế giới sống hài hòa trong tinh thần đa nguyên và đa văn hóa.

            Đấy là nhìn vào sự thay đổi về mặt kết cấu của các sắc dân hiện định cư trên đất Úc. Nếu nhìn vào lối sống ta cũng thấy khá nhiều sự đổi thay. Gần sáu thập kỷ trước đây, tức là sau đệ nhị thế chiến, khi nền kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ trở lại sau cuộc đại suy thoái của thập kỷ 1930, nhà nước Úc khuyến khích dân chúng sinh con cái và đã tạo nên một thế hệ mà sau này người ta gọi là thế hệ "baby boom". Người dân Úc thời đó đa số muốn có từ 2 đứa con trở lên, do đó các ngôi nhà xây dựng vào thời đó bắt đầu vượt qua số hai phòng ngủ như trước đó. Cũng vào thời đó vì nhu cầu phát triển kỹ nghệ nặng khắp nơi trên thế giới người ta đua nhau đi tìm và khai thác quặng mỏ, nước Úc vào giai đoạn này đã tìm và khai thác được khá nhiều loại quặng mỏ cần thiết cho sự phát triển kỹ nghệ của Úc cũng như các nước khác trên thế giới. Sự kiện này dẫn đến cán cân thương mại của Úc trong đó phần xuất vượt trội phần nhập. Chính giai đoạn này vì nhu cầu phát triển đất nước và nhất là sau cuộc thế chiến thứ hai nhiều sắc dân ở Âu Châu bị ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh khiến trở nên khánh tận tài sản, đã đua nhau tìm đến định cư ở vùng Nam bán cầu này. Giai đoạn này chính là giai đoạn mà có người đã nói đùa là xứ này là xứ chỉ cần "đào đất" lên đem bán cũng có ăn.

            Từ khi các nước Nhật, Đức, Ý phục hồi mạnh mẽ và dần dần trở nên các cường quốc về kinh tế thì ở Úc sự thay đổi về cách làm ăn cũng ngày càng rõ nét. Người ta đã từ bỏ quan niệm "cứ đào lên đem bán" là có ăn. Thái độ làm ăn cần cù, kỹ thuật quản lý cải tiến cùng các tiến bộ về khoa học kỹ thuật đã khiến người ta có cái nhìn nặng về kỹ năng hơn sắc tộc. Người dân bất kể nguồn gốc đến từ đâu nếu có kỹ năng cao thì lập tức được chấp nhận. Hiện nay mặc dù theo luật lao động Úc số giờ bắt buộc của công nhân trong các công cũng như tư sở là 40 giờ/tuần, nhưng trong thực tế rất nhiều công ty đòi hỏi công nhân làm việc nhiều khi đến mức 60 giờ/tuần tuy có thể được lãnh lương cao hơn để bù vào sự "hy sinh" đó. Nhưng động lực khiến người công nhân Úc ngày nay chấp nhận làm việc cực nhọc hơn trước kia như thế không phải chỉ là đồng lương mà là vì bị ảnh hưởng chung bởi quan niệm đặt "hiệu năng" của công việc lên trên hết, hiện là quan niệm phổ quát trên toàn thế giới, khiến người công nhân Úc cũng không thể vượt ra ngoài cái khuôn khổ của cơ chế hiện áp đảo trong hoạt động kinh tế toàn cầu đó.

            Cũng chính vì những đổi thay trong quan niệm làm việc nói trên khiến thái độ kỳ thị dân da màu của người Úc da trắng cũng ngày càng giảm đi mạnh mẽ theo thời gian. Hơn hai thập kỷ trước đây khi chính phủ Úc được lãnh đạo bởi một lãnh tụ có cái nhìn viễn kiến đầy thông minh và sáng suốt là ông Malcom Fraser Thủ lãnh của đảng Tự Do thời đó, ông cũng là người chỉ trong gần một thập niên cầm quyền đã mở rộng cửa để đón nhận hơn 100,000 người dân gốc Đông Nam Á, trong đó đa số là dân Việt Nam đến định cư ở Úc sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975 ở Việt Nam. Người Á Châu và nhất là người Việt Nam rất nổi tiếng là sắc dân cần cù chăm chỉ, học sinh Việt là loại đặc biệt thường được cha mẹ vừa khuyến khích, động viên mạnh mẽ và cả hy sinh mọi hưởng thụ riêng tư để đầu tư cho con cái trong tương lai đã có lúc khiến vài giới chức gốc da trắng la lớn lên là nếu cứ cái đà hiện nay tiếp tục thì chả mấy chốc các đại học Úc sẽ là các đại học của những người "đầu đen". Một phong trào chính do người Việt mở ra và phát triển trong cộng đồng Việt Nam tại Úc là phong trào mở "lớp dạy kèm" cho học sinh bậc trung học đã lan rộng thành phổ thông ở mọi sắc tộc. Thoạt kỳ thủy do suy nghĩ rằng trẻ em Việt Nam vốn không có tiếng nói mẹ đẻ là tiếng Anh, nên sẽ học chậm hơn trẻ em có nguồn gốc tiếng mẹ đẻ là tiếng Anh khiến các bậc cha mẹ Việt Nam đi tìm thày dạy kèm cho con mình. Dần dà để tranh thắng với trẻ em da trắng khi nghĩ rằng con em mình vốn bị kỳ thị vì mầu da nên nếu cùng đi xin một công việc mà khả năng chỉ tương đương với trẻ em da trắng thì sẽ không bao giờ cạnh tranh được với trẻ da trắng nên đã khuyến khích con em mình không những học thêm Anh ngữ mà còn cả về các môn học khác nhất là Toán, Lý, Hóa để có thể đạt thành tích vượt trội hơn trẻ em da trắng. Kết qủa là nhờ được học thêm nhiều môn học và cộng thêm bản chất vốn chăm chỉ, học sinh Việt Nam nói riêng và Á Châu nói chung trở nên thành phần áp đảo ở khắp các Đại Học Úc. Bất cứ ai đến Úc chỉ cần mở bất cứ tờ báo Việt ngữ nào ra cũng có thể tìm thấy ngay hàng chục quảng cáo của các trung tâm dạy kèm dành cho các học sinh trung, tiểu học ở khắp mọi nơi trên đất Úc, những nơi có nhiều người Việt cư ngụ. Hiện tượng học thêm ở các lớp dạy kèm này ngày xưa ở Miền Nam Việt Nam gọi là hoc các "cua pác" (do chữ cours particuliaire của tiếng Pháp) trở nên rất quen thuộc ở Úc ngày nay. Hiện tượng này lan dần sang cộng đồng gốc Hoa rồi các sắc dân khác. Hiện nay ngay cả các dân da trắng cũng bắt đầu khuyến khích con em mình tham dự các lớp dạy kèm của người Việt và Úc.

            Nhắc đến chuyện học kèm một khuôn mặt và tên tuổi khá nổi bật trên toàn nước Úc phải nhắc đến là David Phú An Chiêm, anh này là người Úc gốc Việt, quê quán ở Rạch Gía, tốt nghiệp về ngành đạo diễn điện ảnh, từng làm phụ tá dạo diễn cho phim Ba mùa (three season) và có tác phẩm văn chương viết bằng Anh ngữ xuất bản tại Úc (cuốn "Only the Heart", viết chung với Brian Caswell) , anh chỉ mới nhẩy vào hoạt động dạy kèm chừng dăm năm trở lại đây, nhưng tên tuổi anh trở nên khá quen thuộc trong cộng đồng Việt Nam trên toàn nước Úc, lý do là anh đã cùng một số bạn Úc "phát minh" ra một phương pháp học đặt tên là ALW (Accelerated Learning Worldwide) khiến học sinh nào học theo lối của anh sẽ tăng cường trí nhớ lên đến mức 100%, rút ngắn thời gian phải học và nhớ bài giảng ở nhà trường lên đến mức 40%. Hoc sinh muốn theo học một khóa với nhóm của anh thường phải trả một lệ phí lên đến vài ngàn Dollars cho một khóa học kéo dài trong gần 20 tuần lễ. Thế mà các bậc phu huynh của hoc sinh Việt Nam vẫn vui vẻ đài thọ cho con cái của mình. Chỉ trong một thời gian chưa đầy 5 năm số học sinh theo học các khóa học do anh mở ra đã vuợt qua con số 60,000 trên khắp lãnh thổ Úc. Thoạt kỳ thủy chỉ có học sinh gốc Á Châu tìm đến học với anh nhưng nay thì đủ mọi sắc dân đều thấy hiện diện trong các khóa học do nhóm của anh mở ra. Phải chăng đây cũng là một thay đổi khá nổi bật trong sinh hoạt của nước Úc ?

Nghề làm thày giáo ở Úc trước đây vốn là nghề không hấp dẫn nổi các cô cậu "Tú" đậu cao chọn theo học, nay bắt đầu trở thành "có gía" vì ngoài hoạt động chính thức trong trường, họ còn có cơ hội dễ dàng kiếm "second income" do việc mở các lớp dạy kèm cho học sinh mà các bậc cha mẹ hiện đang khuyến khích con cái mình theo đuổi. Các sinh viên Việt Nam hiện học tại các đại học Úc có một nghề tay trái để giúp họ dễ dàng trang trải phí tổn học hành hiện ngày càng gia tăng là nghề dạy kèm học sinh tại gia hoặc mở lớp dạy kèm loại "mini" (tức là lớp chỉ dạy chừng dưới 10 học sinh mà thôi).

Giới trẻ Việt Nam ngày nay hiện diện trong hầu hết mọi ngành nghề của nước Úc, nhiều khuôn mặt trẻ còn thấy xuất hiện cả trên chính trường Úc như những bộ mặt sáng giá của các đảng phái chính trị của Úc. Chính điều này đã khiến vị đương kim Thủ Tướng nghĩ rằng trong một tương lai nào đó Thủ Tướng Úc có thể là một người Úc gốc Việt.

            Nhìn vào các lãnh vực khác như thể thao chẳng hạn, người Úc vốn nổi tiếng là "khùng" vì thể thao. Thật vậy dân Úc mê thể thao đến độ "điên cuồng" như "khùng", họ có thể bỏ qua bất cứ hoạt động thường ngày nào nhưng thường khó bỏ qua dịp được dự khán một cuộc tranh tài giữa hai đội banh bồ dục đại diện hai Tiểu bang vào chung kết hoặc các trận chung kết các giải vô địch Úc hoặc liên quốc. Vào dịp có các trận chung kết loại này người dân Úc có người đã phải mang "nóp" đến ngủ ngay ở gần phòng bán vé vào cửa từ đêm hôm trước để "chắc ăn" là sẽ mua được vé vào cửa ngày hôm sau khi phòng vé vừa mở cửa bán vé cho công chúng. Một thí dụ khác khá nổi bật mà ai đến Úc cũng có thể nhận thấy là hàng năm vào tháng mười dương lịch có cuộc đua ngựa tại thành phố Melbourne, Thủ phủ của Bang Victoria, ngày đó là một ngày nghỉ lễ chính thức của Tiểu bang, đồng thời vào giờ mà cuộc đua của giải Melbourne Cup thì từ Thủ Tướng tới bất cứ người dân thường nào cũng ngưng công việc của mình để nhìn vào màn ảnh nhỏ của máy truyền hình mà theo dõi cuộc đua ngựa này, hầu như trên 50% dân Úc có tham gia đánh "cá" độ đua ngựa này trên khắp nước Úc. Vào giờ đó tất cả các hệ thống truyền hình Úc đều có trực tiếp truyền hình về độ đua ngựa đó. Ngày xưa khoảng hơn nửa thế kỷ trước khi giải Melbourne Cup mới mở ra thì máy truyền hình chưa phổ biến như ngày nay, cuộc đua chỉ được tường thuật trên báo chí và trên đài phát thanh. Nay với sự phát triển của ngành truyền thông giải đua ngựa này không những là giải mang tính cách "quốc gia" mà hiện nay nó còn trở thành giải quốc tế vì sự tham dự của ngựa đua của nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Tân Tây Lan v..v..

            Về mặt bang giao quốc tế từ khi khối Cộng Sản xụp đổ quan điểm toàn cầu hóa trở nên phổ biến thì nước Úc càng ngày càng tham dự nhiều hơn vào các sinh hoạt chung với các nước khác, như vụ Đông Timor, vụ dánh "khủng bố" ở Afghanistan, trận chiến vùng vịnh (Ba Tư) dánh Sadam Hussein v..v..Úc cũng là một sáng lập viên của cơ chế hợp tác kinh tế vùng Thái Bình Dương. Liên hệ kinh tế của Úc ngày càng nhiều với Á Châu thay vì trước kia gần như chỉ biết đến Âu Châu và Mỹ Châu.

            Nhìn sang Mỹ quốc, một đại cường từ Thế chiến thứ Nhất, chưa từng "bại trận" bao giờ đã có khá nhiều thay đổi sau trận "thua" nhục nhã ở Việt Nam. Ngày nay nước Mỹ trong thế đơn cực đã không những phải lo cho chính bản thân mà còn mặc nhiên phải gánh vai trò lãnh đạo toàn thế giới nhất là từ khi khối Cộng Sản xụp đổ và cuộc chiến tranh lạnh giữa Nga Mỹ chấm dứt. Người Mỹ và nhất là nước Mỹ trở thành mẫu mực nhưng cũng là mục tiêu cho các cuộc chống đối và đả kích từ khắp nơi trên thế giới. Vấn đề tự do của con người tuy vốn được ghi rõ trong Hiến Pháp nhưng trong thực tế ảnh hưởng của tôn giáo nhất là Ca Tô giáo (nói đúng hơn là các tôn giáo thờ Chúa Trời) gần như bao trùm toàn thể mọi hoạt động trong nước. Ngày nay tuy Tổng Thống Mỹ vẫn để tay lên cuốn thánh kinh thề khi nhậm chức nhưng thực tế cho thấy chính sách của nước Mỹ chả "ăn nhậu" gì đến các giáo hội thờ Chúa trời như xưa nữa mà rõ ràng là người ta chỉ nhắm tới việc kiếm tìm hạnh phúc cho chính người dân của nước Mỹ chứ không để ý đến khía cạnh hạnh phúc đó có phù hợp với quan điểm của "hội thánh" hay "giáo hội" hay không.

            Nhìn về Việt Nam sự thay đổi rõ nét nhất trước đây chừng ba thập kỷ là sự xây dựng "con người xã hội chủ nghĩa" một kiểu mẫu mà nhà cầm quyền ở Việt Nam và các nước Cộng sản đề cao và theo đuổi. Dù họ định nghĩa con người xã hội chủ nghĩa của họ như thế nào trong thực tế người ta đã thấy tư tưởng chủ yếu luôn chi phối và hướng dẫn con người "xã hội chủ nghĩa" đó, là chỉ cần đạt mục đích, bất kể đến phương tiện theo đuổi. Chính vì chủ trương như vậy người công sản Việt Nam không bao giờ cảm thấy xấu hổ khi phải lừa bịp người khác hay dùng những biện pháp thực hành dã man để đạt mục đích mong muốn. Từ người lãnh đạo cho đến anh quét đường tình nghĩa gia dình, tình yêu tổ quốc, cái căn bản cốt lõi mà tổ tiên người Việt xưa kia đã đề cao và dùng làm nền tảng xây dựng cho sự bền vững của xứ sở trên 4,000 năm, đã bị coi rẻ và không để ý đến nữa, bị gạt hẳn sang bên lề . Họ cho là cản trở cho công cuộc xây dựng xã hội kiểu"xã hội chủ nghĩa" của họ. Thực tế đã chứng minh cho họ thấy là họ sai lầm , đã đưa đẩy dân tộc chìm dắm trong nghèo nàn và lạc hậu. Hai thập kỷ trước đây miệng tuy vẫn nói là duy trì đường lối cũ nhưng "đổi mới" theo cơ chế thị trường. Họ đã phải thay đổi! Nước Việt Nam ngày nay phải gọi là một quốc gia cộng sản nhưng không giống cộng sản một chút nào hết. Một thứ cộng không ra cộng mà trừ cũng không ra trừ. Nhưng từ ngày " đổi mới", rõ ràng là người dân dễ thở và có cuộc sống ra vẻ đáng "sống" hơn trước thấy rõ. Những thay đổi này chắc chắn chưa thể ngừng, nó sẽ còn nhiều nữa nhất là với hành vi nhà cầm quyền Việt Nam vừa cắt đất, cắt biển dâng cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc là Trung Hoa. Sự thay đổi ở Việt Nam thế tất sẽ chuyển biến theo một đà mạnh mẽ và đổi hướng nhiều hơn nữa mà chúng ta có thể sẽ thấy xuất hiện trong nay mai, nhất là nếu Việt Nam được gia nhập WTO (tổ chức thương mại thế giới) vào vài năm tới đây thì dù muốn dù không hệ thống luật pháp phải thay đổi cho thích hợp, quan niệm tự do kinh doanh sẽ dẫn đến tự do tư tưởng và chính trị cùng với các quyền tự do căn bản khác. Sự cáo chung của phong trào cộng sản thế giới tuy tan rã gần hết trước đây hai thập niên có thể sẽ thực sự chấm dứt trong những năm sắp tới. Có lẽ chúng ta cần chờ xem sự việc sẽ diễn ra như thế nào trong những ngày tới để có thể thấy một bộ mặt mới cho Việt Nam trong thiên kỷ thứ ba này.

Như trên tôi đã trình bày những thay đổi chính yếu ở Úc nhưng chỉ phác qua những thay đổi rõ nét nhất ở Mỹ và Việt Nam vì tôi nghĩ rằng làm một cuộc so sánh e rằng vượt qúa khả năng tầm thường của một cá nhân do thế tôi chỉ dám lướt qua như vậy và xin dành sự so sánh cho người đọc và tùy theo quan điểm của mỗi người có thể có cái nhìn khác biệt trong từng lãnh vực.

                CVA Đặng Gia Thoại

* * *
SAU CUỘC CHIẾN

Cao Mỵ Nhân

Anh về rũ áo từ quan

Ao đâu mà rũ, quan quàn trái tim

Chín năm còn lại tia nhìn

Không trăn trối, chẳng ân đền oán mang.

Thương em tung vạt cờ vàng

Phủ vai anh nỗi bàng hoàng ngẩn ngơ

Hai mươi năm vẫn mộng mơ

Em ơi quan quách, áo chờ người may.

Này đây: ngang dọc thế này

Sắc màu vô ngã, hồn bay lạc loài

Nhung y đã ủ thân dài

Đôi tà võ phục cứ hoài so le.

Ao anh sứt chỉ đam mê

Tua vai túi ngực, ê chề buồn tênh

Đồi hoang, gió hú biên đình

Giờ đây bó gối lặng thinh quê người.

Đang khi tham chiến bên trời

Kiếm cung chưa mỏi mệt người sắt son

Sầu ai lấp biển san non

Cũng không vơi được sầu chôn anh hùng

Thôi em bỏ lại sau lưng

Quan xưa, áo cũ đã từng dọc ngang

Nhưng, xin duy vạt cờ vàng

Liệm hồn chiến sĩ dở dang cho người.

* * *
Đời quân ngũ

CVA Phạm Nguyên Khôi

Thật ra, đời quân ngũ của tôi chẳng có gì đáng nói nếu so sánh với các chiến sĩ anh hùng thuộc các binh chủng Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, v.v. Tuy nhiên, vì chủ đề của Đặc San CVA năm nay là “Một thời chinh chiến”, do đó, tôi xin đóng góp một bài viết về đời quân ngũ của tôi.

Câu chuyện về đời quân ngũ của tôi, tính ra cũng đã hơn ba thập niên. Vì thời gian đã quá lâu nên có thể có những chi tiết không được chính xác. Những gì còn nhớ được, tôi xin ghi lại sau đây:

Năm 20 tuổi, tôi bị động viên vào khóa 5/69 Thủ Đức. Khi trình diện ở Trung Tâm 3 Tuyển Mộ và Nhập Ngũ, thấy Hải Quân có thông cáo cần tuyển Sĩ Quan có văn bằng Tú tài 2 nên tôi xin ghi danh. Sau khi thụ huấn 3 tháng ở Trung Tâm huấn luyện Quang Trung, tôi được chuyển qua thụ huấn tiếp 6 tháng ở trường Bộ Binh Thủ Đức. Ra trường ngày 11/4/1970 với cấp bậc Chuẩn Úy, tôi và hai sĩ quan nữa là Chuẩn úy Tuất và Chuẩn Úy Tường được thuyên chuyển về Giang Đoàn 70 Thủy Bộ, lúc đó đang đóng ở căn cứ Hải Quân Đồng Tâm, Định Tường.

Chỉ huy trưởng Giang Đoàn lúc đó là Hải Quân Thiếu tá Nguyễn Như Phú, xuất thân khóa 16 Đà Lạt và là khóa 13 Hải Quân Nha Trang. Chỉ Huy Phó là Đại úy Trần Đình Liệu, khóa 11 Hải Quân Nha Trang. Sĩ Quan Cơ Khí là Trung úy Ngãi, khóa 17 Nha Trang. Sĩ Quan Hậu Cứ là Thiếu úy Đàm khóa 18 Nha Trang. Chỉ Huy Trưởng Liên Giang Đoàn là Trung Tá Học và Chỉ Huy Phó là Đại úy Nguyễn An Cường, khóa 14 Nha Trang.

Tháng 5/1970, Giang Đoàn 70 Thủy Bộ được lệnh hành quân qua Cam Bốt và tạm đóng tại Neak Luong. Giang Đoàn có nhiệm vụ yểm trợ các đơn vị Bộ Binh trên bờ, bảo vệ an ninh, và tuần tiểu trên sông từ Banam đến biên giới Việt Miên. Thỉnh thoảng, chúng tôi có những công tác lên Nam Vang, hoặc xuống Tân Châu, Hồng Ngự, Châu Đốc, v.v.

Trong thời gian đầu tiên qua Cam Bốt, mỗi ngày, tôi thấy khoảng vài xác người trôi sông. Phần lớn là những nạn nhân người Việt bị cáp duồn quăng xác xuống sông. Có nạn nhân bị chặt mất đầu, cũng có nạn nhân chỉ còn thân mình mà thôi, mất đầu, hai tay và hai chân. Có nhiều nạn nhân trôi trên sông mà bụng vẫn còn có một khúc cây xuyên qua, có khi xuyên ngang, có khi xuyên dọc. Rõ ràng, hung thủ là những kẻ sát nhân cực kỳ hung ác, đã hành quyết những nạn nhân vô tội người Việt này một cách thảm khốc.

Bỏ qua hình ảnh dã man về những nạn nhân người Việt bị cáp duồn giết thả trôi sông, tôi thấy cảnh vật và đời sống những cư dân sinh sống dọc theo bên bờ sông Cửu Long thật hiền hòa. Có rất nhiều người Việt sinh sống dọc theo hai bên bờ sông hoặc trên những cồn, những cù lao trên sông. Nhiều lần, tôi đã lên bờ tiếp xúc nói chuyện bằng tiếng Việt với dân chúng địa phương. Họ thật thà, chất phác, tiếp đón nói chuyện với chúng tôi một cách vui vẻ và niềm nở. Khung cảnh thật thanh bình và không có dấu hiệu gì là chiến tranh ở những nơi thôn quê, làng mạc hẻo lánh này.

Thật là lầm to khi nhìn thấy khung cảnh êm đềm đó mà nghĩ rằng nơi đây đang có thanh bình. Nhiều lần, có những tàu buôn và tàu hộ tống Việt Nam bị đại bác 57 hoặc 75 ly trong bờ bắn ra. Điều này chứng tỏ tình trạng mất an ninh trên thủy trình đi Nam Vang. May mắn thay, Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam đã tấn công, đột nhập sào huyệt VC, tịch thu một số súng nặng nên tình trạng an ninh thủy lộ đã được cải thiện. Vì sông Cửu Long rộng mênh mông, cho nên bị mất súng lớn, những súng nhỏ của du kích VC chẳng làm được gì được với những tàu đi giữa sông.

Mấy tháng sau, Giang Đoàn 70 được lệnh tham dự hành quân lớn, hợp cùng với 3 giang đoàn bạn chở một số binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân đánh vào Takeo. Bên phía Hải Quân không có đụng độ trực tiếp với Việt Cộng vì Giang đoàn nằm án ngữ mặt sông, tuy nhiên trên bộ, Thủy Quân Lục Chiến đụng lớn, thắng trận vẻ vang.

Trong khoảng thời gian 6 tháng hành quân bên Cam Bốt, Giang Đoàn bị thiệt hại mất hai quân nhân: Một Thủy Thủ bị Việt Cộng bắt mất tích và một thủy thủ khác tên là Hùng bị thiệt mạng vì bị Đặc Công Việt Cộng gài mìn làm tàu chìm. Chỉ Huy Trưởng chỉ thị cho tôi đưa xác anh Hùng từ bên Cam Bốt về nhà cha mẹ anh ta ở xã Ngọc Hội, ngoại ô thị xã Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hòa. Qua bao khó khăn và trở ngại, cuối cùng tôi cũng đã đưa được xác anh Hùng về nơi quê quán. Tôi đã đau lòng nhìn cảnh cha mẹ và thân nhân anh Hùng khóc thương cho người thân đã vĩnh viễn ra đi. Tôi đã ở lại thêm mấy ngày, tham dự lễ cầu hồn và đám táng anh ta theo nghi lễ Công Giáo, sau đó tôi mới trở về đơn vị.

Khoảng cuối năm 1970, Giang Đoàn 70 được lệnh rút về nước. Trở về Việt Nam, Giang đoàn 70 cùng với 71 đóng ở hậu cứ mới tại căn cứ Hải Quân Kiên An ở Xẻo Rô, thuộc quận Kiên An. Căn cứ được một Đại Đội Địa Phương Quân nằm vòng ngoài bảo vệ.

Tôi cũng xin nói thêm về địa hình, địa vật ở đây: Căn cứ Hải Quân Kiên An nằm trên ngã ba sông Cái Lớn và kinh Cán Gáo. Từ căn cứ Hải Quân tới biển khoảng một chục cây số. Bên kia sông Cái Lớn là Tắc Cậu. Đi thêm vài cây số là Minh Lương. Tiếp tục đi thêm nữa là ra quận Rạch Sỏi. Tiếp tục đi thêm khoảng 6, 7 cây số nữa là tới thị xã Rạch Giá, thuộc tỉnh Kiên Giang. Từ căn cứ Hải Quân Kiên An đi sâu vào trong, đầu tiên bên trái là quận Kiên An ở kinh 3, sau đó là quận Hiếu Lễ ở kinh 12 (Quận Hiếu Lễ đã bị Việt Cộng chiếm từ lâu). Đi sâu vào trong nữa là Thới Bình, sau đó là Cà Mau. Từ Cà Mau, theo kinh Bảy Hạp đi về phía nam sẽ tới Căn Cứ Hải Quân Năm Căn.

Hồi Giang Đoàn mới di chuyển về Kiên An, căn cứ thường bị Việt Cộng pháo kích bằng súng cối. Nhờ Địa Phương Quân bung ra hoạt động nên Việt Cộng mới im họng súng. Căn cứ cũng rất gần U Minh Thượng, nơi đây nổi tiếng có nhiều muỗi và nhiều Việt Cộng hoạt động.  

Có một lần, căn cứ Hải Quân Kiên An bị Việt Cộng tấn công. Vài cán binh Cộng sản bị bắn hạ khi đã lọt vào tới cột cờ trong căn cứ. Tuy nhiên, Việt Cộng đã bị đẩy lui vì sự kháng cự mãnh liệt của các quân nhân đồn trú ở đây. Trước khi tháo lui, Việt Cộng đã xử tử một số viên chức xã ấp cư ngụ ngoài căn cứ. Vài thường dân cũng bị giết chết chỉ vì tội giao dịch cộng tác với Hải Quân.

Giang Đoàn thường ngày vẫn tuần tiểu trên các sông, kinh, rạch trong vùng và thỉnh thoảng nhận được lệnh chở Địa Phương Quân đi tảo thanh Việt Cộng. Thông thường chỉ có đụng độ lẻ tẻ. Vì quận Hiếu Lễ vẫn còn nằm trong vùng kiểm soát của Việt Cộng nên 2 Giang Đoàn 70 và 71 đã được lệnh hành quân phối hợp với 1 trung đoàn của Sư Đoàn 21 để hành quân giải tỏa, tái chiếm lại quận lỵ hẻo lánh này. Trên danh nghĩa, Hiếu Lễ là một quận lỵ nhưng trên thực tế, quận lỵ Hiếu Lễ nghèo nàn, dân cư thưa thớt, nhỏ chỉ bằng một xã. Lúc hai Giang Đoàn chở bộ binh của sư đoàn 21 vào vùng hành quân, dân chúng sợ hãi giao tranh nên ồ ạt chèo xuồng di tản về phía phe Quốc Gia lánh nạn.

Khi gần vào tới quận Hiếu Lễ, tôi thấy cờ Mặt Trận Giải Phóng treo đầy dọc theo bờ kinh. Nằm về phía tay phải, tôi thấy có một nghĩa trang Việt Cộng, trông rất sơ sài, trong đó những ngôi mộ, cỏ đã mọc um tùm, xanh rì. Bên trái nghĩa trang có một tấm biển “Sống Vinh Quang”, bên phải có một tấm biển “Chết Vĩ Đại”.

Vì VC đã rút lui nên Trung Đoàn bộ binh của Sư Đoàn 21 đã tái chiếm quận lỵ Hiếu Lễ một cách dễ dàng. Bộ Binh đóng trên bờ, còn trên mặt kinh Cán Gáo là hai Giang Đoàn Hải Quân nằm án ngữ. Trong những ngày đầu tiên, tình hình có vẻ yên tĩnh vì Việt Cộng cố tình tránh né giao tranh với chúng tôi. Tuy nhiên, đến tối ngày thứ năm, Chỉ Huy Trưởng Giang Đoàn cho biết là Việt Cộng đã tập trung được một lực lượng đông đảo và có thể VC sẽ tấn công chúng tôi trong đêm. Chúng tôi được lệnh đề cao, cảnh giác. Nhiều tiếng đại bác của phe ta từ nơi đóng quân bắn đi, có lẽ để bắn quấy rối địch quân.

Vào khoảng nửa khuya, địch bắt đầu khởi sự tấn công. Bất thình lình, chiến đỉnh mà tôi đang chỉ huy bị trúng một trái B40 nhưng không hề gì. Lý do là chung quanh tàu có một lớp foam cùng với hàng rào sắt chống B40 bao bọc. Cùng lúc đó, tôi nghe thấy địch bắn đủ loại súng lớn nhỏ vào đoàn tàu của Giang Đoàn đang nằm án ngữ trên kinh. Tôi vội vàng cầm máy truyền tin liên lạc với Chỉ Huy Trưởng và liên lạc với mấy chiếc tàu trách nhiệm của tôi.   Chỉ Huy Trưởng ra lệnh phản công. Trong đêm tối không nhìn rõ địch quân nên thấy chỗ nào nháng lửa lên bắn về phía chúng tôi là chúng tôi dùng đại liên 50 và đại bác 20 ly quạt trả lại. Trận chiến tiếp tục đến khoảng 4 giờ sáng, lúc đó có máy bay của không quân Việt Nam tới yểm trợ và tới gần sáng, địch rút lui.

Trong lúc giao tranh, tàu của tôi bị trúng thêm vài trái B40 nữa. Tôi bị thương nhẹ nơi cánh tay và đùi vì bị miểng B40 tạt vào. Trực thăng tải thương đưa tôi về Bệnh viện Cà Mau. Trong trận này, tôi được ân thưởng Chiến thương bội tinh và Anh Dũng Bội Tinh ngôi sao đồng.

Việt Cộng hoàn toàn thất bại trong âm mưu tái chiếm lại quận lỵ Hiếu Lễ, để lại 56 xác chết không kịp mang đi. Bên phía ta, có 19 quân nhân thuộc Sư Đoàn 21 tử thương. Phía Hải Quân chết 1 người, bị thương khoảng hơn chục người. Trong trận này, tôi rất cảm phục Đại Úy Nguyễn An Cường đã chiến đấu rất gan lỳ, hăng say đến nỗi người lính tiếp đạn bị tử thương mà hồi lâu sau, Đại úy Cường mới hay biết.

Sau đó, Thiếu tá Phú được thuyên chuyển về tàu biển, Đại Úy Dương Duy Thuần khóa 13 Hải Quân Nha Trang lên thay. Trong một trận đụng độ với VC, Đại Úy Thuần bị một mảnh đạn B40 xuyên qua má làm hư hại hàm răng.

Trong những trận đụng độ kế tiếp, Giang Đoàn có thêm vài người nữa bị tử thương, trong đó có Chuẩn Úy Thắng. Chuẩn Úy Thắng là con trai độc nhất của ông bà Chủ Nhiệm một tờ báo lớn ở Sài Gòn lúc bấy giờ, hình như là Thời Báo (?). Tuy nhiên, Chuẩn úy Thắng vẫn phải nhập ngũ vì cha mẹ chưa trên 60 tuổi. Tôi được lệnh đưa xác Chuẩn Úy Thắng về Sài Gòn, quàng tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Do sự tình cờ, trong lúc đó, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn ghé thăm Nghĩa Trang, Tổng Thống có tặng cho gia đình mỗi tử sĩ đang quàng xác tại đây 5 ngàn đồng Việt Nam.

Có anh Trần Ngọc Diệp, xuất thân khóa 1 OCS được thuyên chuyển về Giang Đoàn. Anh một người bạn rất thân của tôi. Khoảng vài tháng sau khi đổi về Giang Đoàn, anh Diệp bị thất tình. Chán đời, anh ta xin tình nguyện đi hành quân liên tục. Vì số chưa chết nên suốt trong thời gian phục vụ ở Giang Đoàn, anh Diệp không bị thương tích gì cả. Trong một chuyến công tác, chiến đỉnh anh Diệp móc được một trái thủy lôi của VC gài nhưng rất may trái thủy lôi này không phát nổ. Tiếc thay, sau này khi được thuyên chuyển về tàu biển, đáng lẽ là chỗ rất an toàn hơn ở Giang Đoàn thì anh ta lại tử thương vào khoảng hạ tuần tháng tư năm 75 khi chiếc dương vận hạm HQ503 mà anh Diệp đang phục vụ trên đó bị trúng đạn đại bác VC từ trong bờ bắn ra trúng đài Chỉ Huy

Sau Đại Úy Thuần là Đại Úy Lời và sau đó là Đại Úy Bảnh bên Biệt Hải về làm Chỉ Huy Trưởng Giang Đoàn. Mới nhận đơn vị được khoảng một tháng, trên chuyến đi từ Rạch Giá trở về đơn vị, Đại Úy Bảnh bị tử nạn vì xe Jeep nhà binh bị lật khi vừa qua cầu Quay. Một số Sĩ Quan, trong đó có tôi được phép về Sài Gòn tham dự đám táng.

Đại Úy Lê Đức Thụ, khóa 12 Sĩ Quan Nha Trang được thuyên chuyển về làm Chỉ Huy Trưởng Giang Đoàn 70. Vài tuần sau, trong một chuyến hành quân, chiến đĩnh Tango 1258 bị VC giựt thủy lôi làm tất cả thủy thủ đoàn trên đó thiệt mạng. Tổng cộng có 12 người chết gồm có 10 Việt Nam và 2 cố vấn Hải Quân Mỹ. Phía Mỹ có một Trung tá và một Thượng Sĩ. Phía Việt Nam có Đại Úy Thụ, Chỉ Huy Trưởng, Chuẩn Úy Luật và thêm 8 quân nhân nữa. Vì thời gian quá ngắn ngủi, tôi không biết nhiều về Đại Úy Thụ nhưng qua cách làm việc, tôi thấy Đại Úy Thụ là một Sĩ Quan tham mưu tài ba, đàng hoàng, và đứng đắn.

Nói về chuẩn úy Luật, anh cũng là một người bạn thân của tôi. Bình thường anh Luật không đi trên chiếc Tango 1258. Lúc có lệnh hành quân, chuẩn úy Luật đang ở Rạch Sỏi. Nghe được lệnh hành quân qua máy truyền tin PRC25 mang theo, vì tinh thần trách nhiệm, chuẩn úy Luật vội vàng trở về Tắc Cậu, mướn ghe đuổi theo đoàn tàu. Khi đã lên chiến đỉnh mà bình thường chuẩn Úy Luật vẫn đi trên đó, Đại Úy Chỉ Huy Trưởng gọi máy kêu chuẩn Úy Luật qua chiếc 1258 trình diện. Âu cũng là định mệnh vì nửa tiếng sau, chiến đỉnh này bị thủy lôi, tất cả mọi người trên chiến đĩnh chết hết. Chiếc 1258 là một tàu chở quân. Tàu mái bằng, trực thăng có thể đáp lên được.   Vì hình thù đặc biệt khác với mấy chiếc tàu khác, có lẽ vì vậy mà VC nhắm giựt thủy lôi vào tàu này chăng? Sức nổ mạnh đến nỗi sàn đáp trực thăng trên tàu văng lên bờ.

Sau khoảng 20 tháng phục vụ ở Giang Đoàn 70 Thủy Bộ, tôi được thuyên chuyển qua đơn vị khác. Lúc đó, Đại Úy Lưu Chơn khóa 15 Nha Trang được thuyên chuyển về làm Chỉ Huy Trưởng. Về sau, tôi có nghe nói là Đại Úy Chơn bị thương nặng ở Cà Mau trong một trận đụng độ với VC. Cuộc đời Đại Úy Lưu Chơn rất hẩm hiu: Khi miền Nam xụp đổ, Thiếu Tá Lưu Chơn phải đi học tập cải tạo. Ra tù, Thiếu Tá Lưu Chơn vượt biên rồi bị mất tích trên biển cả.

Sau này, tôi về học Hải Nghiệp tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang. Ra trường, tôi chọn về HQ802. Đây là một Cơ Xưởng Hạm, cùng kích thước với loại Dương Vận Hạm 500. Cửa đổ bộ trước tàu đã được hàn kín. Đặc biệt nước sơn của tàu màu xanh lá mạ (olive), không cùng màu với các tàu Hải Quân khác. Hạm Trưởng là HQ Trung tá Phạm Cừ, sau đó là HQ Trung tá Lê Văn Quế. Vài tháng sau, HQ Trung Tá Vũ Quốc Công được đổi về làm Hạm Trưởng cho đến ngày miền Nam đổi chủ.

Thông thường, HQ802 neo ở ngoài bờ biển Vũng Tàu. Tuy nhiên, khoảng tết đầu năm 75, HQ802 được lệnh di chuyển tới Hà Tiên, neo giữa bắc đảo Phú Quốc với Hà Tiên để làm Bộ Chỉ Huy bài trừ buôn lậu. Sau khi Ban Mê Thuột thất thủ, HQ802 được lệnh ra Huế nhưng cuối cùng lệnh trên thay đổi nên tàu chỉ ra tới Đà Nẵng. Lúc qua căn cứ Chu Lai, tàu đã đón được rất nhiều quân nhân đủ mọi binh chủng, trong đó có Y Sĩ Trung tá Nguyễn Hoàng Hải, sau này có thời làm Hội Trưởng Hội Chu Văn An Bắc California.

Ra tới Đà Nẵng, HQ802 cũng đã tiếp đón rất nhiều thường dân và quân nhân của các đơn vị bạn. Khi Đà Nẵng thất thủ, tàu xuôi nam, đón được thiếu tướng Hinh ở ngoài bờ biển phía nam Đà Nẵng.

Tàu được lệnh ghé vào cảng Cam Ranh. Tất cả thường dân và quân nhân không phải nhân viên cơ hữu được lệnh rời tàu để lấy chỗ đón một lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến trong đó có Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến. Trong số người phải lên bờ, tôi thấy thương cảm nhất có một cô gái tuổi khoảng đôi mươi mà tôi mới quen. Cô này lên tàu HQ802 một mình, đến khi phải rời tàu HQ802 ở Cam Ranh cũng một mình. Thân gái dặm trường, không biết số phận cô ra sao?

Lúc tàu cặp bến Cam Ranh, tôi thấy có mấy chục xác chết trên mấy cái xà lan. Xác chết đã trở nên hôi thối nhưng lúc đó cũng chẳng còn ai lo việc di chuyển xác chết đi chỗ khác. Những xác chết này là những thường dân chạy loạn từ ngoài Đà Nẵng. Thấy những tàu dòng kéo theo những chiếc xà lan, họ nhẩy lên để tìm đường sống. Xà lan chỉ là hộp sắt kín, nổi trên mặt nước. Trên xà lan không có gì cả nên những người chạy loạn đáng thương này đã chết vì khát.

Sau khi Thủy Quân Lục Chiến đã lên tàu, HQ802 rời Cam Ranh để trở về Vũng Tàu. Tới Vũng Tàu, Thủy Quân Lục Chiến đã lần lượt lên bờ bằng những chiếc tàu nhỏ.

Tình hình chiến sự càng ngày càng trở nên nghiêm trọng. Vào khoảng ngày 23/4/75, Hạm Trưởng cho phép thủy thủ đoàn luân phiên về phép để đưa gia đình ra nằm chờ ở thị xã Vũng Tàu. Khi có lệnh, thân nhân của thủy thủ đoàn sẽ được đưa lên tàu. Hạm Trưởng Vũ Quốc Công rất tốt bụng, cho tôi về Saigon một ngày 21/4 để đưa đám táng anh Trần Ngọc Diệp, hai ngày sau lại cho phép tôi về nhà một ngày để đưa gia đình ra Vũng Tàu. Tuy nhiên, cha mẹ tôi lại chần chừ, chưa muốn đi ngay. Tôi cũng có liên lạc với một số người thân nhưng chẳng mấy ai tin tưởng một sĩ quan cấp bậc Trung Úy như tôi. Do đó, tôi chỉ mang được hai đứa em theo tôi ra Vũng Tàu.

Ngày 26/4/75, xa lộ 4 từ Sài Gòn đi Vũng Tàu bị cắt đứt tại Cỏ May. Ngày 27 tháng 4, 1975, Hạm Trưởng cho phép quân nhân các đơn vị bạn và thủy thủ đoàn được mang thân nhân lên tàu. Có 8 Sĩ Quan cấp Tướng có mặt trên HQ802 ngày hôm đó.

Ba ngày 27, 28, 29 tháng 4, tôi lên bờ, ra ngoài Vũng Tàu với mục đích tìm gặp một số người thân, quen để mời lên tàu di tản. Người đầu tiên tôi tới gặp là bác họ của tôi, Thiếu Tá Lê Công Ngoạn làm ở trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu. Sau đó, tôi tìm gặp một số người quen biết khác để mời lên tàu di tản nhưng tất cả đều từ chối không muốn đi.

Tối ngày 28 tháng tư năm 1975, có một chiếc tàu nhỏ trở về Sài Gòn. Hạm Trưởng cho phép nhân viên Thủy thủ đoàn, nếu ai không muốn theo tàu di tản thì được phép theo tàu nhỏ LCU trở về Sài Gòn. Một số Sĩ Quan và một số lớn đoàn viên trên HQ802 đã qua chiếc tàu nhỏ đó để về Sài Gòn.

Đêm 29 tháng tư, HQ802 nhổ neo, rời Vũng Tàu để trực chỉ qua Subic Bay, Phi Luật Tân. Bình thường, trên tàu có khoảng 300 nhân viên nhưng đến lúc ra đi chưa được một nửa. Tàu đã từng chở hàng ngàn Thủy Quân Lục Chiến với đầy đủ trang bị vũ khí từ Cam Ranh về Vũng Tàu, lúc này trên tàu chỉ có bốn trăm hành khách.

HQ802 lặng lẽ ra đi vào đêm tối. Ánh đèn trên thị xã từ từ mờ dần rồi chung quanh tàu chỉ còn lại khoảng không gian tối đen. Tôi tê tái nghĩ thầm, thôi thế là hết, tôi đã bỏ lại sau lưng đất nước Việt Nam, nơi đó tôi đã có biết bao nhiêu kỷ niệm. Hình ảnh những người thân yêu hiện ra trong trí óc của tôi, biết bao giờ mới được gặp lại? Rồi hình ảnh những chiến hữu, những người dân khốn khổ, họ sẽ phải đương đầu với cuộc sống ra sao?

HQ802 vẫn lầm lũi lướt sóng ra đi giữa đại dương bao la bát ngát. Sáng ngày hôm sau, trên tàu nghe được lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh. Một số người ôm nhau khóc. Miền Bắc đã chiến thắng trận đánh cuối cùng!

Khoảng sáng ngày 3 tháng 5, HQ802 tiến vào Subic Bay, một căn cứ lớn của Hải Quân Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân thời bấy giờ. Tàu cặp bến, tất cả mọi người lên bờ ngoại trừ một số nhỏ thủ thủ đoàn ở lại, trong đó có tôi, để bàn giao HQ802 cho Hải Quân Mỹ. Trong lúc mọi người rời tàu, tôi thấy có một hình ảnh đáng thương là có một cô gái khoảng 20 tuổi đang đứng bơ vơ, lạc lõng một mình trên cầu tàu với thân xác người cha vừa mới chết. Mọi người bận lo cho chính bản thân và gia đình của họ nên chẳng có ai ngó ngàng đến cô. Bản thân tôi phải ở lại trên tàu nên tôi cũng chẳng làm gì giúp ích được cho cô. Tuy nhiên, chắc chắn sẽ có nhân viên Hải Quân Mỹ tới giúp đỡ. Chỉ tiếc rằng, thân phụ cô gái lại chết trong thời điểm oái oăm này.

Khoảng một tiếng đồng hồ sau, một toán quân nhân Hải Quân Mỹ đã lên tàu để nhận HQ802. Hạm Trưởng ra lệnh làm lễ hạ kỳ. Đời quân ngũ của tôi coi như đã chấm dứt từ đây.

Sau sáu năm trong Quân Đội, tôi cảm thấy rất may mắn là vẫn còn sống sót và vẫn còn sức khỏe để ngồi đây đánh máy những dòng chữ này trong khi vô số các chiến hữu khác đã vĩnh viễn ra đi. Một anh bạn cùng phục vụ trên HQ802 là anh Huỳnh Ngọc Trung, khóa 26 Đà Lạt, đã qua đời cách nay khoảng hơn một thập niên vì bị viêm gan. Mới đây, cựu Đại Tá Ngô Văn Định viết một bài tựa đề “Trận Cổ Thành 72” cho biết 3500 Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam đã tử trận tại Quảng Trị. Đọc xong tôi bàng hoàng thương xót, không ngờ số người chết lại nhiều đến như vậy. Đó chỉ mới nói tới có một trận chiến Quảng Trị mà thôi, và con số thương vong chưa kể tới Nhảy Dù, Biệt Động Quân, và các đơn vị Bộ Binh khác. Đã có biết bao nhiêu nước mắt đã tuôn rơi và đau đớn thay, đã có không biết bao nhiêu tài hoa của đất nước đã bị mất một cách uổng phí!

Tôi xin chấm dứt bài viết nơi đây và không khỏi bùi ngùi tưởng nhớ đến các bạn đồng ngũ và các chiến sĩ đã vị quốc vong thân.

Ngày 15 tháng 12 năm 2003.

CVA Phạm Nguyên Khôi


NHỮNG BỨC HÌNH CŨ

CVA Nguyễn Đức Nguyên

Tập Nội-san Trường Bưi số 9/1968 (xuất-bản tại Saigon), có đăng một bài nhan đề Bức hình cũ của cụ Nguyễn Công Kiêm, và ngoài bìa sau là một hình khoảng 13x18cm, trong đó có 42 người ghi số thứ tự từ 1 đến 42: ngồihàng đầu là 8 người Âu (6 nam, và 2 nữ), và đứngphiá sau (ghi số từ 9 đến 42) là học-sinh mặc quần áo ta, đa số đầu chít khăn, vài người đầu trần, và một người đội mũ trắng.

Theo cụ Nguyễn Công Kiêm, tác-giả bài viết, bức hình này chụp hồi tháng 6, năm 1937, "do một bạn học cũ ..., niên-khoá 1935-1939" khi tới thăm tác-giả đã mang theo để "nhờ ban biên-tập Nội-san Trường Bưởi cho in vào Nội-san." Tác-giả đã nhận diện được một số bạn cùng lớp, nhưng "cũng có bạn tôi không nhớ được rõ tên, họ... Hơn 50 năm rồi còn gì!"

Trường Bưởi có thông-lệ cho học-sinh chụp một hình chung để lưu niệm. Trong bài "Bức hình cũ", cụ Nguyễn Công Kiêm đã nói là trong số 34 học sinh đứng trong hình, tác giả không nhận ra được tất cả các bạn cùng lớp, nên đã đính kèm bức hình "với ước mong các bạn Trường Bưi/ Chu-văn-An, khi coi tập-san này, nếu có ai quen biết, hoặc là quyến thuộc, xin vui lòng cho biết tin-tức, nếu có, của các bạn ấy, thì thật là vạn hạnh."

Tác-giả cũng gửi đăng đoạn "Tái bút" thuật lại tin một bạn đồng khoá vừa qua đời: Bác-sĩ Nguyễn Xuân Chữ, có mặt trong bức hình, đã được tác-giả đưa xem bức hình khi đến thăm tại Viện Ung-thư. Cụ Nguyễn Công Kiêm viết:

"Trông thấy bức ảnh, anh tỏ ý vui mừng, ngồi nhỏm dậy, bảo tôi lấy cho anh cái kính hiển vi trên bàn giấy, anh coi từng người, rồi dặn tôi nên viết mấy giòng giới thiệu, và khi in xong, dành cho anh 2 bản. Không ngờ, Tập Nội-san sắp ấn hành thì anh đã mất!"

Đọc bài viết về Bức hình cũ, tôi mới biết đấy là thông-lệ của nhà trường, mỗi năm, khi học xong năm thứ hai và lên năm thứ 3 thì học-sinh mỗi lớp đều được chụp chung một hình lưu-niệm. Lớp đệ tam có giáo-sư Vũ-Lai-Chương phụ-trách môn vật lý (Sciences physiques) thường chụp cho học trò mỗi lớp một tấm. Niên khoá 1938-39, lớp tôi (3-C) có khoảng 50 học-sinh, trong ảnh chụp ngày hôm đó đếm được đúng 40 người. Tôi nhớ cả thứ-tự tên của học-sinh cùng lớp, vì mỗi sáng, khi giám-thị vào lớp điểm-danh (gọi "áp-pen"), bắt đầu là vần "B" có Nguyễn Văn Bân, Ngô Trần Bảo, Bùi Công Bật, . . . , đến vần "N" có Ngọc, Ngô Văn Ngụ, Nguyễn Đức Nguyên, Nguyễn Đức Ninh. . . ". Sau một thời gian cách khoảng 5, 10 năm, khi kiểm lại thấy có nhiều người đã mất. Đặc-biệt là sau ngày 30 tháng 4, năm 1975, có mấy bạn học cùng lớpởHà-nội vào Nam, tìm đến thăm các bạn cũ cònlại Saigon, trong đó có tôi. Lúc bấy giờ mới ngồi lại, giôũ tấm ảnh cũ và điểm danh lại xem còn ai, ai mất. Bạn có tên trước tôi trong sổ "áp-pen" là Ngô Văn Ngụ được bạn Nguyễn Văn Huyên đưa đến thăm tôi: trông thấy anh, tôi nhận ra anh và gọi đúng họ, tên ngay, dù là năm 1938 anh đã thôi học, vì không thấy đứng chụp chung hình với chúng tôi năm ấy nữa. Anh Ngụ còn cho biết tin tức và sức khoẻ của mấy bạnngoài Bắc và khuyên tôi gửi thư hỏi thăm ngay đi, kẻo ai nấy đều già yếu rồi, không chắc có dịp gặp nhau nữa. Một người mà Ngụ nhắc tôi gửi thư thăm là bạn Vũ Long Chuẩn, hồi đi học khá thân với tôi, vì là bạn trong nhóm thường đi pique-nique với nhau về Chùa Trầm, chùa Thầy. Tôi còn giữ được một ảnh chụpchùa Thầy, trong đó còn có một bạn nữa, trước họctrường tiểu-học Yên-thành (phố Đỗ-Hữu-Vị), và học tú-tài với tôiTrường Louis Pasteur. Hai bạn này chắc-chắn đã là đảng-viên, nhưng tôi vẫn coi là bạn học cũ. Bạn Vũ Long Chuẩn, đã đổi tên thành Vũ Kỳ, là bí-thư của Chủ-tịch họ Hồ; tôi được thấy hình chụp ngồi bên giường của cố Chủ-tịch, so với ảnh chụpởTrường Bưởi vàchùa Thầy thì Vũ-Kỳ trông đẫy-đà, và để bộ râu mép trông giống Souvana Phouma (ông này là bạn của Chuẩn). Tôi nghe lời bạn Ngụ, viết thư thăm Vũ Long Chuẩn, và đề phong bì đích danh như vậy, gửi về điạ-chỉ của bạn này tại căn-cứ thủy-phi-cơ của Pháp ngày trướcbờ Hồ Tây, ngay cạnh Trường Bưởi. Thư không có hồi âm; tôi đoán là bạn Chuẩn không muốn ai nhắc đến tên cũ, và nhất là chuyện cũ, và có lẽ cũng không muốn liên-lạc với một bạn học đã đi theo "phía bên kia" từ bao nhiêu năm rồi! Một bạn khác tên là Trần Đình Huấn, tôi nhớgần phố Hàng Quạt, hồi đi học viết chữ nghiêng rất đẹp và đều, bạn Ngụ nói là bị cận-thị nặng, và không mua được kính (một món hàng có vẻ hiếmngoài Bắc), nên tôi cũng theo lời bạn Ngụ, gửi một thư hỏi thăm, kèm một thư giới-thiệu với một đồng-nghiệpHà-nội, chuyên khoa mắt (bạn này ra trường cùng với tôi năm 1952, nhưng đến năm 1954 thìởlại, không di cư vào Saigon); bạn Huấn cũng không trả lời thư tôi. Còn mấy bạn nữa tôi đều có dịp gặp lại, khi vào Nam công-tác, hoặc tham quan (hai bạn Nguyễn Đức Bẩy và Nguyễn Đức Liêm cũng như tôi không có liên-hệ họ hàng với nhau, tuy tên có chữ đệm giống nhau); riêng bạn Phan Hữu Chi đến nhà thăm tôi nhưng không gặp, nên để danh-thiếp lại.

Nói tới Trường Bưởi hồiSaigon, thì các cựu học-sinh đều nhớ đến những buổi họp Tất niên tổ-chức mỗi năm tại Đền Đức Thánh Trần,ởđường Hiền-Vương. Tập-san Trường Bưởi được phát-hành đều đặn trong nhiều năm, và thường mỗi số đều có đăng một hình cũ, do các hội-viên còn giữ cho mượn để in lại. Mỗi năm học có ít nhất là 4 lớp (A, B, C, D, không kể Ban Thương-mại (Cours Commercial ) nên tính tổng cộng không biết từ khi có lệ học-sinh chụp hình lưu-niệm đã có tới bao nhiêu bức.

Nhưng có một bức hình lưu-niệm mà tôi cho là độc-đáo (có thể nói là "độc nhất, vô nhị" là bức hình của toàn trường, cả thầy lẫn trò, chụp năm 1937sân vận-động của trường: năm ấy, tôi học năm thứ nhất (lớp 1-C). Khi xem lại bức hình này, tôi nhớ lại những gì đã xẩy ra trong thời-gian tôi mới được đến họcTrường Bưởi, niên-khoá 1936-37. Tôi nhớ đã có lần trông thấyphòng các giáo-sư (Salle des professeurs), một gian phòng rộng lớntoà nhà 3 tầng: hồi đó, tôi chỉ có một lần duy nhất đặt chân đến gian phòng này, không biết vì việc gì: tấm hình dài được đặtởtrên mặt lò sưôũi.

Tôi lại được thấy bức hình này tại nhà cụ Nguyễn Đình Phú, thầy dậy toán suốt mấy năm khi tôi học để thi Diplôme. Tôi không gặp cụ Phú trong mấy buổi họp tất-niên, nhưng khi cụ làm Tổng Thư-ký Bộ Quốc-gia Giáo-dục, cụ dọn đếnChung-cư 57 Duy-Tân (dành cho giáo-chức và chuyên-viên thuộc Bộ) thì tôi được gặp đôi ba lần và nói chuyện về trường cũ. Sau khi thôi không giữ chức Tổng Thư-ký nưã, thì cụ giọn về nhà riêngđường Trần-Khánh-Dư (Tân-định).

Sau ngày 30 tháng 4, năm 1975, có mấy bạn học Bưởi rủ tôi đến thăm cụ: cụmột nhà 2 tầng, với con gái (chị Dung)-- có chồng là sĩ-quan, đi học-tập cải-tạo, vắng mặt-- và con trai chị. Cụ môũ lớp dạy tư Toán và Pháp văn. Dáng dấp cụ trông không khác gì hồi dạyTrường Bưởi; có lần tôi thấy cụ đạp chiếc xe đạp sơn đen, guidon carré, trông rất cổ-điển. Một hôm tôi tới thăm thì cụ mớiHà-nội vào, và cụ chỉ cho xem một bức hình đóng khung, lồng kính, dài chừng hơn 1 thước tây, treo bên tường ngoài hành-lang, trước khi vào phòng khách. Cụ nói là khi di-cư vào Nam năm 1954, cụ để lại căn nhàởphố Hàng Buồm cho bà con gái trông nom. Đến sau tháng 4, năm 1975, khi hai miền "thống-nhất" cụ đi xe lửa mang tên tầu "Thống Nhất" ra Hà-nội thăm lại căn nhà cũ, và mang tấm ảnh Trường Bưởi cùng với một ít đồ thờ sơn son, thếp vàng vào Saigon. Cụ nói phải cẩn-thận lấy chiếu bọc bức ảnh dài, còn cả khung để mang đi cho khỏi vỡ kính. Theo lời cụ Phú, hiệu ảnh Hợp-Dungphố Bờ Hồ chụp bức hình này đã phải đặt muaởHồng-Kông một máy chụp đặc-biệt (loại panoramique) có thể tự-động quay để chụp một đám đông người. Hồi đó, các giáo-sư muốn mua ảnh, phải trả 5 đồng một tấm.

Nhìn bức hình treo trên tường, thấy một đám đông học-sinh đủ các lứa tuổi, đứng, ngồi thành 5, 6 hàng, quanh các giáo-sư, giám-thị, và nhân-viên nhà trường. Phía trước là học-sinh lớp 1, ngồi xệp trên bãi cỏ. Tôi nhận ngay ra tôi ngồi cạnh mấy bạn cùng lớpởbên phải bức hình dài. Thấy đây là một tài-liệu rất quý nên tôi đã nghĩ đến việc chụp lại bức hình này, và tôi sẵn có dụng cụ để làm việc ấy.

Sau đây, tôi thuật lại công việc chụp lại tấm hình, và cho tới nay, tôi vẫn không hiểu tại sao tôi đã có thể làm được một việc như vậy: vừa mất công, sức, bao nhiêu thì giờ... tôi đã bỏ vào công việc này!

Hồi đó tôi có nhiều thì giờ rảnh, nên có nói với cụ Phú cho tôi chụp lại bức hình đó. Cụ ưng thuận, và tôi mang dụng-cụ hành nghề đến ngay. Tôi có một máy ảnh cỡ 35mm Pentax Spotmatic với ống kính macro, kính lúp để xem cho rõ nét, bộ đèn để chụp trong nhà. Tôi hạ khung ảnh xuống, để lên chiếc sập trong phòng khách, dùng nước Windex xịt lên tấm kính cho sạch bụi và bồ-hóng, nhưng thấy khi rọi 2 ngọn đèn 100W thì bị kính phản chiếu ánh sáng vào máy ảnh, nên phải nói với cụ cho gỡ tấm hình ra ngoài khung kính để chụp. Cụ cũng đồng ý, và lúc này là lúc tôi phải cẩn-thận, sợ ảnh để trong khung lâu ngày có thể bị giòn, dễ rách, hoặc dính vào kính, gỡ không khéo là bị rách. May là có cụ giúp một tay nên tôi lấy được tấm ảnh ra khỏi khung một cách dễ dàng; sau đó đặt ảnh lên trên sập, và lấy đồ vật nặng chặn mấy góc cho khỏi cong. Vì tấm ảnh dài nên tôi phải căn từng khúc để ngắm và chụp cho thật ngay-ngắn: nhìn trong máy thấy rõ mặt từng người một, căn cho ảnh vừa đúng vào khung trong máy, rồi mới chụp. Chụp đi, chụp lại mấy lần vẫn chưa vừa ý, nên cuối cùng, tôi lại phải nói với cụ Phú cho tôi mang tấm ảnh về nhà để thong-thả chụp thì mới được, vì mỗi lần tôi đến nhà cụ để chụp hình cũng phải mất vài ba giờ để lấy khung ảnh xuống, gỡ ảnh ra khỏi khung, và đặt máy chụp như vừa nói trên. Cụ cũng lại bằng lòng: thế là tôi cuộn khéo tấm hình lại, vừa đủ để máng vào giỏởcái porte-bagage trên chiếc xe PC Honda của tôi. Về nhà, tôi phải kê giọn bàn sát cạnh cửa sổ để dùng ánh sáng mặt trời (thay vì dùng đèn, dễ bị lóe), và lại theo từng giai-đoạn tôi đã làm mấy lần trướcởnhà cụ Phú. Lần này, tôi chụp cả buổi sáng cho chóng xong và mang trả lại cụ bức hình quý ấy. Tôi kiểm soát lại cùng với cụ xem tấm hình không có vết rách, vuốt cho thật phẳng-phiu và để lại vào khung kính,rồi mới bắc ghế đứng lên móc sợi dây thép phía sau khung vào chiếc đinh chữ L đóng chắc trên tường.

Kết quả của công việc: Vì bức hình dài quá khổ, nên tôi đã phải chụp lại làm 10 tấm nhỏ, ghi bắt đầu từ trái sang phải theo số thứ tự từ 1 đến 10): Tổng số người đếm được trên cả tấm hình dài là 742 người. Tôi làm được việc này cũng vì óc tò mò, muốn biết tên tuổi các học-sinh Trường Bưởi đồng thời với tôi. Cũng nhờ có thì giờ nhàn rỗi, tôi lấy giấy papier calque tô nét ngoài mỗi đầu người và đánh số thứ tự từng người một. Vì vậy con số 742 có thể tin là đúng. Trên tấm số 10, phía phải có 1 người đứngởhàng sau cùng chỉ thấy nửa mặt .

Từ tấm số 2 đến tấm số 6, đứngởcùng một hàng thứ ba (sau hàng đầu, học-sinh ngồi trên bãi cỏ và hàng sau là học-sinh ngồi trên ghế ) là các giám-thị rồi đến các giáo-sư; trên tấm ảnh số 4, tôi nhận ra ngay ông chú dượng tôi (G.S. Nguyễn Xiển, cử-nhân Toán, dạy ban Tú-tài) vì nhờ ông mà tôi mới được vào học Trường Bưởi, không phải thi; đứng bên phải ông là ông Nguyễn Mạnh Tường, một ông có lẽ là một nhân-viên hành-chính, rồi đến các giáo-sư Nguyễn Đình Phú, Đào Hùng, Phúc; từ bên trái ông Xiển là ông Lenain (Économe), ông Charpin (Censeur), bà lingère, và ông Proviseur Autigeon; tấm số 5, từ trái sang phải là bà Lê Thị Lựu, ông Phục, các ông Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Xuân Hãn, Hoàng Cơ Nghị, Nguyễn Quý Hùng, Lê Phổ, Mục-sư Gockler, Vũ Lai Chương, Nguyễn Văn Luận, Trần Văn Khang, 3 nhân-viên hành-chính, rồi đến các ông Nguyễn Thụy Hùng, Đỗ Văn Hoán, Nguyễn Văn Chính, Bao, Nguyễn Đình Phong,, Dương Quảng Hàm, Nguyễn Gia Tường, và Lê Thước.

Cụ Phú chỉ cho tôi và nói tên từng người cụ nhận diện được. Có người tôi nhớ tên và cụ lại không nhớ. Tôi còn lấy kính "lúp" để nhìn cho rõ mặt từng người: Khi nhận được một người mà tôi biết tên, tôi lại mừng rỡ, reo lên: "Cụ ơi! Cụ có nhớ anh này không?" Có người thì cụ nhớ, và còn đọc cả tên "cúng cơm" nữa. Đặc biệt là có mấy nữ học-sinh Ban Tú-tài, cụ nhớ tên và chỉ cho tôi một cô vấn khăn trắng, và nói là "chúng tôi vẫn thường gọi cô này là 'mợ phán'!" Mỗi lần tôi tới thăm cụ là tôi đều bắc ghế lên để xem những học-sinh trong bức hình Trường Bưởi này. Và mỗi lần, hoặc cụ, hoặc tôi, lại nhớ thêm được tên của một vài học-sinh (phần nhiều là các lớp trên, hoặcBan Tú-Tài).

Sau này, tôi lại theo bản Danh-sách Hội-viên đăng trong mỗi số Nội-san Trương Bưởi, và chú trọng đến các vị có tên trong khoảng thời-gian 1933-1937; ví dụ vị nào ghi là học năm 1933-37, 1934-38, 1935-39, và 1936-40 thì chắc-chắn phải có mặt trong tấm hình này, nếu hôm chụp hình có đến trường.

Chụp xong được bức hình tuy có phần vất-vả, nhưng đã làm cho tôi mãn nguyện vì tôi tin vào bộ đồ nghề của tôi, và nhất là tôi dùng một loại phim ảnh đặc-biệt Kodak High contrast, một loại phim đen trắng thấy bầy bán đầy dẫybờ hè Thương-xá TAX đường Nguyễn-Huệ. Phim chưa quá "đát" nhưng không ai mua vì không dùng để chụp cảnh vật được; đấy là phim dùng để chụp reproduction tranh, ảnh đen trắng, có độ "contraste" rất cao (đen ra đen, trắng ra trắng), và rất mịn (grain fin), muốn phóng to bao nhiêu cũng không bị "vỡ". Tôi tráng cuộn phim này trong phòng tối, trang bị sẵn từ những năm trước 75, khi tôi cần phải chụp lại các bản chữ nho, hoặc những ảnh gia-đình cũ đã bị nhiều chỗ hoen-ố.

Sau 1975, tuy thuốc tráng phim đen trắng còn dùng được, nhưng giấy để lâu, in ảnh ra mầu "nước dưa" không dùng được. Tôi phải nhờ một anh bạn trẻ, hồi đó làm việcs Thông-tin, Văn-hoá Thành-phố, giới-thiệu đến một nhóm thợ chụp hình của sôũ để nhờ (tức là thuê làm và trả tiền) phóng những ảnh vừa chụp lại được.

Kết quả là cả tấm hình dài của cụ Nguyễn Đình Phú cho phép chụp lại đã in ra thành 10 tấm ảnh 11 x 16,5 cm. Tuy đã cố gắng căn khi chụp cho các ảnh ăn khớp với nhau, và ngay ngắn, nhưng tôi chưa vừa ý lắm, tuy hình ảnh từng người không thiếu một ai, và không bị mờ, hoặc lóe nhòa. Hai ảnh cuối bên trái và bên phải đều rõ. Tất cả 10 tấm ảnh có thể ráp mối với nhau thành một bức dài, như bức hình của cụ Phú. Việc này, tôi đã hỏi các cửa tiệm hình bên Mỹ này, họ nói có thể sử-dụng máy điện-toán để ghép liền các ảnh với nhau, nhưng giá khá đắt. 10 tấm hình nhỏ, đem ghép lại thành một, phải có 9 chỗ nối với nhau. Với những kỹ-thuật tân-tiến ngày nay, việc này cũng dễ làm.

Sau khi có trong tay 10 tấm hình thì tôi giới-thiệu ngay với mấy bạn Trường Bưởi như anh Đỗ-Văn Phúc (học Trường Normale); em anh là Đỗ Đắc Văn là bạn học cùng lớp với tôi từ 1-C đến 4-C, một trong những học-sinh giỏi nhất lớp. Bạn Văn mất rất sớm vì bệnh phổi, có lẽ vì học quá sức. Anh Phúc lại giới thiệu một bạn anh, và cũng là có họ với tôi, để nhờ đặt in một bộ ảnh , nói là để gửi tặng các bạnởxa. Riêng phần tôi, nhờ trí nhớ "Trời cho" khi nhận được ra mấy bạn các lớp trên --mới gặp sau này--đã gửi tặng các bạn ấy tấm ảnh nào có hình bạn ấy. Ông anh họ tôi là anh Nguyễn Hữu Quý, sang Pháp từ lâu, cũng có mặt, đứngởhàng cuối, cùng với người đứng bên trái anh là anh Nguyễn Tuyên (anh rể anh Quý), nên tôi cũng mới gửi tặng anh một tấm phóng lớn 18x24 khi biết được địa-chỉ của anhvùng Roquefort. Có bạn (đàn anh) tôi nhận diện được trong ảnh, nhưng đến khi tôi gửi tặng ảnh thì trả lời rằng "Tôi không nhận được ra t&oci