Dac San CVA 2017

Đặc San CVA 2017

 

* * *

Từ Hội Ái Hữu CỰU HỌC SINH CHU VĂN AN

đến Hội Ngộ CHU VĂN AN TOÀN CẦU

 

Sau năm 1945, trường Bưởi được đổi tên thành trường Chu Văn An và tới năm 1954, trôi theo mệnh nước, các cựu học sinh trường Bưởi phần lớn cũng di cư vào Nam cùng với trường Chu Văn An. Tới năm 1960 (?) Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trường Bưởi đưọc ra đời. Vị Hội Trưởng đầu tiên là cụ Lê Đình Chung, Tổng Thư Ký là cụ Phạm Quang Khai và tờ Nội San Trường Bưởi cũng đã được ra đời vào dịp này.

Sau năm 1975, lại một lần nữa, các cựu học sinh trường Bưởi phải bôn ba ra hải ngoại. Vì tuổi hạc đã cao, lại thêm số người còn lại cũng chẳng được bao nhiêu nên cũng không ai nghĩ tới lập hội hay ra đặc san; nhưng đã có thế hệ đàn em, thế hệ con cháu nối tiếp. Đó là thế hệ Chu Văn An. Các hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Chu Văn An hoặc Bưởi-Chu Văn An khắp nơi trên thế giới được thành lập và Đặc san Chu Văn An hoặc Bưởi-Chu Văn An cũng được ra đời.

Ngay từ đầu năm 1982, khi làn sóng người Việt tỵ nạn đổ xô về California, các anh em cựu học sinh Chu Văn An định cư tại San Jose đã tìm tới nhau và tổ chức những buổi họp mặt bỏ túi tại gia. Người đầu tiên đứng ra tổ chức là anh Nguyễn Văn Hiền. Kế tiếp là các anh Đinh Xuân Thảo, Nguyễn An Cường, Vũ Ngọc Anh, Lê Duy San và Đỗ Đình Lợi. Tới tháng 11 năm 1987, các anh Vương Tứ Cảnh, Phạm Hữu Độ, Nguyễn Hoàng Hải, Nguyễn Văn Hiền, Nguyễn Thanh Hà, Lê Duy San, Hoàng Đức Trí… mới quyết định tổ chức một buổi họp mặt nới rộng tại nhà hàng Thiên Nam vào ngày 20/12/1987 để tiến tới việc thành lập Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Chu Văn An tại Bắc California. Trong buổi họp này, hầu hết các anh em tham dự đã tín nhiệm ban tổ chức và đề cử thêm một số người tham gia để bầu lên một ban Chấp Hành Lâm Thời. Ngày 18/01/88, ban Chấp Hành Lâm Thời của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Chu Văn An Bắc California đã ra đời với thành phần như sau:

Hội Trưởng :              Anh Nguyễn Hoàng Hải.

Phó Hội Trưởng :      Anh Phạm Hữu Độ.

Tổng Thư Ký :           Anh Lê Duy San.

Phó Tổng Thư Ký :    Anh Nguyễn Khắc Điệp.

Thủ Quỹ :                  Chị Đỗ-Khắc Thị Nhuận.

Anh Lê Duy San (TTK) và anh Nguyễn Hoàng Hải (HT)

Nhiệm kỳ I (1988-1990).

Anh Lê Duy San đã được trao trọng trách soạn thảo bản Điều lệ và Nội quy cùng lo thủ tục pháp lý thành lập Hội và Hội đã được bà March Fong Eu, Bộ Trưởng Nội Vụ tiểu bang California cấp giấy phép vào ngày 18 tháng 11 năm 1988.

Tiếp theo anh Nguyễn Hoàng Hải là các anh Phạm Hữu Độ, Lại Quốc Ấn, Nguyễn Thanh Giản, Phạm Huy Thịnh, Vũ Mạnh Phát, Phạm Nguyên Khôi, Lê Duy San, Nguyễn Đức Lâm, Lê Văn Tỉnh đã lần lượt đảm nhận chức vụ Hội Trưởng.

Từ trái: các anh Vương Tứ Cảnh, Phạm Phúc Hưng, Vũ Thế Bắc, Hoàng Đức Trí, Lê Duy San, Nguyễn Văn Hiền, Chị Đỗ Khắc Thị Nhuận, các anh Nguyễn Hữu Trương, Phạm Hữu Độ, Đào Văn Sơn, Bùi Đức Lạc.

Sinh hoạt của các hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Chu Văn An và Bưởi CVA hàng năm thường là họp mặt Tân Niên, Picnic Hè và đôi khi có những buổi nói chuyện về văn hoá, về hiện tình đất nước và chỉ có tính cách địa phương.

Năm 2004, anh Nguyễn Đức Năng, lúc đó đang là Hội trưởng Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Bưởi-Chu Văn An Nam California đã cùng một số anh em Chu Văn An tổ chức Hội Ngộ Chu Văn An Toàn Cầu vào hai ngày 1 và 2 tháng 7 năn 2004 và cho phát hành Đặc san Chu Văn An Toàn Cầu đầu tiên.

Hội Ngộ Chu Văn An Toàn Cầu Kỳ 2 vào ngày 3, 4, và 5 tháng 8 năm 2007 tại Bắc California do anh Lê Duy San là Trưởng ban Tổ chức và cũng là Hội trưởng Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Chu Văn An Bắc California với số người tham dự kỷ lục lên tới gần 800 người.

Kế đó là Washington DC vào năm 2010 do anh Nguyễn Đức Nam làm Trưởng ban Tổ chức; Houston Texas năm 2013 do anh Nguyễn Văn Bình làm Trưởng ban Tổ chức; Nam California năm 2015 do anh Bùi Đức Uyên và cũng là Hội trưởng Hội Ái Hữu Bưởi-Chu Văn An Nam California làm Trưởng ban Tổ chức.

Năm nay, 2017, Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Chu Văn An miền Bắc California lại một lần nữa đảm nhận tổ chức Hội Ngộ Chu Văn An Toàn Cầu kỳ 6. Lần này do anh Lê Văn Tỉnh, đương kim Hội trưởng, làm Trưởng ban Tổ chức. Ngoài các tiết mục của một ngày hội ngộ, Ban Tổ chức xin gửi đến quý thầy và quý đồng môn cuốn Đặc san Chu Văn An Toàn Cầu năm 2017 với chủ đề: “Nhìn lại quá khứ” . Vì thế nội dung cuốn đặc san này gồm có, ngoài những bài viết liên quan tới trường, thầy và bạn còn có những bài viết gợi nhớ lại thời thơ ấu của chúng ta tại Hà Nội cũng như lúc trưởng thành của chúng ta tại Sai Gòn, đầy ắp kỷ niệm thân thương với những hình ảnh thơ mộng và đáng yêu của các đồng môn và thân hữu đóng góp.

Rất mong được quý thầy và quý đồng môn đón nhận và ủng hộ.

Thay mặt Ban Biên tập

San Jose, ngày 10 tháng 9 năm 2017

Lê Văn Tỉnh

* * *

Phỏng vấn Cụ Đào-văn-Minh

một lão hội viên về

gốc tích TRƯỜNG BƯỞI

Nguyễn Lân Đính, Bưởi

LTS. Chúng tôi nhận được bài này từ một đồng môn, thân nhân của BS Nguyễn Lân Đính, là người đã lưu giữ được bài phỏng vấn của “Phóng viên Vác Dù”, tác giả bài viết.

*

Cụ đã 73 tuổi, cảnh già điền viên, nhưng cụ cũng vẫn nhanh nhẹn, ưa hoạt động, và rất thiết-tha với Ái-Hữu. Biết trước tính cụ không ưa khách sáo, nên Phóng Viên Vác Dù vào câu chuyện ngay. Dưới đây, xin thuật lại những câu hỏi và câu trả lời của cụ:

Hỏi.- Thưa cụ, Trường Bưởi có phải là Trường Trung-học đầu tiên được mở tại Hà-Nội không?

Đáp.- Có thể nói là đúng, vì có mấy trường mở trước, tuy lấy tên là “Collège”, nhưng chỉ là những trường chuyên đào-tạo thông ngôn hoặc giáo viên cấp thời.

Trường Yên-Phụ (phía Bắc Hà-Nội) được mở vào tháng 10 năm 1892. Ngôi nhà ấy đến sau này đã được sửa chữa, để dùng làm trường-sở trường Tiểu-học Yên-Phụ. Hồi bắt đầu mở trường “Collège des Interprètes” Yên-Phụ, đất Bắc còn thờ-ơ với việc học tiếng Pháp, nên đa số thông ngôn đều là các ông phán Sài-gòn. Đến năm 1899, Trường được chuyển tới một tòa nhà, trụ-sở cũ của Nha Thương-Chính (Quan Thuế) ở đường Bờ Sông (tên thời Pháp là Quai Clémenceau và nay là đường Nguyễn-trường-Tộ) nên người ta quen mồm gọi là Trường Thương-Chính.

Trường Collège Jules Ferry mở tại Nam-Định, năm 1904, lấy mấy lớp nhất của Trường Tiểu-học Nam-Định (Trường mệnh danh là Trường Trong, gồm từ lớp ba trở lên; còn Trường Ngoài gồm từ lớp tư trở xuống) làm trường sở. Trường này cũng là trường theo một chương trình cấp tốc, với mục đích đào tạo thông ngôn.

Trường Collège Doudart de Lagrée, mở tại đường Hàm-Long, Hà-Nội, năm 1906, đặc biệt để đào tạo giáo viên.

Như tôi đã nói ở trên, tuy những trường kể trên được mở trước Trường Bưởi, nhưng chỉ có tính cách những lớp cấp tốc đào tạo thông ngôn hoặc giáo viên cần thiết cấp thời, nên chương trình học cũng như việc cho học trò lên lớp, đều co dãn, tùy theo nhận xét của Ban Giáo sư và Ban Giám đốc.

Trường Bưởi tức là Collège du Protectorat, là Trường Trung học đầu tiên có quy-củ, có chương trình 4 năm học, mở cho người Việt-Nam, tại Bắc-Hà. Trường được đặt nền móng năm 1907, trên một bất động sản mua lại của nhà in Schneider, bên bờ Hồ Tây, thuộc địa phận làng Thụy-Khuê, huyện Hoàn-Long, tỉnh Hà-Đông. Khu đất rất rộng, nằm từ ven Hồ-Tây ra tới đường xe điện chạy Hồ Hoàn-Kiếm - Yên-Thái. Làng Yên-Thái, tên nôm là làng Bưởi, nên đường xe điện lên Yên-Thái được gọi nôm là đường lên Bưởi. Hồi đó, phương-tiện giao-thông tiện lợi nhất là xe điện, nên đa số học-sinh đi học Collège du Protectorat đều sử-dụng xe điện lên Bưởi. Do đó, phát nguyên danh-từ “Trường Bưởi”.

Cả khu trường được sửa sang và nhà dựng lên lần lần, nên niên học chính-thức đầu tiên, 1908-1909, còn thiếu thốn về mọi phương diện. Buổi đầu, chưa có phòng tắm cũng như phòng rửa mặt, nên lưu trú học sinh đều phải chạy xuống Hồ-Tây rửa mặt buổi sáng và tắm buổi chiều. Đến sau, nhà trường mua (hay đi xin được) 50 vỏ thùng rượu vang, mang mỗi thùng cắt đôi, để học sinh dùng làm thùng tắm. Chiều chiều, lao công gánh nước Hồ-Tây, đổ đầy các thùng, vào khoảng 4 giờ, để đến 5 giờ, học sinh lưu trú luân phiên tắm gội. Chúng tôi có thói quen vui nhộn, hò nhau cùng ngồi vào thùng tắm, nhúng cả mình, trước khi ra mặc áo quần. Ông Hiệu trưởng đầu tiên của trường, là ông Cyprien Mus, tính nết hòa nhã, nhân đi qua, nghe thấy tiếng chúng tôi hò nhau vui vẻ, nên ghé tới xem chúng tôi tắm. Tôi ngồi ngay ở thùng đầu tiên, tự nhiên phản ứng như lúc ông Hiệu trưởng vào thăm lớp học, vội vàng đứng dậy chào. Tức thì, các bạn tôi cũng làm như tôi, mọi người cùng tồng ngồng đứng trong thùng rượu bổ đôi. Ông Hiệu trưởng vừa cười, vừa chào trả lại.

Hỏi.- Được biết cụ đã học Collège Jules Ferry, trước khi lên trường Bưởi. Vậy xin cụ cho biết qua về trường ấy.

Đáp.- Tiếng gọi là Collège, nhưng chương trình học và sự sắp xếp lớp học rất co dãn. Muốn có ngay học sinh niên khóa đầu tiên, 1904-1905, đặc cách cho Cours supérieur tiểu học là 1re année, rồi cuối năm thi đậu bằng Tiểu học, cho lên 2e année. Đến cuối niên học 1905-1906, cho ngay 10 người đầu lớp 2e année lên Hà-Nội thi Đíp-Lôm (Diplôme de fin d’études complémentaires franco-annamites). Năm 1906 là năm đầu tiên có kỳ thi Đíp-Lôm; thí sinh chỉ gồm có 10 học sinh Collège Jules Ferry và ngót hai mươi học sinh Collège des Interprètes Hà-Nội. Người đỗ đầu khóa thi ấy, là cụ Nguyễn-phan-Long (con cụ cố Thông phán Nguyễn-phan-Toán, lúc đó làm việc tại tòa sứ Nam-Định) học sinh trường Collège Jules Ferry. Đậu Đíp-Lôm xong, cụ lại được bổ nhiệm làm giáo sư ngay ở trường Collège Jules Ferry cụ học trước. Niên khóa 1906-1907, cụ dậy lớp 3e année, nghĩa là dậy ngay bạn đồng học 2e année cũ, nhưng mọi người đều thán phục tài đức của cụ, trong việc giảng dạy. Mấy tháng sau, có kỳ thi Tham-tá quan thuế, cụ dự thí, lại đỗ đầu và được bổ nhiệm ngay tại Hà-Nội. Nhưng chỉ vài năm sau, nhân cụ thân sinh về hưu-trí, trở lại Nam-Phần, cụ xin thôi nghề công chức, để về làm báo tại Saigon, như chúng ta đã biết. Có một hồi, lúc tuổi già, cụ đã gánh vác nhiệm vụ Thủ-tướng Chính-phủ.

Trong số 10 cụ đậu “Đíp-Lôm” đầu tiên của trường Collège Jules Ferry, chỉ còn có 3 cụ còn sống, là cụ Đào-đức-Tầm, 80 tuổi, cụ Hoàng-mạnh-Ngọc, 76 tuổi, hiện nay vẫn mạnh khỏe, ở tại Saigon, và cụ Nguyễn-văn-Bằng, 78 tuổi, ở lại Nam-Định.

Chuyện lên lớp ở Collège Jules Ferry rất co dãn, như tôi đã nói. Tôi còn nhớ số chước tịch của cụ Nguyễn-phan-Long và Hồ-sĩ-Nam là 922 và 921, còn số của tôi là 2.394; có sự cách biệt con số như trên, vì khi hai cụ ấy học lớp nhất, tôi mới học lớp chín. Lẽ ra phải thua tám lớp, nhưng trong một năm, nhờ về những bài thi chính tả chữ Pháp liên tiếp được trội điểm hơn cả, tôi đã nhẩy tới 5, 6 lớp, thậm chí đến niên học 1905-1906, tôi chỉ còn kém hai cụ có một lớp.

Trường Collège Jules Ferry được đóng cửa vào cuối niên học 1907-1908, để dồn học-sinh lên Trường Bưởi.

Thực ra, nhờ về sự chuyển học-sinh này, Trường Bưởi mới có đủ các lớp từ 1re année đến 4e année, vào niên-khóa 1908-1909. Với việc dồn trường ấy, tôi trở thành học-sinh Trường Bưởi.

Hỏi.- Xin cụ cho biết qua về việc giảng dạy ở Trường Bưởi hồi bấy giờ. Thi cử ra sao? Đời sống lưu-trú học-sinh như thế nào?

Đáp.- Niên học 1908-1909, Trường Bưởi gồm có Petit Collège, cho bậc tiểu học, có chừng 250 học sinh và Grand Collège, cho bậc trung học phổ thông có chừng 120 học-sinh. Học trò phải đậu tiểu học mới được thi vào 1re année, và hết 4e année mới được thi trung-học phổ-thông. Vì mục đích lúc đó là đào tạo công chức, nên đến 4e année, mỗi lớp tùy theo sự lựa chọn của học-sinh, chia làm hai ban: ban hành chánh (section administrative) thi ra làm ông phán (thư ký), ban sư-phạm (section normale) thi ra làm ông giáo viên tiểu-học. Đặc biệt có niên-khóa 1909-1910, có 11 người, vì bài Pháp văn không đủ điểm, nên thi rớt Đíp-Lôm; nhà trường cho học lại, nhưng cho ngồi riêng một lớp, gọi là 5e année, có ý đề cao học-sinh đàn anh về niên học. Cuối niên-học sau (1910-1911) mười người thi đậu “Đíp-Lôm”, một người thi rớt, nhưng chỉ một tháng sau, đậu kỳ thi thông ngôn Tòa sứ.

Vị hiệu-trưởng đầu tiên là ông Cyprien Mus, tính nết hòa nhã, vui vẻ, rất gần gũi học-sinh, luôn luôn bình tĩnh ôn tồn, dầu xảy ra việc gì không vừa ý. Ông nói chuyện thân mật với học-sinh, nói tiếng Pháp thanh thanh rất dễ nghe. Ông cho học-sinh biết: ông là người tỉnh Tours, vùng Touraine, đã đậu thủ khoa trường Ecole Normale Saint-Cloud. Ông vừa làm hiệu-trưởng, vừa dạy 4e année, về môn sư-phạm. Vì tôi học ban sư-phạm, nên cảm thấy giờ học ông là những giờ thích-thú nhất. Ông săn sóc đến học-sinh từ chỗ học, đến nơi ăn, chốn ngủ, thường nếm cả cơm cùng các thức ăn, và lúc nào cũng chú ý đến lời kêu ca của học-sinh.

Trừ một giáo sư có bằng cử nhân văn khoa, toàn thể giáo sư Pháp dạy hồi đó là giáo viên tiểu học bên Pháp sang. Tuy vậy, chính ông giáo sư có bằng cử nhân, nhưng không hề học qua lớp sư phạm, lại dạy học không có kết quả nhất. Giáo sư Việt-Nam có hai vị: 1o cụ Trần-hữu-Đức, người Hà-Nội, hồi đó chừng 50 tuổi, dạy phiên dịch Việt-Pháp (thème et version), tài chuyển ngữ Việt Pháp có phần trội hơn cả cụ Nguyễn-văn-Vĩnh; sau này, cụ tham dự phong trào cách mạng và tạ thế tại Hà-Nội, nên không ai nhắc đến tên cụ nữa, 2o cụ tú tài Ngô-tiến-Tiệp dạy chữ Nho.

Học-sinh hồi đó là con cháu các gia-đình hấp thụ Nho phong, nên đối với giáo sư hết sức kính cẩn. Sự kính cẩn đối với thầy ấy đã làm cho một giáo sư người Pháp tên là Roland đi quá trớn; trong khi rầy la học trò, đã dùng những danh từ quá đáng. Cả Ban Trung-học (gồm chừng 120 người đã có tới 100 người là lưu trú học-sinh, vì được hưởng học bổng) phẫn uất về cách ăn nói trên, nên một buổi tối, sau bữa cơm chiều, thảo luận về thể thức phản ứng lại. Mọi người đồng thanh cùng ký một lá đơn xin đổi giáo sư Roland. Sáng hôm sau, một bạn ở lớp trung-học có giờ giáo sư Roland đầu tiên, viết lên bảng câu: “Socrate a dit: Il ne m’aime pas. Que pourrai-je lui apprendre?”. Lúc ông Roland đến, học-sinh đứng dậy chào như thường lệ và yêu cầu ông đọc câu trên bảng. Đọc xong, ông nổi cơn thịnh nộ và đe dọa: cửa Trường Bưởi mở rộng! Một học-sinh đấu khẩu trả lời xin để ông hiệu-trưởng giải quyết. Đồng thời, mọi người ra khỏi lớp học, sắp hàng đôi, đi rất trật tự và bình tĩnh, từ lớp học đến phòng giấy ông hiệu-trưởng, đệ lá đơn xin đổi ông Roland, mà mọi người đã ký từ đêm hôm trước. Ông hiệu-trưởng Cyprien Mus, như đã nói ở trên, rất gần gũi học-sinh, nên sau khi đọc xong đơn, khuyên học trò bình tĩnh trở lại lớp học, chờ cuộc điều-tra của ban giám-đốc nhà trường, và trong khi chờ đợi, giáo sư Roland sẽ tạm ngưng giảng dạy. Chỉ trong vòng một tuần lễ sau, giáo sư Roland có sự-vụ-lệnh thuyên chuyển sang Lèo và toàn thể lưu trú học-sinh Ban Trung-học phải phạt không được ra chơi phố, hai tuần lễ (2 privations de sortie). Chúng tôi đã vui vẻ chịu phạt.

Sách học hồi đó phát đủ cho học-sinh, không phải mua, nói là cho mượn, nhưng cuối niên học, cũng không lấy lại.

Việc thi hồi đó cũng giản dị lắm. Không phải lập hồ-sơ giấy tờ phiền toái như ngày nay. Độ nửa tháng trước ngày thi Đíp-Lôm, ông hiệu-trưởng lập danh sách thí sinh trường mình, lấy chữ ký từng thí sinh, rồi gửi tới Nha Học chính là đủ. Vào năm tôi đi thi (niên học 1911-1912), trước ngày thi, chúng tôi được ông hiệu-trưởng báo cho biết đến thi tại trường Trung-học Pháp Paul Bert (hồi đó chưa có Lycée Albert Sarraut; chỉ có Collège Paul Bert, ở đường Đồng-Khánh, gần nhà Gô-Đa), chúng tôi thấy vẻn vẹn có 30 thí sinh, mà Trường Bưởi đã có tới 25 thí sinh, toàn thể lại là lưu trú học-sinh, chỉ có 5 thí sinh tự do (candidat libre), thật là phiền phức cho chúng tôi, về sự chuyển vận tới nơi thi. Lập tức, ông hiệu-trưởng Cyprien Mus, can thiệp với Nha Học-chính và chúng tôi được thi tại Trường Bưởi. Vì cận ngày quá, không kịp báo cho 5 thí sinh tự do, nên sáng sớm ngày thi, Nha Học-chính cho người đón 5 thí sinh tự do tại Collège Paul Bert để chuyển lên Trường Bưởi. Kỳ thi ấy, 18 thí sinh Trường Bưởi đậu, rớt 7 người, và 5 thí sinh tự do đều hỏng cả vì học không đủ để làm bài. Lúc đó, thi rớt “Đíp-Lôm” cũng không buồn, vì luôn luôn có những kỳ thi tuyển thư ký: học lực đi thi “Đíp-Lôm” dư để thi đậu thư ký, vì phần đông thí sinh Thư ký chỉ vừa mới thi xong bậc Tiểu-học. Câu chuyện khi đó xảy ra cũng ngược đời: đậu “Đíp-Lôm” tháng 6, đến tháng 9 mới được bổ nhiệm làm công chức; nhưng thi hỏng “Đíp-Lôm”, đậu kỳ thi thư ký, vào tháng 7 chẳng hạn, đầu tháng 8 đã được bổ nhiệm làm công chức rồi.

Hồi đó, ông Hiệu-trưởng sống thân mật với học-sinh lắm: mỗi kỳ thi Đíp-Lôm xong là ông khao một bữa ngay tại trường, cấp cho chừng 5, 7 con gà tây quay bơ và mươi chai rượu vang, tùy theo số người mãn khóa.

Đời sống lưu trú học-sinh cũng dễ chịu lắm. Giám thị đối với học-sinh 4e année, nhất là đặc biệt 5e année, hầu như không có ảnh hưởng; anh em 5e année và 4e année chia nhau, mỗi người săn sóc chừng dăm em lớp dưới, cả từ lúc ăn lẫn lúc học, như anh cả đối với các em nhỏ. Thực đơn hàng tuần đều do chúng tôi xếp đặt và đề nghị với nhà trường.

Tôi xin kể một chuyện xảy ra trong niên học 1910-1911, nhân dịp ông Giám thị tên là Tuân tạ thế. Học sinh phải làm điếu văn, lúng túng mãi không biết gọi bằng “ông”, hay “thầy”, hay là “anh” vì vừa năm trước, ông ấy cũng là học-sinh trường Bưởi. Việc mang ra thảo luận gay go, sau tôi mang ra một tờ nguyệt san giáo dục Pháp có in một bài điếu văn của một giáo sư, tiến sĩ văn chương, khóc một đồng nghiệp, vừa là thầy cũ bậc tiểu-học, vừa là bạn cũ bậc đại-học, lại vừa là học trò cũ, cũng bậc đại-học. Bài điếu văn ấy bắt đầu như sau:

“Thưa Thầy thân ái,

“Thưa Bạn thân ái.

“Thưa Học trò thân ái,”

Mọi người thỏa thuận để bài điếu văn bắt đầu bằng “Thưa Anh”, và người đại diện đọc điếu văn là một học sinh lớp 4e année.

Khi điếu văn vừa đọc xong, cụ Giám thị Nguyễn-đình-Quế, tỏ vẻ tức bực, khó chịu và ứng khẩu mấy câu chua chát như sau: “Thưa Anh! Anh Tuân ơi! Tuy anh chẳng dạy được ai, nhưng anh cũng đã dầm sương, dãi nắng ở sân nhà trường. Than ôi! Dã tràng xe cát biển Đông!…”

Đến đây, Phóng Viên Vác Dù thấy đã quá kéo dài cuộc phỏng vấn, làm cụ lão hội viên mất nhiều thời giờ và thêm mệt mỏi, nên xin cáo lỗi đối với cụ, để xin rút lui. Nhưng cụ lão hội viên Đào-văn-Minh, cụ già quắc thước đáng kính mến, mặt như sáng thêm lên và niềm nở bảo tôi rằng:

Tôi lấy làm thích thú góp phần tinh thần vào Ái hữu Cựu học sinh trường Bưởi và kể xong cho ông nghe câu chuyện trường xưa, thầy và bạn cũ, tôi đã quay lại cuốn phim thiếu thời, riêng tôi cảm thấy như mới ngày hôm qua, còn sống ở ký túc xá trường Bưởi, không mệt mỏi đâu.

 

Nguyễn Lân Đính, Bưởi

* * *

Phu Tử Chu Văn An:

Bậc Lương Sư Tiêu Biểu

  

Trần Lam Giang, CVA 59

Quốc học nước ta gắn liền với giòng lịch sử, tạo nên nhân phong cao cả, văn hiến nhân bản độc lập và sáng tạo, không vay mượn của bất cứ ngoại chủng nào. Nền văn minh nông nghiệp định cư là nền văn minh tồn trữ đầu tiên ở phương Đông, do trí tuệ và tấm lòng của Việt tộc khai sáng và bồi đắp.

Lịch sử Việt Tộc ta, có khúc vinh quang rực rỡ, có khúc đắm đuối thê lương. Nhưng, khúc nào cũng có những vị lương sư hưng quốc, hoặc nổi danh, hoặc ẩn danh. Nhờ vậy, giải non sông gấm vóc Việt Nam, dẫu có bị làm sao, dẫu có bị thế nào, thì rồi trước sau cũng vẫn của người Việt Nam, những người đồng bào cùng huyết thống Rồng Tiên làm chủ. Anh em chúng ta thử nghĩ mà xem giải lãnh thổ từ ải Nam Quan đến mũi Cà-Mâu có tấc đất nào là không thấm nhuần mồ hôi nước mắt, máu xương tim óc người dân Việt ta đâu? Vậy nên người Việt làm chủ lãnh thổ ấy, là hợp tình, hợp lý, hợp đạo nghĩa làm người.

Văn Miếu - Quốc Tử Giám tại Hà Nội, Việt Nam

Về các bậc lương sư hưng quốc, phu tử Chu Văn An được tôn là tiêu biểu, thờ ngài trong Văn Miếu cùng Khổng Tử. Các pho chính sử nước nhà đều cung kính ghi chép về ngài. Văn học dân gian đến nay còn truyền tụng thánh tích thương dân của ngài.

ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư do sử thần Ngô Sĩ Liên biên soạn, về phu tử Chu Văn An đã viết: “Ngày 26 tháng 11 năm Canh Tuất (1370) Quốc Tử Giám tư nghiệp Chu Văn An mất, được vua truy tặng tước công, Thụy Văn Trinh và đưa vào thờ ở Văn Miếu (cùng Đức Khổng Tử).”

“Ngài người ở Thanh Đàm, tính cương trực, khắc kỷ, “sống theo điều nghĩa luyện lòng trong sáng, vững bền tiết tháo, không màng khoa danh tước lộc. Ở nhà đọc sách, hiểu biết uyên áo, tiếng tăm vang khắp gần xa. Người đến xin học đầy cửa”. Có những người đỗ đại khoa, giữ việc triều đình, thành đạt hiển danh như Phạm Sự Mạnh, Lê Bá Quát. Đã làm đến hành khiển, vẫn giữa lễ học trò. Khi đến thăm hỏi ngài, thì quỳ lạy ở dưới giường ngài ngồi. Được nói chuyện với thầy mấy câu rồi đi xa, đã lấy làm vui mừng lắm vậy. Kẻ học trò nào làm điều xấu, đến thăm, ngài nghiêm khắc răn dậy, mắng mỏ. Có kẻ ngài quát nạt, không cho vào gặp. Ngài quả là bậc trong sạch, ngay thẳng, nghiêm nghị lẫm liệt đáng kính sợ.”

“Vua Minh Tông mời ngài làm tư nghiệp quốc tử giám, dậy Thái Tử ? Thái Tử lên ngôi, tức vua Trần Dụ Tông, ham mê chơi bời, bỏ bê chính sự. Bọn gian nắm nhiều quyền hành, làm nhiều điều trái phép. Ngài khuyên can, vua không nghe, bèn dâng sớ xin chém 7 tên gian thần, đều là những kẻ quyền thế được vua sủng ái. Bấy giờ gọi là “Thất trảm sớ”, sớ dâng không được vua trả lời. Ngài trao trả mũ áo, trở về sống với ruộng vườn. Vì yêu phong cảnh Chí Linh, đến ẩn cư ở đấy. Chỉ những khi Triều đình có đại hội ngài mới đến kinh sư. Vua Dụ Tông muốn ủy thác việc triều chính cho ngài. Ngài từ chối, không nhận. Bà Hiến Từ Hoàng Thái Hậu nói rằng: “Bậc hiền sĩ thanh cao, vua cũng không bắt làm bầy tôi được, giao chính quyền cho bậc ấy làm sao được.”

“Mỗi khi vua sai nội thần đem phẩm vật ban thưởng, ngài lạy tạ mà nhận, rồi đem cho người khác hết. Thiên hạ đều phục ngài là bậc khí tiết cao.”

“Khi Vua Dụ Tông băng hà, quốc thống suy vi. Được tin các quan tôn lạy vua mới là Trần Nghệ Tông; Ngài mừng lắm, chống gậy đến lạy mà từ chối không nhân chức gì. Trở về quê, mất ở nhà. Vua sai quan đến tế tặng tên Thụy. Ít lâu sau, có lệnh tòng tự ngài ở Văn Miếu”.

Sau phần ghi chép những dữ kiện cụ thể về ngài, sử thần Ngô Sĩ Liên đã nhận định: “Ngài là bậc thờ vua thì thẳng thắn can ngăn. Xuất và xử đều đúng với đạo nghĩa. Dạy học trò hun đúc thành nhân tài, công khanh hiển đạt đều từ cửa ngài mà ra. Tiết tháo cao thượng, đến thiên tử cũng không thể bắt làm bày tôi. Nhân cách chính đáng, đạo làm thầy giữ đức nghiêm; lời nói lẫm liệt khiến bọn gian thần xiểm nịnh phải sợ hãi. Ngàn năm sau, nghe phong độ ngài, há không làm cho kẻ gian tham thành liêm chính, kẻ yếu hèn biết tự lập tự cường hay sao?”

Pho Việt Sử Tiêu Án của Ngọ Phong Ngô Thời Sĩ, một vị đại khoa thời cuối Lê Trung Hưng, sáng lập Ngô gia văn phái, ngòi bút viết sử của ông cứng rắn độc đáo, phê bình các triều đại không chút kiêng dè. Các bậc minh quân phạm gì sơ xuất, ông cũng chê trách, chỉ trích đến cùng kỳ lý. Vậy mà khi viết về phu tử Chu Văn An, ông một mực cung kính và tỏ lòng biết ơn vị sư biểu đã làm sáng tỏ đạo lý.

Pho Khâm Định Việt Sử Thông giám cương mục của Nguyễn triều, biên tập với Phan Thanh Giản làm tổng tài cùng 14 danh nho đương thời, 3 năm hoàn tất. Lại khiến 3 danh nho duyệt và chép lại. Công việc này hoàn tất trong một năm. Lại khiến 2 danh nho duyệt kiểm. Công việc này được hoàn tất trong 4 năm. Lại khiến 2 danh phúc kiểm, công việc này được hoàn tất trong 2 năm. Lại khiến 2 danh nho duyệt và sửa chữa. Công việc này được hoàn tất trong 3 năm. Sau cùng khiến 2 danh nho kiểm duyệt trong 3 năm, pho sử hoàn thành và được ấn hành.

Xem vậy, pho khâm Định Việt Sử của Nguyễn Triều là công phu nghiêm túc của 45 danh nho, ròng rã 16 năm mới hoàn thành. Pho này có thêm lời bàn của Vua Tự Đức. Vua mà bàn thì còn kiêng nể gì ai nữa? Vậy mà khi viết về phu-tử Chu Văn An, cả 45 vị danh nho triều Nguyễn, một mực cung kính tôn trọng và vua Tự Đức không dám cầm bút bàn một lời. Đủ biết uy đức phu tử to tát là nhường nào.

Pho Việt Sử Cương Mục Tiết Yếu của sử gia Đặng Xuân Bảng, vị đại khoa cuối triều Nguyễn, người làng Hành Thiện, phủ Xuân Trường tỉnh Nam Định. Tuy gọi là tiết yếu, nhưng cũng giúp cho người đọc biết đủ ngọn nguồn lịch sử nước nhà. Cũng như các pho sử kể trên, về phu tử Chu Văn An, ông viết với lời lẽ cực kỳ kính trọng, bày tỏ tấm lòng ngưỡng mộ tôn thờ.

VĂN HỌC DÂN GIAN

Văn học dân gian truyền tụng rằng: Phu tử Chu Văn An quê ở Thôn Vân, làng Thanh Liệt (có người nói rằng ngài người làng Quang Liệt?) huyện Thanh Đàm tỉnh Hà Đông. Huyện Thanh Đàm, đến thời Lê Trung Hưng đổi thành Thanh Trì vì kiêng húy vua Lê Thế Tông, ngài húy là Lê Duy Đàm.

Thủa đó, nhà Trần suy vi, Vua ham mê chơi bời, bỏ bê chính sự, sủng tín bọn gian thần xiểm nịnh. Phu tử can ngăn, không nghe. Ngài dâng sớ xin chém bảy tên gian thần tặc tử. Vua không trả lời. Ngài bèn cởi mũ áo, treo ấn từ quan, ẩn cư trên núi Phượng Hoàng thuộc huyện Chí Linh. Cũng ở đấy, ngài mở lớp dậy học.

Hoàng Tử con út của Long Vương- Vua dưới thủy tề biết phu tử là bậc thầy đức cao học rộng, bèn lên cõi trần, giữ kín thân thế, xin làm môn sinh. Gặp năm hạn hán, ngũ cốc mất mùa, cuộc sống người dân đã khổ sở vì triều đình rối nát, lại thêm khốn đốn vì tai trời. Một hôm, tan buổi giảng, phu tử giữ Hoàng tử Thủy Tề lại và bảo:

Trong triều gian thần lộng quyền, khiến cho âm dương rối loạn, sinh nạn hạn hán, người dân điêu đứng đói khổ. Người có lòng nhân ai cũng đau xót. Thầy mong anh cứu vớt đám lê dân.

Hoàng tử trầm ngâm cúi đầu, thưa:

“Chống lại vận hành của tạo hóa sẽ phải gánh chịu tai nạn lớn. Nhưng lời thầy đã dậy, kẻ học trò nguyện đem hết tâm sức tuân hành.”

Rồi xin nghiên mực của phu tử nói:

“Con phun nước vào nghiên này, trời ắt đổ mưa cho đến đủ nước cấp cày. Nhưng, một điều quan trọng là hậu duệ thày, không một ai khoa bảng vì nghiên của thầy đã hết mực.”

Chu phu tử gật đầu:

“Tốt lắm. Nhà ta dứt khoa bảng, đổi lại lê dân được no ấm. Như thế còn gì bằng? Anh hãy làm mưa đi.”

Người học trò múc gáo nước, ngậm mà phun vào chiếc nghiên. Chỉ một thoáng, trời đang nắng chang chang, mây đen bỗng vần vũ, rồi mưa như trút nước. Chàng bái biệt thầy ba lạy:

“Từ nay con xin thôi học.”

Hôm sau, Chu phu tử đi dạo ra đầm nước trước nhà, nước đen như mực, có xác một con giao long nổi lềnh bềnh. Ngài sa lệ, gọi các môn sinh đến kể chuyện. Ai cũng cảm động, vớt xác lên chôn cất cẩn thận, gọi là mộ Giao Long. Ngôi mộ ấy linh ứng lắm, người dân lập đền thờ, khói nhang không dứt.

Sách Lưu Dị Ký chép: con út Long Vương ham học, nghe biết Chu Văn An mở lớp, bèn lên cõi trần xin làm đệ tử. Chàng giữ bí mật thân thế, không ai biết. Gặp buổi hạn hán, nhà nông mất mùa. Tiên sinh giảng bài xong, ngồi lặng ưu tư. Hoàng tử út của Long Vương kính cẩn hỏi vì cớ gì? Tiên sinh nói:

“Vì lũ gian thần lộng quyền, không biết điều hòa âm dương, đến nỗi sinh nạn hạn hán. Người có lòng nhân ái cũng xót xa. Lòng ta đau xót lắm.”

Chàng thưa:

“Đệ tử tài hèn, khó mà kéo lại máy tạo hóa. Nhưng cũng xin thử, may ra có thể được.”

Rồi cầm gáo nước hắt vào nghiên mực của thầy, một lát sau mưa như xối nước. Chàng bái biệt thầy:

“Từ nay con xin thôi học.”

Khi về đến bờ sông Nhuệ giang, gặp vị thiên sứ. Thiên sứ hỏi: Cớ gì khiến người làm mưa? Chàng liền ngã xuống đất mà chết, hóa ra một con giao long. Dân làng chôn chàng, lập mộ gọi là mộ “Giao Long Hạt Túc”. Hơn tháng sau thấy có linh ứng, bèn lập đền thờ, nay vẫn còn.

Qua điều truyền tụng trong dân gian cũng như ghi chép nơi sách Lưu Dị Ký, cho thấy rõ Chu phu tử là bậc đối với môn sinh thì đào tạo tâm hồn, mở mang trí tuệ, đối với dân nước thì thực lòng yêu thương: dứt khoa danh hậu duệ để dân được áo ấm cơm no. Học trò ngài, ngoài những vị khoa bảng đạt nhân, lại có cả đến vị đổi mạng sống để làm điều đúng do thầy sai khiến. Thật là xúc động lòng người.

Hậu duệ ngài, cho mãi đến cuối thời Lê Trung Hưng, xét trong danh sách khoa bảng, tuyệt nhiên không có một người.

Triều đình cử tiến sĩ Phạm Quý Thích đi tìm, mới hay hậu duệ Chu phu tử rời về Thanh Hóa định cư, tất cả gồm 17 xuất định. Họ đều chất phác đơn thuần, sống bằng nông nghiệp, không quan tâm về cử nghiệp. Ông Phạm Quý Thích có chọn được mấy người thông minh mẫn tuệ, xin với triều đình cho về theo học trường Quốc Tử Giám. Việc chưa thành thì lịch sử biến động. Nhà Tây Sơn đi vào lịch sử như sấm sét chớp nhoáng. Rồi nhà Nguyễn nắm giữ sơn hà. Việc cho hậu duệ Chu phu tử tòng học nơi Quốc Tử Giám bị quên lãng. Không biết có phải nghiên của phu tử hết mực hay không?

Trên đây là nói về lập công, lập đức của ngài. Về lập ngôn, ngài viết những tác phẩm giá trị: Thất Trảm Sớ, Tiều Ẩn Thi Tập, Tiều Ẩn Quốc Ngữ Thi, Tứ Thư Thuyết Ước. Không may cho văn học nước nhà, dưới thời giặc Minh đô hộ, với chính sách thưc dân văn hóa ngược nhân tình: đốt sách tịch thu sách quý đem về Tầu, nay chỉ tìm được 12 bài thơ chép trong Toàn Việt Thi Lục. Tôi chép dưới đây một bài, phiên âm và dịch nghĩa.

Đề Lãng Ngộ

Thượng nhân Viễn công duệ

Lãng ngộ hữu cao thức

Lũ kết Bạch xã minh

Vị ái thanh liên sắc

Phương đường trữ bích y

Hoàn dĩ phù cừ thực

Thượng cấu thủy hoa đình

Ý dữ liên tỷ đức

Hảo phong thời nhất lai

Mãn tọa văn phương phức.

Ẩn kỷ quan chúng diệu

Du nhiên tâm tự đắc

Bất tri thanh tịch thân

Dĩ tại hà hoa trắc

Minh nguyệt tương hữu bằng

Nhàn vân đồng yển tức

Khát khuynh châu lộ ẩm

Bão trích ngọc phòng thực

Hồi đầu tạ thế phân

Tiêu diêu du bát cực

Dịch nghĩa:

Đề Giác Ngộ Trong sáng[1]

Cao tăng[2] giòng viễn công[3]

Giác ngộ trong sáng, kiến thức cao sâu,

Luôn giữ lời kết minh ở thôn Bạch.

Vì yêu sắc sen xanh,

Nên ao vuông chứa sóng biếc gợn lăn tăn,

Trồng toàn sen ở chung quanh.

Trên mặt ao dựng đình Thủy Hoa,

Ngụ ý sánh đức cùng sen.[4]

Mỗi khi gió mát thoảng qua,

Đưa hương thơm ngào ngạt khắp chỗ ngồi.

Tựa ghế quan sát mọi diệu lý.

Thỏa mái nhẹ nhàng vì tự nhận thấy được chân tâm[5]

Không biết đến thân thanh tịnh.

Đã ở bên hoa sen.

Bạn bè với trăng sáng,

Nghỉ ngơi cùng mây nhàn.

Khát, nghiêng giọt sương ngọc mà uống.

Đói, hái hạt sen ngọc mà ăn.

Ngoái đầu lại tạ từ cõi đời phiền toái,

Thong dong dạo chơi tám cõi[6]

Chú Thích:

[1] Nguyên tác “Lãng Ngộ” lãng là sáng, ngộ: tỉnh mà nhận ra, tức giác ngộ. Lãng   Ngộ bao hàm ý nghĩa: tĩnh ngộ bỏ bến bờ vô minh (tăm tối) do vọng động sinh ra, đi sang bờ bên kia, trong sáng lắng đọng.

[2] Cao tăng: Nguyên tác là “Thượng Nhân” nghĩa là bậc ở trên, bề trên; tôi định là cao tăng.

[3] Viễn công: Ông viễn, tức cao tăng Tuệ Viễn, trụ trì ở chùa Đông Lâm, đã thỉnh được 126 vị cao tăng và túc nho, cùng nhau minh ước giữ tinh thần “Công hồ dị đoan, tư hại giã dĩ” nghĩa là “chống đối, đả phá những giềng mối tư tưởng khác nhau, chỉ có hại cho chính tâm thân mình và nhân quần”.

[4] Đức của sen:

Trong đầm gì đẹp bằng sen?

Lá xanh, hoa trắng, lại chen nhị vàng.

Nhị vàng, hoa trắng, lá xanh,

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Đức của sen như đức của người quân tử. Người quân tử không ghét kẻ tiểu nhân (vô ố tiểu nhân, thị vi quân tử) gần gũi dễ dẫn giắt và che chở chúng, nhưng không hùa theo chúng. Cũng như sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

[5] Tử nhận được chân tâm: nguyên tác là “tự đắc” Thông thường “tự đắc” là thái độ tâm lý của kẻ tiểu nhân, thỏa mãn một cách hợm hĩnh về chính mình hoặc về việc làm tầm thường của mình. Nhưng, trong bài này, “tự đắc” được hiểu là “tự tìm được chân tâm mình, nói một cách khác, tự nhìn thấy chân diện mục.”

[6] Tám cõi: nguyên tác là “bát cực” cám ơn Phạm Nhữ Tiếp, Thiền cư sĩ đã dùng biểu tượng của Nho làm thí dụ để giảng cho tôi hiểu được phần nào lẽ của Sắc Không.

Âm dương giao dịch (tương thôi) mà có càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài. Lại biến hóa thành 64 quẻ. Rồi lại tương thôi thành vô cùng, vô cực, không ngừng, không dứt. Vũ trụ vật lý và vũ trụ tâm linh đều do đấy mà có. Sự tương thôi ấy chính là điều mà nhà Phật gọi là vọng động. Toàn thể vũ trụ vật lý và vũ trụ tâm linh là vô minh, là “bát cực” hay dịch là “tám cõi” cũng được. Không vướng mắc gì với tám cõi, không bận lòng gì đến tám cõi, thong dong dạo chơi tám cõi vì đã nhận được chân diện mục.

Trần Lam Giang, CVA59

¯

* * *

CHU VĂN AN

thơ ngát hương Thiền

Ngô Tằng Giao, CVA 59

            Ngay từ hồi còn trẻ cụ Chu Văn An (1292-1370) đã nổi tiếng là một người cương trực, giữ tiết tháo, không cầu danh lợi, chỉ ở nhà đọc sách. Sau khi thi đậu Thái học sinh (Tiến sĩ) cụ không ra làm quan, chỉ ở nhà mở trường dạy học. Học trò theo học rất đông. Trong số môn đệ cụ có nhiều người thành đạt, thi đỗ ra làm quan to trong triều.

            Năm Khai Thái đời vua Trần Minh Tông (1314-1329) cụ mới nhận chức Quốc tử giám tư nghiệp, dạy cho thái tử học. Đến đời Trần Dụ Tông (1341-1369), vì nhà vua mải mê chơi bời, tình cảnh xã hội nhiễu nhương, chính sự thối nát, dân tình đói khổ, cụ đã dũng cảm dâng “Thất trảm sớ” xin chém bảy tên nịnh thần nhưng vua không nghe. Cụ bèn treo mũ, cởi áo từ quan lui về ở ẩn. Cụ tính ưa đọc sách nên dựng một ngôi nhà ở sườn đồi, cạnh bờ đầm tại núi Phượng Hoàng (Chí Linh), vừa làm thư viện, vừa làm trường và là nơi soạn sách. Cụ lấy hiệu là Tiều Ẩn (có nghĩa là người đi hái củi ẩn dật). Cụ dạy học và viết sách cho tới khi qua đời tại đây. Khi cụ mất, vua Trần đã dành cho cụ một vinh dự lớn bậc nhất đối với một trí thức là được thờ ở Văn Miếu. Sự nghiệp của cụ được ghi lại trong văn bia ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Cụ được tôn kính là người Thầy vĩ đại, được coi là “Vạn thế sư biểu”. Các tác phẩm của cụ phần lớn đã bị giặc Minh thâu góp và tiêu hủy. Hiện chỉ còn lưu truyền lại mười hai bài thơ.  

            Cụ Chu Văn An tìm về với cuộc sống ẩn dật để di dưỡng tâm thần, để xa lánh cõi đời trần tục thoát khỏi trò đua chen chốn quan quyền và nêu cao khí tiết của bậc chính nhân quân tử. Bài thơ “Xuân Đán” (Sáng mùa Xuân) cụ làm khi về ở ẩn:

閒, 
寒。 
醉, 
乾。 
岫, 
瀾。 
歇, 


XUÂN ĐÁN

Tịch mịch sơn gia trấn nhật nhàn. 
Trúc phi tà ủng hộ khinh hàn 
Bích mê thảo sắc thiên như túy, 
Hồng thấp hoa sao lộ vị can. 
Thân dữ cô vân trường luyến tụ, 
Tâm đồng cổ tỉnh bất sinh lan. 
Bách huân bán lãnh trà yên yết, 
Khê điểu nhất thanh xuân mộng tàn.


(Nhà trên núi vắng vẻ, suốt ngày thảnh thơi. Cánh cửa phên che nghiêng ngăn cái rét nhẹ. Màu biếc át cả sắc cỏ, trời như say. Ánh hồng thấm nhành hoa sương sớm chưa khô. Thân ta cùng đám mây cô đơn mãi mãi lưu luyến hốc núi. Lòng giống như mặt giếng cổ, chẳng hề gợn sóng. Mùi khói thông sắp hết, khói trà đã tắt. Một tiếng chim bên suối làm tỉnh mộng xuân).

SÁNG MÙA XUÂN

Nhà trên núi vắng cảnh an nhàn 
Phên cửa nghiêng che tiết lạnh sang 
Cỏ biếc trời cao say chất ngất, 
Hoa hồng sương sớm đượm miên man. 
Thân như mây lẻ vương non thẳm 
Lòng tựa giếng xưa lặng sóng vàng 
Hương gỗ thông tan, trà cạn khói, 
Chim bên suối hót mộng xuân tàn.

(Tâm Minh dịch thơ)

Đây là ngôi nhà tranh cửa trúc nhỏ bé hoang lặng nơi cụ Chu Văn An ở ẩn tại làng Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, một vùng sơn thủy hữu tình với núi Côn Sơn, ngọn Phượng Hoàng, sông Thanh Lương và ao Miết Trì... Cánh cửa phên chỉ che nghiêng ngăn cái rét nhè nhẹ, có lẽ vì cụ vẫn còn muốn đón nhận cái khí lành lạnh của trời đất ban cho. Cụ không tâm niệm là với một thời thế nhiễu nhương như thế, kẻ sĩ không còn cách gì để cống hiến cho đời. Về ở ẩn không phải là một sự thất bại, một nỗi khổ đau. Ẩn dật chính là môi trường sống lý tưởng. Dạy học cũng là một cách phục vụ nước nhà một cách hữu ích.

Cụ sống giản dị và thư thái an nhàn, xa lánh cõi đời trần tục hòa đồng với cảnh thiên nhiên đơn sơ, đạm bạc thinh lặng, vắng vẻ. Cụ thích ngắm hoa thơm cỏ lạ. Đất trời đang vào Xuân, cụ cảm nhận thấy vạn vật phô sắc với các loại kỳ hoa dị thảo, trong đó có làn cỏ xanh biếc tốt tươiMàu biếc át cả sắc cỏ. Trời trên cao như say chất ngất. Những ánh hồng thấm vào các nhành hoa đượm miên man trong sương sớm. Cảnh giới thanh u như gột sạch hết phiền não, thoát vòng tục lụy chẳng còn vương vấn chút bụi trần thời khác chi Phật giới. Và chỉ có một tâm hồn đã  đạt đạo được trọn vẹn mới có thể cảm nhận thiên nhiên được như thế.

Thân như đám mây lẻ loi cô đơn mãi mãi lưu luyến hốc núi, vấn vương với non thẳm. Non thẳm tượng trưng cho đạo lý hay lẽ phải muôn đời mà sĩ phu yêu nước không thể nào ly khai. Khi trong đời trần tục bao kẻ tiểu nhân đắc chí lộng hành, thời người quân tử thường bị thất thế, tự ví thân mình như cụm mây gần núi, thoái lui, ẩn khuất, tránh đời, xa lánh tiểu nhân, cứ giữ vẻ uy nghiêm mà lui về ở ẩn, ứng với quẻ “Thiên Sơn Độn”, còn gọi là quẻ Độn là quẻ thứ 33 trong Kinh Dịch.

Lòng tựa giếng xưa, giống như mặt giếng cổ, chẳng hề gợn sóng, luôn dâng hiến dòng nước tươi mát, không hề pha lẫn với các dòng đời ô tạp rác rưởi khác, luôn làm ích lợi cho đời, cho muôn người đang khát khao đạo lý và kiến giải nhưng vẫn lặng sóng vàng. Tương tự như ý trong quẻ “Thủy Phong Tỉnh” (còn gọi là quẻ Tỉnh) là quẻ thứ 48 trong Kinh Dịch. Theo đó thì làng xóm có khi thay đổi, còn giếng nước vốn cố định, không dời chỗ. Đổi làng xóm, đổi ấp chứ không đổi giếng. Nước giếng không kiệt mà cũng không thêm, ở chỗ nào cứ ở yên chỗ đó. Người có tài, muốn giúp đời, nhưng không được dùng, ví như cái giếng nước trong mà không ai múc. Nếu được ông vua sáng suốt dùng, thì người đó sẽ giúp cho mọi người được nhờ.

Cụ muốn bộc lộ tấm lòng mình là dù cho phải dời chỗ ở về núi Phượng Hoàng nhưng tấm lòng son của người quân tử vẫn chẳng hề phai. Hình ảnh này đã nói lên cái tâm như nhất đầy ắp chính khí của kẻ sĩ hết lòng phù dân giúp nước. Cụ nhàn thân nhưng không nhàn tâm. Làm ích lợi cho đời nhưng lòng tĩnh lặng không sinh ra sóng. Nơi đây gợi ra hình ảnh của cái tâm được đề cập tới trong Thiền Tông đó là “chân tâm”, “diệu tâm”.

Mùi khói thông thoạt tiên hình thành, rồi hương gỗ tồn tại tỏa rộng ra, sau biến dần đi và cuối cùng là tan hết. Làn khói trà tỏa ra rồi cũng tương tự theo những giai đoạn như trên mà tan biến. Một tiếng chim bên suối hót vang lên làm tỉnh giấc mộng trong buổi sáng mùa Xuân. Phải chăng cụ thấy được sự vận hành của Đạo cùng với lẽ “vô thường”, đặc tính chung của mọi sự sinh ra có điều kiện, qua các giai đoạn “thành, trụ, hoại, không” hay “sinh, trụ, dị, diệt” là bốn quy luật chi phối mọi hiện tượng giới. Đạo Phật gọi Thế gian là vô thường nghĩa là “không chắc chắn”, “không trường tồn.”

Từ giữa đời Trần về sau, Nho giáo thịnh dần, Phật giáo suy yếu. Tuy thế nhiều nhà Nho trước đây đã từng lên án chỉ trích Phật giáo gay gắt vậy mà cuối đời lại vào chùa sống cuộc đời thanh đạm và viết những vần thơ ca ngợi cảnh đẹp già lam như Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh...

Cụ Chu Văn An cũng không trực tiếp bài bác Phật giáo mà trái lại cụ còn sáng tácnhững vần thơ ca ngợi thiên nhiên, bộc lộ tâm tình tiêu dao, phóng khoáng tự tại, mang cốt cách của thiền sư, của đạo sĩ với một tâm hồn đạt đạo. Thơ của cụ được Phan Huy Chú nhận xét là: “lời thơ trong sáng u nhàn”. Thơ cụ chịu ảnh hưởng của đạo Phật trong giai đoạn về ở ẩn này như nhiều nhà thơ thời ấy. Nói chung thơ các ẩn sỹ thường có phong vị u nhàn, nhưng với cụ u nhàn chỉ là ở cái giọng thơ.

*

Sự ngưỡng mộ Phật giới thanh u (trong sạch và tĩnh lặng), thoát vòng tục lụy của cụ Chu Văn An cũng tỏ lộ ra vào một lần cụ dừng chân tạm nghỉ ở núi thôn Nam. Cảm thấy thân nhàn nhã như đám mây lẻ loi trên bầu trời, tự do phân tán, nhẹ bay khắp Nam, Bắc. Gió mát thổi bên gối, tâm tình để ngoài cuộc đời, xúc cảnh sinh tình Cụ làm bài thơ “Thôn Nam Sơn Tiểu Khế” (Tạm nghỉ núi thôn nam):

輕,

情。

遠,

THÔN NAM SƠN TIỂU KHẾ

Nhàn thân nam bắc phiến vân khinh,

Bán chẩm thanh phong thế ngoại tình.

Phật giới thanh u, trần giới viễn,

Đình tiền phún huyết nhất oanh minh.

(Thân nhàn như đám mây nhẹ bay khắp Nam, Bắc. Gió mát thổi bên gối, tâm tình để ngoài cuộc đời. Cõi Phật thanh u, cõi trần xa vời. Trước sân, hoa đỏ như máu, một chiếc oanh kêu).

TẠM NGHỈ NÚI THÔN NAM

Thân nhàn Nam Bắc áng mây trôi,

Bên gối gió qua, nhẹ việc đời.

Cõi Phật thanh u, xa cõi tục

Trước sân hoa đỏ, tiếng oanh vui.

(Tâm Minh dịch thơ)

*

Một lần vân du cụ dừng chân bên sông đứng một mình đếm thuyền về bến. Trước ghềnh, gió gấp, một tiếng sáo gợi cảnh thu. Thơ đã tàn, mặt trời xế bóng, ánh hồng nhàn nhạt. Màu biếc mênh mông. Cụ làm bài thơ “Giang Đình Tác” (Làm thơ ở Giang Đình). Trong thơ cụ có sự cô độc nhưng vắng bặt hẳn sự tiếc nuối thở than. Quả thật đây vẫn là Phật giới thanh u, xa lánh cõi trần tục. Bốn câu cuối bài thơ:

夢,

遊。

管,

鷗。

Công danh dĩ lạc hoang đường mộng, 
Hồ hải liêu vi hãn mạn du. 
Tự khứ tự lai hồn bất quản, 
Thương ba vạn khoảnh tiện phi âu.

 (Công danh đã rơi vào giấc mộng hoang đường. Tạm dạo chơi miền hồ hải. Đi lại tự mình, chẳng gì trói buộc. Thèm cảnh chim âu bay liệng trên muôn khoảnh sóng xanh).

Công danh chót lạc vùng mơ ảo
Hồ biển tạm chơi thú nẻo xa
Đây đó lang thang đời tự tại, 
Ước như chim lướt sóng bao la.
                        (Tâm Minh dịch thơ)

*

Trong một bài thơ khác cụ lại đã ca ngợi một vị sư đạo cao đức trọng. Cụ tán dương tư cách thanh cao của các nhà sư như tư cách của một nhà Nho quân tử sống ẩn dật chịu ảnh hưởng Lão–Trang trong bài “Đề Dương công Thuỷ Hoa đình”.

*        

Như vậy ta thấy ý thơ của Chu Văn An luôn ngát hương thiền. Chính vì đã chịu nhiều ảnh hưởng của đạo Phật mà khi về ở ẩn tiên sinh bình tĩnh dạy học, viết sách và sống yên vui đến cuối đời.

NGÔ TẰNG GIAO

(Virginia, 12-2016)

* * *

Ai đã giết Giáo Sư

DƯƠNG QUẢNG HÀM?

 

Lê Duy San, CVA 59

 

Đã là học sinh trung học, dù là học sinh trường công hay trường tư, không ai là không biết tới hai tác phẩm văn học vô cùng giá trị của giáo sư Dương Quảng Hàm đó là Việt Nam Văn Học Sử Yếu xuất bản năm 1941 và Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển xuất bản năm 1942. Cả hai tác phẩm này đều đượcđược Bộ Quốc gia Giáo dụcViệt Nam Cộng Hòachính thức công nhận làm sách giáo khoa cho chương trình trung học.

1/ Thân thế và sự nghiệp

Giáo Sư Dương Quảng Hàm, hiệu là Hải Lượng, sinh ngày 14 tháng 7 năm 1898 tai làng Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Ông là nhà nghiên cứu văn hóa và đã đặt nền móng cho môn lịch sử văn học và văn học so sánh ở Việt Nam. Ông là người khởi xướng chương trình quốc học cho nền giáo dục hiện đại và cũng là người thầy xuất sắc đã đào tạo hàng ngàn môn đệ trong một phần tư thế kỷ.

Thân phụ ông là nhà Nho yêu nước Dương Trọng Phổ và anh cả ông là nhà văn Dương Bá Trạc, một trong các nhà văn đi tiên phong ở đầu thế kỷ 20. Cả hai đều tham gia tích cực vào phong trào Đông Kinh Nghĩa thục đầu thế kỷ XX.

         Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển và Việt Nam Văn Học Sử Yếu

Năm1920, tốt nghiệp thủ khoa trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương.

Từ năm1920đến1946, ông là giáo sưtrường Bưởi(tức trường Trung học Bảo hộ, tiền thân của trườngChu Văn An sau này). Sau Cách mạng tháng Támnăm 1945, ông được bổ nhiệm làm Thanh tra Trung học, rồi làmHiệu trưởngtrường Chu Văn An. Ông mất tích vào đúng ngày chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, ngày 19/12/1946, để lại vợ và 6 người con trong đó có nhà vật lý Dương Trọng Bái.

Ngoài hai tác phẩm nổi danh và giá trị trên, giáo sư Dương Quảng Hàm còn để lại nhiều tác phẩm văn học giá trị cho hậu thế. Đó là :

Lectures littéraires sur L’Indochine (Bài tuyển văn học về Đông Dương, biên soạn cùng với Pujarnicle).

- Quốc văn trích diễm (1925).

-  Tập bài thi bằng sơ học yếu lược (1927, soạn chung với Dương Tự Quán),

- Những bài lịch sử Việt Nam (1927).

- Văn học Việt Nam (1939).

- Việt văn giáo khoa thư (1940).

- Lý Văn Phức - tiểu sử và văn chương (viết xong khoảng năm 1945).

- Và rất nhiều bài báo tiếng Việt, tiếng Pháp đăng trên các báo Nam Phong, Hữu Thanh, Tri Tân và báo của người Pháp…

2/ Ai đã giết giáo sư Dương Quảng Hàm

Cái chết của giáo sư Dương Quảng Hàm rất bí mật nên nhiều giả thuyết đã được đặt ra. Trong bài “ Dương Quảng Hàm và những ngày Hà Nội nổ súng, 19/12/1946”, nhà văn Viên Linh đã viết : “Dương Quảng Hàm chết như thế nào? “mất,” “mất tích,” “chết trong đám cháy,” “Pháp giết” hay “bị CS ám hại” vì ông là Việt Quốc (1)? Chúng ta cần làm sáng tỏ cái chết của ông.

Theo ông Phạm Xanh, cán bộ Việt Cộng, giáo sư Đại Học Quốc Gia Hà Nội thì: “Tháng 3-1945, Nhật đảo chính Pháp, trường mới quay lại nơi cũ. Ngày 12-6-1945, Khâm sai Bắc Bộ Phan Kế Toại ra quyết định đổi tên trường thành Quốc lập trung học hiệu Chu Văn An và Giáo sư Nguyễn Gia Tường làm Hiệu trưởng. Đó là hiệu trưởng người Việt đầu tiên của ngôi trường danh tiếng này. Rồi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Tháng 9-1945, Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục Vũ Đình Hòe ký quyết định cho phép Trường trung học Chu Văn An hoạt động trở lại. Giáo sư Dương Quảng Hàm được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng nhà trường dưới chế độ mới. Mới triển khai chưa được một niên khóa thì thực dân Pháp quay trở lại thay quân Tưởng gây hấn ở Hà Nội. Ngày kháng chiến tới gần, dân Hà Nội lục tục sơ tán. Với cương vị là hiệu trưởng, Giáo sư Dương Quảng Hàm ở lại bám trụ theo sát tình hình. Rồi ngày 19-12-1946, người Hà Nội hưởng ứngLời kêu gọi toàn quốc kháng chiếncủa Hồ Chí Minh nhất tề đứng dậy cầm súng đánh Pháp ở Thủ đô. Trong những ngày chiến sự diễn ra ác liệt trên các đường phố Hà Nội đó, nhiều người Hà Nội đã ngã xuống, trong số đó có Giáo sư Dương Quảng Hàm đã ngã xuống vì mái trường Chu Văn An giàu truyền thống yêu nước, hưởng dương 48 tuổi, cái tuổi đang đầy năng lực sáng tạo và cống hiến dưới chế độ mới (sau này ông được truy phong là liệt sĩ)”.

Giáo sư Dương Quảng Hàm chỉ là một nhà giáo dục, một nhà văn hoá, vậy thì ở lại bám trụ theo sát tình hình để làm gì? Ông đâu phải là một nhà quân sự hay chính trị. Vậy thì lý do này không đứng vững.

Bà Lê Thi (tên thật là Dương Thị Thoa), con gái của giáo sư Dương Quảng Hàm thì nói: “Sau ngày2 tháng 9năm1945, nhà giáo Dương Quảng Hàm được Việt Minh giao làm Hiệu trưởng Trường Bưởi (2). Tuy nhiên, đến19 tháng 12năm1946ông bị Pháp bắt và đem đi tử hình. Bà buồn rầu kể:"Khi Pháp đàn áp rất ác liệt, cả nhà tôi bảo bố trốn đi, không ở nội thành nữa, nhưng ông nhất quyết không đi với lý do chưa nhận được chỉ thị của cấp trên. Bố tôi bị Pháp bắt và đem đi tử hình ở đâu cũng không biết, đến nay gia đình tôi vẫn chưa tìm thấy xác của cụ".

Lời nói của bà Thoa có thể tin được không? Bà nói : Bố tôi bị Pháp bắt, nhưng bà có thấy không hay chỉ là sự suy đoán của bà ? Giáo sư Dương Quảng Hàm chỉ là một nhà văn hoá, nhà giáo dục. Người Pháp đang cần sự cộng tác của những người như giáo sư Dương quảng Hàm, không lý gì họ lại giết ông?

Hơn nữa, Pháp cũng đã bắt nhiều nhân vật chính trị nổi tiếng như Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ, Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ Trưởng Giáo Dục trong chính phủ Trần Trọng Kim, Luật Sư Phạm Khắc Hoè, Đổng Lý văn phòng Bộ Nội Vụ trong chính phủ Liên Hiệp của Hồ Chí Minh v.v... Tại sao Pháp không giết ai cả mà lại đi giết một nhà văn hoá, một nhà giáo dục là Giáo Sư Dương Quảng Hàm ?

Theo bác sĩ PMC, người Hà Nội, nhà ở gần nhà giáo sư Dương Quảng Hàm ở phố Hàng Bông, thì Giáo sư Dương Quảng Hàm là người mà Việt Minh không ưa. Chúng biết ông không có ý định tản cư, sợ để ông ở lại, ông sẽ theo người Pháp. Nên ngay đêm 19/12/1946 chúng đã bắt ông đem đi thủ tiêu (3). Sau khi Pháp làm chủ tình hình, chúng gom các xác chết vô thừa nhận và cho đem chôn chung trong một ngôi mồ tập thể bên hông Tòa Án Hà Nội, nằm trên đường Lý Thường Kiệt. Ngôi mộ này là mồ chôn tập thể xác của các tù nhân của nhà giam Hỏa Lò Hà Nội mà đa số các tù nhân này là các đảng viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng hoặc của các đảng phái quốc gia khác, đối lập với Việt Minh. Họ bị chính quyền Việt Minh bắt giữ từ trước và một số những người mới bị bắt trong đêm 19/12/1946.

Học giả Nguyễn Hiến Lê, một cựu học sinh của trường Bưởi, niên khóa 1929-1930 đã viết: “Có nguồn tin kể rằng cụ bị chết cháy, trong một căn nhà bốc lửa khi tiếng súng nổ chát chúa xa gần. Ngoài cửa ngôi nhà, có vài cán bộ (Việt Minh) nhưng không có ai can thiệp”.

Như vậy, phải chăng ngay khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, Việt Minh sợ giáo sư Dương Quảng Hàm ở lại theo Pháp nên đã bắt ông đem đi thủ tiêu? Sau khi chúng giết ông và một số người khác, chúng đã đốt căn nhà, nơi chúng đã bỏ xác ông ở đó để phi tang?

Tóm lại, tuy không có một bằng chứng rõ ràng nào về nguyên nhân cái chết của giáo sư Dương Quảng Hàm. Nhưng qua những lời nói của những người trong trong gia đình cũng như những người quen biết hoặc có lưu tâm tới cái chết của giáo sư Dương Quảng Hàm thì chúng ta cũng có thể kết luận rằng ông đã bị Việt Minh giết. Nhưng tại sao chúng lại vinh danh ông là liệt sĩ và lấy tên ông đặt cho một con đường ở Hà Nội ? Đây chỉ là cái trò lưu manh cố hữu của bọn Việt Cộng, muốn đánh lạc hướng của những ai nuốn tìm hiểu về nguyên nhân cái chết của giáo sư Dương Qủang Hàm.

Lê Duy San

Chú thích:

(1) Giáo Sư Dương Quảng Hàm không phải là Việt Quốc tức Việt Nam Quốc Dân Đảng. Giáo Sư Nguyễn Gia Tường, vị Hiệu Trưởng tiền nhiệm của giáo sư Dương Quảng Hàm mới là Việt Quốc. Chính vì ông là Việt Quốc nên Việt Minh mới tìm cách đẩy ông đi và cử giáo sư Dương Quảng Hàm về thay thế.

(2) Sau ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp và trao trả độc lập cho Việt Nam, chính phủ Trần Trọng Kim ra đời và Bộ Trưởng bộ Mỹ Nghệ là giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã ký nghị định đổi tên trường Bưởi tức Lycée du Protectorat là trường Chu Văn An.

(3) Những xác chết trong ngôi mồ tập thể này không thể là những xác chết của những thường dân vô tội; bởi vì trước đêm đó, hầu hết dân chúng Hà Nội đã được Việt Minh ra lệnh di tản từ trước. Số còn ở lại, nếu có, hầu hết là Tự Vệ Thành. Nhưng nếu là xác của Tự Vệ Thành thì tại sao bây giờ cộng sản lại san bằng ngôi mồ này đi mà không hề dựng một đài tưởng niệm cho họ, những người đã hy sinh vì tổ quốc? Còn nếu là xác chết của những đồng bào vô tội ở rải rác kháp nơi trong thành phố thì tại sao lính Pháp không chôn ở nơi khác mà lại mất công đem về tập trung ở đây và chôn tại nơi đây? Vậy chỉ có thể là xác chết của các tù nhân của nhà giam Hỏa Lò Hà Nội và các xác chết của những người mà Việt Minh đã bắt ngay trong đêm 19/12/1946 và đã ra lệnh hành quyết trước khi rút lui. Vì số xác chết quá nhiều, nên lính Pháp đã phải đào một cái hố lớn ngay giữa con đường nhỏ cạnh tòa án Hà Nội trên đường Lý Thường Kiệt để chôn cho tiện và xác của giáo sư Dương Quảng Hàm có thể đã được vùi chôn trong ngôi mộ tập thể này.

¯

* * *

Một Kỷ Niệm

VỀ GIÁO SƯ

Dương Quảng Hàm

BS Nguyễn Tấn Hồng, Bưởi

LTS. Học giả Nguyễn Hiến Lê, cựu học sinh trường Bưởi, niên khóa 1929-1930 đã có nhận xét về nhân dáng và tư cách của giáo sư Dương Quảng Hàm như sau:

Mấy năm trước, những khi thấy cụ đi qua sân trường, tôi thường để ý: cụ đi bộ, lúc nào cũng rảo bước, cụ thấp bé mà bước những bước dài, nhón gót (người ta bảo là tướng yểu), như lúc nào cũng vội vàng -- cụ có bao giờ biết thơ thẩn, mơ mộng không nhỉ? -- mà ngồi xe đạp thì trái lại, cụ đạp rất chậm, tốc độ đều đều, chỉ độ mười cây số một giờ. Tới cửa lớp, cụ thận trọng hãm lại, cho xe nghiêng qua một bên, khoan thai bước xuống, gác xe, gỡ cái kẹp ống quần ra, tháo chiếc cặp phồng những sách vở, rồi ôm cặp tiến vô lớp. Gặp bạn đồng sự cụ niềm nở bắt tay, nhưng ít khi đứng lại để trò chuyện; cụ tới lớp không khi nào trễ, nhưng cũng không khi nào quá sớm, chỉ dăm ba phút là cùng, như vậy thì đâu có thì giờ để trò chuyện. Tôi có cảm tưởng cụ là một chiếc đồng hồ mà thì giờ của cụ đã tính trước đâu vào đấy hết. Chúng tôi phục cụ ở điểm đó.

Cụ sống rất giản dị. Từ nhà ở giữa phố Hàng Bông lên trường, đường dài vào khoảng ba cây số, mà quanh năm, Hè cũng như Ðông, mưa cũng như nắng, ngày nào cụ cũng chầm chậm đạp một chiếc xe cũ; suốt hai năm học cụ, tôi nhớ chỉ một hai lần cụ đi xe kéo vì mưa gió lớn quá hoặc vì trong mình khó ở. Có lần chúng ‘thổi’ mất chiếc xe của cụ và bọn chúng tôi được một dịp cười: con người cẩn thận như vậy mà cũng để mất xe ư? Và chiếc xe ‘tàng’ như vậy mà chúng cũng ‘thổi’ ư?

Y phục của cụ hình như chỉ có vài bộ, một cổ lỗ, nhưng lúc nào cũng sạch và có nếp. Tóc thì chắc chắn một tháng cụ mới húi một lần và chỉ khi nào húi cụ mới cạo râu, vì vậy râu cụ đã thưa lại lởm chởm, trông y như limailles de fer (mặt sắt, mài giũa) và chúng tôi dùng danh từ Pháp đó để đặt biệt hiệu cho cụ.

Sau đây thêm một chi tiết mà cũng theo Nguyễn Hiến Lê, là đã học được từ cụ “một bài học lặng lẽ và cao thượng”:

“Theo lệ, cụ mở cuốn sổ tay ra chấm tên một học sinh vào hạng trung bình. Anh này chắc cũng chỉ thuộc lõm bõm, trả được một vài câu rồi ngừng, thú rằng không thuộc. Cụ gọi thêm một anh khác, cũng không thuộc nữa. Cụ ngạc nhiên, hỏi tại sao? Một anh bạo dạn đứng lên thưa rằng, chúng tôi không ai thuộc cả vì không ưa Jules Boissière, một tên thực dân không có cảm tình với dân tộc mình. Rồi chúng tôi trình với cụ tất cả những điều chúng tôi trách hắn. Cả lớp chờ sự phản ứng của cụ.

Cụ làm thinh một vài phút rồi bỗng nhiên tôi thấy hai giọt nước mắt lăn trên má cụ. Cụ vẫn ngồi yên nhìn xuống phía cuối lớp, cũng không lấy chiếc khăn tay nhỏ xíu bằng vải trắng để lau nước mắt nữa, mặc cho nó rơi xuống mặt bàn và tự khô trên má. Hôm đó cụ không cho điểm ai cả.”

Hình bóng ấy của Dương Quảng Hàm chỉ có học trò của cụ ghi nhớ được. Thế hệ sau ít ai còn biết rõ. Ngay cả cái chết của cụ cũng không sách vở nào nói đến. Chỉ là lời đồn. Chỉ là nghe nói. Có nguồn tin kể rằng cụ bị chết cháy, trong một căn nhà bốc lửa khi tiếng súng nổ chát chúa xa gần. Ngoài cửa ngôi nhà, có vài cán bộ nhưng không có ai can thiệp. Có người nói cụ bị chết trong can qua. Những cuốn sách in ở Hà Nội vừa qua, nói cụ “mất” ở Hà Nội. Một cuốn in ở Sài Gòn nói cụ “mất tích.”

Phải có một ngày sự thực hiện ra. Nhưng nó không tự nhiên hiện ra. Nếu các thế hệ sau không tìm hiểu, không tra vấn, không tìm lại những bài học lịch sử, lịch sử sẽ bị lãng quên hay bị biết đến trong sai lạc, cố ý hay vô tình.

¯

Dương Quảng Hàm, nghe qua cái tên, bất cứ ai quan tâm đến nền văn học Việt nam đều biết đó là một vị giáo sư có công lớn trong nền văn học nước nhà. Ngoài việc dạy học cho nhiều thế hệ học sinh, thầy còn nghiên cứu văn học và đã để lại cho hậu thế những công trình khảo cứu nghiêm túc và có giá trị (Việt nam văn học sử yếu, Việt nam thi văn hợp tuyển ...) Ở đây chỉ có ý nhắc đến một câu chuyện có thật xảy ra vào những năm tháng thầy còn phụ trách giảng dạy môn văn cho trường Bưởi ngoài Hà nội.

Khi còn là giáo sư ở trường Bưởi, thầy Hàm nổi tiếng là một ông thầy nghiêm, cả trường đều "rét" cái oai của thầy, hiếm khi thầy ban cho học sinh một nụ cười, phải nói là một ông thầy luôn có..."bộ mặt hình sự". Có lần một học sinh đã dùng com-pa vạch trên mặt bàn một vạch nhỏ để ghi dấu khi thầy Hàm nở nụ cười, dù chỉ là cười mĩm. Cho đến cuối năm học, anh chàng học sinh chuyên "sưu tập nụ cười thầy Hàm" đã làm "tổng kết" và công bố cho bạn bè đều biết là chỉ có … ba vạch mà thôi!! Học với thầy là một ước mơ của những học sinh nào mê văn học, nhưng phải trả giá bằng cách gồng mình chịu những hình thức kỷ luật, suốt niên học phải chịu "rét" nhiều hơn là ấm áp.

Vậy mà một hôm, trong một lớp học của trường Bưởi, thầy Hàm đang say sưa giảng về một thể thơ gọi là "yết hậu" (một thứ thơ đường luật biến thể, gồm bốn câu: ba câu đầu có bảy chữ, và câu cuối chỉ có một chữ mà thôi). Cũng nên nói thêm là khi thầy Hàm giảng bài thì ông hay nói say sưa như lên đồng, đến không kịp … nuốt nườc bọt. Có khi thì đang huyên thuyên như thế, bất chợt ông dừng lại … nuốt nước bọt đánh ực một phát, rồi mới nói tiếp. Đó là cố tật của thầy Hàm mà học sinh cả trường đều biết. Trở lại chuyện bài thơ yết hậu, sau khi giảng tất cả những niêm luật của thể thơ này, thầy Hàm đưa ra một thí dụ bằng một bài thơ do chính thầy cảm tác tại chỗ. Bài thơ có nội dung mô tả một anh chàng bợm nhậu, khi chết xuống âm phủ được gặp mặt Diêm vương mà trên tay vẫn còn cắp theo be rượu. Thơ rằng:

“Sống ở dương gian đánh chén nhè,

“Chết về âm phủ cắp kè kè

“Diêm vương phán hỏi rằng chi đó?

“Be” (tức là be rượu. )

Sau khi ngâm nga dứt bài thơ ngắn đó, thầy hất hàm ra hiệu cho cả lớp và nói: "Em nào cho tôi một thí dụ tương tự xem nào."

Một quãng im lặng kéo dài hơn một phút, rồi đột ngột từ hàng ghế cuối lớp có một cánh tay giơ lên, thầy ra dấu cho phép học sinh kia đứng lên để đọc bài thơ của mình.

Sau một lúc chần chừ, anh chàng mới bắt đầu cất tìếng:

“Sống ở dương gian chỉ nuốt đàm,

“Chết về âm phủ nói làm nhàm.

“Diêm vương phán hỏi rằng ai đó?

Cậu học sinh nọ chỉ vừa đọc dứt câu ba, thì không ai bảo ai, cả lớp đều đồng thanh hét thật to:

“Hàm!!”

Nghe đến đây, chắc bà con đều nghĩ rằng cả lớp sẽ bị “ông hung thần” nghiêm trị, còn anh chàng học sinh chủ xướng kia chắc không tránh khỏi một trận đòn tuốt xác ra. Vậy mà như một phép lạ. thầy Hàm lại mỉm cười, một nụ cười thật tươi và hoàn toàn mang vẻ đôn hậu, dễ thương đến tội nghiệp. Và thưa bà con, nếu như năm học đó có anh chàng nào muốn “sưu tập nụ cười”, thì chắc chắn sẽ được … bốn vạch trên mặt bàn học đấy.

Hôm nay, nhân ngày Nhà giáo Việt nam, tui muốn nhắc lại mẫu chuyện này, để tỏ lòng nhớ đến thầy Hàm, mong ông sẽ gặp toàn những người tử tế ở thế giới bên kia, đang say sưa giảng bài cho học sinh, môn Văn học Việt Nam.

Một đôi lời ngắn ngủi, coi như một nén hương cho thầy, có gì thất thố, kính mong thầy lượng thứ.

BS Nguyễn Tấn Hồng, Bưởi

¯

* * *

GIÁO SƯ

HOÀNG XUÂN HÃN

Người khai sinh

nền Giáo dục Việt Nam

Dương Thiệu Tống, Bưởi

Giáo Sư Hoàng Xuân Hãn

LTS: Là học sinh trung học Việt Nam, không ai là không biết tới cuốn “Danh từ khoa học” của giáo sư Hoàng Xuân Hãn. Ông là cựu học sinh trường Bưởi. Sau sang Pháp du học và tốt nghiệp Thạc Sĩ Toán Học tại đại học Sorbonne năm 1936. Trở về nước ông dậy toán tại trường Bưởi. Năm 1945, ông là Bộ Trưởng bộ Giáo Dục và Mỹ Nghệ trong nội các của chính phủ Trần Trọng Kim.Với chức bộ trưởng, ông đã thiết lập và ban hành chương trình giáo dục bằng Việt ngữ ở các trường học và áp dụng việc thi Tú Tài bằng tiếng Việt và dùng tiếng Việt trong những công văn chính thức. Ông cũng chính là người đã đổi tên Lyceé du Protectorat (tức trường Bưởi) thành Trung Học Chu Văn An.

*

Có lẽ rồi đây sẽ có nhiều người viết về GS. Hoàng Xuân Hãn như là một nhà trí thức tiêu biểu, một thầy giáo toán học tài năng, một nhà khoa học Việt Nam lừng danh, một nhà nghiên cứu cổ văn và nhà sử học nghiêm túc v.v… vì ông là tất cả những mẫu người ấy. Cũng sẽ có người đầy đủ tư cách hơn tôi để viết về tiểu sử của GS. Hoàng Xuân Hãn vì họ là những người thân thuộc, đồng tuổi, đồng nghiệp, những học sinh cũ hay bạn bè gần gũi, thân thiết. Nhưng tôi không được may mắn thuộc vào các loại người ấy, mà chỉ là một trong các thầy giáo thuộc lớp đầu tiên thực hiện chương trình trung học Việt Nam do chính ông khai sinh vào tháng 6-1945 và được áp dụng vào khoảng tháng mười năm ấy tại các trường học ở miền Trung.

Hồi còn theo bậc trung học giữa thập niên 1930 và đầu thập niên 1940, chúng tôi biết tên của hầu hết các nhà khoa bảng Việt Nam xuất thân từ các trường đại học Pháp, vì số người này lúc ấy có thể đếm trên đầu ngón tay, nhưng GS. Hoàng Xuân Hãn là người mà chúng tôi vẫn hằng ngưỡng mộ qua các bài viết của ông trên tạp chí Khoa học, một tờ báo đầu tiên về khoa học viết bằng tiếng Việt, do một nhóm trí thức chủ trương. Sự kiện một tờ báo Việt đề cập đến các vấn đề khoa học bằng tiếng Việt, kèm theo bản Danh từ khoa học của GS. Hoàng Xuân Hãn, xuất hiện chỉ hơn một năm sau thời kỳ nước Pháp bại trận (giữa 1940), cho thấy việc làm này không phải ngẫu nhiên mà là sự chuẩn bị có tính cách “chiến lược” cho việc phục hồi vị trí của tiếng Việt trong nền quốc học Việt Nam. Điều này, các nhà giáo dục Việt Nam về sau đã nhận thấy rõ và chính GS. Hoàng Xuân Hãn, gần đây (1993) cũng xác nhận: “Từ khi vào Trường Vinh hay Hà Nội, tôi đã sớm nhận thấy hoàn toàn thiếu phần quốc học, và càng thấy phần quốc học suy đồi, anh em ít người chú tâm; đến cả thầy giáo cũng vừa non nớt vừa uể oải.

Tôi lại nhận thấy rằng nếu mình thiếu phần tối thiểu về khoa học, thì dân ta không thể có lý luận chính xác nghiêm túc và những kiến thức cách trí không thể truyền bá vào tập quán của dân ta, chỉ quen với từ chương mơ hồ luộm thuộm. Vì những lẽ ấy, khi tôi được vào Trường Polytechnique, năm 1930, tôi bắt đầu nghĩ đặt danh từ khoa học cho có nền tảng hữu lý và quốc gia… Không bao lâu thì cuộc chiến tranh Âu châu bùng nổ… Tôi cùng một nhóm bạn lập ra tạp chí Khoa học, và tôi tự đem in tập Danh từ khoa học của tôi. Thực ra, bấy giờ tôi chịu những lời phê pháp hiềm nghi của một số người pháp trong chính quyền cao cấp” [1]

Qua lá thư trích dẫn trên đây của GS. Hoàng Xuân Hãn, tôi lại càng ngưỡng mộ ông hơn, và hiểu được vì sao ông vốn là một nhà khoa học, một thầy giáo toán học, được đào luyện trong môi trường giáo dục Pháp, mà đồng thời lại nhà một nhà nghiên cứu Hán Nôm, một nhà sử học Việt Nam nghiêm túc, và gần đây hơn nữa ông lại có ý định “khảo cứu dài về khoa cử và giáo dục Việt Nam” vì “mình phải làm gương mẫu cho xứ ngoài”, như ông đã viết trong lá thư nói trên. Có lẽ không ai có đầy đủ khả năng hơn ông để thực hiện công trình lớn lao này.

Chỉ bốn năm sau khi ông cho xuất bản tập Danh từ khoa học, niềm mong ước của ông nói trên đã được thực hiện. Không đầy một tuần lễ, sau ngày binh đội Pháp đầu hàng quân đội Nhật tại Huế (9.3.1945), các trường trung học Huế được mở cửa trở lại và tất cả các môn học từ tiểu học đến bậc tú tài đều được giảng dạy bằng tiếng Việt. Đó là một thành tích không dễ gì đạt được nếu không có sự chuẩn bị của GS. Hoàng Xuân Hãn nhiều năm trước đó với cuốn Danh từ khoa học của ông, và cũng là một sự kiện giáo dục chưa từng có tại bất cứ một quốc gia nguyên thuộc địa nào đã bị thực dân đô hộ lâu dài.

Ngày 17.4.1945, ông được cử giữ chức Bộ trưởng Giáo dục trong Chính phủ Trần Trọng Kim, rồi đến cuối tháng 6.1945, kỳ thi tú tài đầu tiên của nền giáo dục Việt Nam được tổ chức tại trường Quốc học Huế với tất cả các bài thi viết bằng tiếng Việt. Năm 1993, trong lá thư kể trên, ông còn nhớ lại về kỳ thi này: “… Những bài làm rất tốt, kể cả bài thi triết học. Đầu tháng 7.1945, tôi phải ra Hà Nội để thu nhận các cơ quan đại học mà Nhật trả; tôi đã mang theo bản chương trình trung học và bản tập lục những bài thi xuất sắc để đem in. Tiếc thay, nhà in bị cháy, tôi chỉ cứu được một bản chương trình trung học …”.

Chương trình trung học này được thảo luận tại Bộ Giáo dục (tức Nha Học chánh cũ, sau lưng trường Quốc học Huế) tại một hội đồng giáo sư do GS. Hoàng Xuân Hãn chủ tọa và sau đó được soạn thảo tại trường Quốc học Huế. So với các chương trình trung học Việt Nam về sau đó, chương trình Hoàng Xuân Hãn là một chương trình cải tổ nền trung học Việt Nam sâu rộng nhất, từ việc thay đổi cấu trúc nền trung học cho đến việc đặt ra những môn học mới, thay đổi nội dung các môn học cũ, nhưng nó đã được thực hiện trong thời gian ngắn nhất và với số giáo sư tham gia ít ỏi nhất. Mỗi môn học chỉ có một hoặc hai người soạn thảo cho tất cả các lớp của bậc trung học từ lớp đệ nhất niên cho đến lớp đệ tam chuyên khoa. Một trong các vị giáo sư đã tham dự vào việc soạn thảo “chương trình Hoàng Xuân Hãn” về môn Anh văn cho nền trung học Việt Nam trong các năm 1945, 1946, đó là thầy Hà Thúc Chính, nay đã 92 tuổi và hiện sống tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Giáo sư Hoàng Xuân Hãn không những là người đã đặt ra đường hướng đầu tiên cho việc xây dựng chương trình, mà song song với việc làm ấy, ông cũng còn là người đầu tiên mạnh dạn đặt ra qui chế “giáo sư phụ khuyết” để tuyển dụng những thanh niên có bằng tú tài làm giáo viên giảng dạy tại các trường trung học, thay thế tất cả các giáo viên người ngoại quốc, một điều nhà nhiều quốc gia nguyên thuộc địa không làm được ngay sau khi giành được độc lập. Những công trình lớn lao nói trên đã được hoạch định chỉ trong vòng ba tháng trong khi GS. Hoàng Xuân Hãn giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nhưng tất cả chỉ được thực hiện sau khi ông rời chức vụ ấy, dưới chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Tôi ngưỡng mộ GS. Hoàng Xuân Hãn vì tài năng trí tuệ lớn lao của công cho nền giáo dục Việt Nam, tôi mến yêu ông vì tấm lòng yêu đất nước, yêu con người của công, nhưng trên tất cả, tôi kính trọng ông về “khí tiết” của người trí thức Việt Nam mà ông đã tóm tắt trong lời nói đầu của cuốn La Sơn phu tử: “Trong cơn dông tố, gốc cây đại thụ đứng tin; giữa dòng nước cuốn, cột đá chân cầu không chuyển; đó là đặc tính chắc rắn của gốc cây, cột đá. Chuyện La Sơn phu tử là chuyện một cá nhân đặc biệt, một cá tính đặc biệt mà thôi. Đặc biệt vì khí tiết của cụ đã được thử thách trong những trường hợp éo le, nhiều khi mâu thuẫn cùng nhau, thế mà chung qui vẫn tròn khí tiết” [2]

Tôi nghĩ rằng, với tư cách là một miêu duệ của Nguyễn Thiếp tiên sinh, GS. Hoàng Xuân Hãn xứng đáng nhận lãnh những điều ông đã nhận xét như trên về nhân vật lịch sử ấy.

Dương Thiệu Tống. Bưởi

(Trích chương X (tr. 105-109) cuốn 

“Suy nghĩ về văn hóa giáo dục Việt Nam”, Nxb Trẻ)

------------------------------------

[1] Nguyễn Q Thắng, Khoa Cử và Giáo Dục Việt Nam. NXB Văn hóa Thông tin, Tp. HCM, tr. 136. Thư của GS Hoàng Xuân Hãn, Paris 20-3-1993.

[2] Hoàng Xuân Hãn, La Sơn phu tử. NXB Minh Tân, Paris. Lời tựa thứ hai viết tại Hà Nội tháng chin năm Canh Dần, 1950.

* * *

Thiên Chức

của Nhà Giáo

GS Nguyễn Xuân Vinh

Năm 2013 đã đi qua một cách quá nhanh đối với tôi, vì là một năm tôi có nhiều chuyến đi, cũng như có nhiều việc phải làm. Tôi đã sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn đất nước có nhiều biến chuyển nên cũng như các bạn cùng lứa tuổi, nổi trôi theo vận nước, sự nghiệp của tôi cũng qua nhiều lần thay đổi, từ nghiệp Văn, sang nghiệp Giáo, đến nghỉệp Binh, rồi lại trở về nghiệp Giáo. Nhân dịp đầu Xuân Giáp Ngọ, ngồi viết mấy dòng tản mạn cho Đặc San Bưởi-Chu Văn An, tôi lại nghĩ đến vị Thầy đã được tôn vinh là “Vạn Thế Sư Biểu” với khí phách của người mà hơn bẩy trăm năm sau vẫn còn toả xuống để chúng ta noi theo. Nghĩ đến tình hình trên đất nước hiện nay, sau hai lần Hội chúng ta tổ chức Hội Luận, tôi lại nhớ đến bài thơ của Lê Quát là một trong những cao đồ của vị danh sư

Thư Hoài-Kỳ Nhị

“Niên lai, thế sự dữ tâm vi,

Nhật vọng gia sơn phú Thức Vi.

Thuỷ quốc thiên hàn kinh tuế mộ,

Mộc lan hoa lão vũ phi phi”.

Bài thơ xin tạm dịch là:

“Cuộc đời trái với sự lòng,

Hướng về quê cũ, ngâm dòng Thức Vi.

Nước triều, trời lạnh năm đi,

Mộc lan tàn cánh hoa vì mưa bay”.

Năm mới tới, mà thế sự trái với lòng mình mong muốn. Hàng ngày nhìn núi xa về phía quê nhà, ngâm câu thơ Quốc Phong ở Thi Kinh, bộc lộ tâm sự của người lưu lạc, tuy lòng buồn nhưng vẫn tiếp tay với những người còn muốn làm được điều gì cho quê hương. Xét những gì mình có thể làm được, tôi thấy thực ra lúc nào tôi cũng mang nặng nghiệp Giáo, nghĩa là dù ở đâu hay trong hoàn cảnh nào, tôi cũng đưa những gì mình đã học hỏi được trong những năm qua để san sẻ những hiểu biết của mình tới mọi người.

Những năm còn ở quê nhà, vì nhu cầu của Bộ Quốc Gia Giáo Dục, tôi được giấy phép đặc biệt của Bộ Quốc Phòng, dậy môn Toán mỗi tuần 4 giờ, và theo thứ tự thời gian, dậy cho Trường Trung Học Võ Tánh ở Nha Trang, và sau đó cho những Trường Trung Học Petrus Ký, và Chu Văn An ở Sài Gòn. Sau năm 1960, chiến sự chống cộng sản xâm nhập từ miền Bắc gia tăng, tôi không còn nhiều thì giờ tới trường giảng dậy nhưng vẫn để bài giảng cho Bộ Quốc Gia Giáo Dục in ra chính thức thành hai cuốn sách Cơ Học và Lượng Giác Học, và mỗi kỳ hè vẫn nhận lời chấm thi Tú Tài khi có thư mời.

  

Tôi rời nước vào tháng 8 năm 1962, chính thức như là một sinh viên theo học chương trình tiến sĩ, nhưng sau mấy tháng ở Đại học Colorado thì vị giáo sư dậy môn “ Học Thể Lỏng” (Fluid Mechanics) chuyển sang trường khác, và vì môn này trước đây tôi đã học ở Trường Sĩ Quan Không Quân Pháp ở Salon de Provence nên Đại Học nhờ tôi dậy thế. Từ đó cho đến năm 2000 khi tôi về hưu trí, tôi đã trở lại nghiêp Giáo và đã được mời giảng dậy hay thuyết trình ở rất nhiều nơi trên thế giới. Một vài trường hợp khá đặc biệt tôi ghi lại dưới đây để gửi tới qúy bạn như là những chuyện vui để đọc những ngày còn Xuân.

Chúng ta thường nghĩ rằng người Nhật là những người rất hãnh diện về văn hoá của dân tộc họ và vào những thành tích họ đạt được trên phương diện kỹ thuật cao cấp. Vì vậy tôi cũng thấy ngạc nhiên khi nhận được thư mời của Viện Đại Học Quốc Phòng (National Defense Academy) ở Yokosuka, Nhật Bản để sang bên đó hai tuần lễ vào năm 1997 dậy một khoá về “Planetary Entry Dynamics & Optimization”. Tuy là một khoá học cấp tốc nhưng họ đã tổ chức rất chu đáo. Những tài liệu tôi gửi sang trước ngày khai giảng đã được in thành một tập sách dầy hơn một trăm trang và tin tức về khóa học cũng được phổ biến rộng rãi cho các hãng kỹ nghệ lớn như Mitsubishi Heavy Industries để cử kỹ sư tới theo học. Số học viên có thể lên tới gần một trăm người ngồi trong một giảng đường lớn và tôi đã phải dùng hệ thống phóng thanh để thuyết trình. Trong suốt thời gian tôi ở xứ này, Viện Đại Học đã đề cử ba khoá sinh là sĩ quan thuộc Lục Quân và Không Quân làm sĩ quan tùy viên. Họ thay phiên nhau mỗi ngày có một người đưa xe đến khách sạn đón tôi tới trường và lo cho tôi tất cả những gì cần thiết. Trong khi tôi giảng bài thì sĩ quan trực hôm đó cũng là người thu hình trên video và sau khóa học tôi được tặng tất cả những tấm băng thu hình để giữ làm tài liệu. Lễ mãn khoá cũng được cử hành tuy đơn giản nhưng trang trọng và ông Viện trưởng đã thân hành tới để tặng tôi tấm bảng tri ân.

Hình với các sĩ quan tùy viên

Kỷ Niệm từ Viện Đại Học Quốc Phòng Nhật Bản

Một lần khác tôi nhận được thư mời của ông Viện Trưởng của Đại Học Quốc Gia Bách Khoa ở Toulouse, Pháp quốc (Institut National Polytechnique de Toulouse) để làm giám khảo trong hội đồng chấm thi tiến sĩ cho cô Sophie Geffroy là một kỹ sư làm việc ở Trung Tâm Không Gian của Pháp. Luận án của Sophie có liên hệ tới một số những công trình tôi đã làm trước đây, và sau khi được chấm đậu và dự tiệc xâm banh như theo thủ tục ở Pháp, cô còn xin tôi ký tên vào luận án để làm kỷ niệm. Một vài lần khác, tôi cũng nhận được thư mời phê bình luận án từ những Đại Học Princeton ở Hoa Kỳ, Đại Học McGill ở Montreal, Canada và Viện Kỹ Thuật ở Bangalore, Ấn Độ. Những lần này thì thường những giáo sư cố vấn họ gửi xin ý kiến để lấy thêm uy tín cho luận án họ bảo trợ.

Cô tân khoa Sophie Geffroy với cặp mắt nhìn ngưỡng mộ của người bạn trai dù bị đau tay cũng tới hỗ trợ

Một dạng thuyết trình khác là ở những hội nghị khoa học và kỹ thuật, tầm vóc quốc gia hay quốc tế, đôi khi ban tổ chức mời một giáo sư hay khoa học gia có uy tín đến thuyết trình về một đề tài có liên quan đến chương trình chung của hội nghị. Trong chương trình họ đề những bài này là “invited lectures”, có nghĩa là bài thuyết trình được mời, thường để quảng cáo cho đông người tới tham dự hội nghị nếu diễn giả là người có tiếng tăm được nhiều ngừơi mến mộ. Trong những năm dậy học và làm khảo cứu tôi cũng có vài lần được mời làm diễn giả đặc biệt như vậy. Nhưng lần được mời thuyết trình đáng ghi nhớ nhất của tôi là lần được đại học Oklahoma ở thành phố Norman, tiểu bang Oklahoma, mời đến thuyết trình trong chương trình Charles E Foster.

Đại Học có một ngân khoản do sự tài trợ của nhà tỷ phú Charles E Foster, Tổng Giám Đốc của công ty điện thoại SBC, để mỗi năm mời một khoa học gia hàng đầu tới thuyết trình về một đề tài về hàng không và không gian. Chương trình diễn giảng được thiết lập từ năm 1990 và tôi là diễn giả thứ 9 được mời. Mục đích chính của chương trình này là để quảng bá cho sự phát triển ngành hàng không và không gian trên thế giới nên khán thính giả được mời rộng rãi cho cả đại học chứ không riêng cho những sinh viên và giáo sư chuyên ngành. Ngày hôm đó trong đại giảng đuờng rộng lớn dành cho những buổi nói chuyện tổng quát, và có thêm sự cổ động của Hội Sinh Viên Việt Nam tại Đại Học Oklahoma, người dự thính đã đến đông chật. Như trong thiệp loan tin in lại ở dưới đây của School of Aerospace and Mechanical Engineering, tôi đã chọn một đề tài thuyết trình phổ thông cho đại chúng là “Navigating in The Solar System”.

Theo sự trình bầy của tôi thì, mới đây trong những lớp băng giá của Nam cực địa cầu, người ta đã tìm thấy những thiên thạch được chứng tỏ là có nguồn gốc xuất xứ từ Hoả Tinh. Như vậy có thể suy luận rằng qua hàng triệu năm, những chuyển động hỗ tương giữa các hành tinh trong Thái Dương Hệ có thể làm cho vật thể từ hành tinh này chuyển sang hành tinh khác. Trong thế kỷ hiện tại, những chuyên gia tính qũy đạo đã tạo dựng những lý thuyết tối ưu để có thể dùng hai nguồn lực thiên nhiên là trọng lực hấp dẫn của các hành tinh và sức cản của các bầu khí quyển chung quanh các hành tinh, cùng với phản lực của các động cơ nhân tạo để hướng dẫn các phi thuyền không gian từ trái đất di chuyển tới tất cả các hành tinh trong Thái Dương Hệ, trừ Diêm Vương Tinh ở quá xa, với phí tổn nhiên liệu tối thiểu. Tôi cũng đã kết luận bài nói chuyện bằng một lời viết tiên tri của triết gia người Pháp là Francois-Marie Arouet, bút hiệu là Voltaire (1694-1778): “Notre voyageur connaissait merveilleusement les lois de la gravitation et toutes les forces attractives et répulsives. Il s’en servait si à propos, que tantôt à l’aide d’un rayon de soleil, tantôt par la commodité d’une comète, il allait de globe en globe, lui et les siens, comme un oiseau voltige, de branche en branche”. (Người du hành của chúng ta biết một cách nhiệm mầu những luật hấp dẫn vạn vật, những sức hấp và sức đẩy. Khách không gian đã khéo biết lợi dụng, lúc thì nương một tia sáng mặt trời, lúc dựa theo đà một ngôi sao chổi, cùng với quyến thuộc, khách đi từ tinh cầu nọ tới tinh cầu kia, như một con chim bay truyền cành).

Lần đi này tôi đã phải mất nhiều thi giờ chuẩn bị hơn là những lần tham dự những hội nghị chuyên ngành vì phải trình bầy cho một số khán thính giả rộng lớn, nhiều người không theo học ngành kỹ thuật. Hơn nữa tôi được biết là sẽ có nhiều sinh viên Việt Nam đang theo học ở Đại học Oklahoma đến nghe tôi nói nên tôi không muốn để cho họ thất vọng khi thấy bài giảng không được cử toạ chăm chú nghe. Cũng may là tôi có một số cựu sinh viên đang làm việc tại các Trung Tâm của Cơ Quan Không Gian nên tôi đã nhờ họ sưu tầm và làm giúp cho những đoạn phim ngắn giải thích sự việc như trường hợp, muốn bay tới Hoả Tinh, phi thuyền phải đi vòng qua Kim Tinh để nhờ sức hấp của hành tinh này tăng thêm tốc độ trên chặng đường đi. Cũng vì thế mà chuyến đi Oklahoma của tôi đã lưu lại cho cộng đồng người Việt ở nơi đó những kỷ niệm tốt đẹp.

Trong suốt thời gian làm giáo sư đại học, mỗi lần tôi được mời đi thuyết trình hay tham dự những hội nghị ở những nơi có đông người Việt cư ngụ, tôi thường dành thì giờ để qua những tổ chức cộng đồng mà có dịp tiếp súc với các học sinh và sinh viên trẻ mà tôi nghĩ sẽ là những người lãnh đạo một đất nước Việt Nam tươi sáng trong tương lai. Riêng ở Oklahoma, tôi nhận thấy rằng người Việt ở tiểu bang này đã gây được sự kính nể và quý mến của chính quyền địa phương. Tuần lễ tôi đến thành phố Oklahoma City, là thành phố lớn gần trung tâm Đại Học, cũng trùng ngày giỗ tổ mồng Mười tháng Ba Âm lịch nên tôi được cộng đồng người Việt mời tham dự như là diễn giả danh dự đến từ phương xa. Tôi nghĩ là theo lời giới thiệu của người đồng hương nên Quốc Hội Tiểu Bang, cả Thượng Viện lẫn Hạ Viện đã cử dân biểu và thượng nghị sĩ đến dự lễ và trao tặng tôi những bản tuyên dương và đón mừng, thật là những vinh hạnh tôi không chờ đợi trong khi thi hành nhiệm vụ của một nhà giáo.

Tôi thấy cần phải nói trong phần kết luận của bài này về thành tích của những người trước tôi đã được mời đến làm diễn giả danh dự trong chương trình Charles E Foster, để hiểu rõ thêm về tiêu chuẩn chọn lựa của Đại học. Nếu đọc trong giấy phổ biến của Đại học Oklahoma để mời người đến tham dự có ghi tên của những diễn giả những năm trước thì ta được thấy có những khoa học gia nổi tiếng thế giới như tiến sĩ Paul B. MacCready, diễn giả thứ 2, là người đã kiến tạo được chiếc phi cơ chỉ dùng sức ngưòi đạp mà bay được qua eo bể Manche từ Pháp sang Anh quốc. Ông được nổi tiếng khi chế tạo được chiếc phi cơ Gossamer Condor”chỉ dùng sức người đạp mà ngày 23 tháng 8 năm 1977 do tay đua xe tài tử Bryan Allen đã thực hiện được đường bay theo hình số 8 và thành tích này đã chiếm được giải thưởng Kremer trị giá 50 ngàn bảng Anh được kỹ nghệ gia Henry Kremer đặt ra năm 1959. Chiếc phi cơ nay được lưu trữ tại viện bảo tàng Smithsonian National Air and Space Museum ở Hoa Thịnh Đốn. Sau thành tích này, ông MacCready, cùng với hãng AeroVironment, tiếp tục chế tạo được phi cơ dùng sức người đạp “Gossamer Albatross”, bay qua bể Manche, thực hiện ngày 12 tháng 6 năm 1979 và đoạt giải Kremer lần thứ hai, lần này là 100 ngàn bảng Anh. Sau đó TS MacCready kiến tạo phi cơ “Solar Challenger” dùng điện lực tạo bởi ánh sáng mặt trời, cũng bay được qua bể Manche và hiện nay ông cộng tác với cơ quan NASA trong chương trình “Pathfinder/Helios” để chế tạo loại phi cơ dùng năng lượng ánh sáng mặt trời bay trên thượng từng không khí. Tìm hiểu trên trang Bách khoa Wikipedia thì có những lời giới thiệu như sau:

“The aircraft was designed and built by a team led by Paul B. MacCready, a noted US aeronautics engineer, designer, and world soaring champion. Gossamer Albatross was his second human-powered aircraft, the first being the Gossamer Condor, which had won the first Kremer prize on August 23, 1977 by completing a mile-long figure-eight course. The second Kremer challenge was then announced as a flight across the Channel recalling Louis Blériot's crossing of 1909. The Albatross was powered using pedals to drive a large two-bladed propeller. On June 12, 1979, piloted by amateur cyclist Bryan Allen, it completed the 35.8 km (22.2 mi) crossing in 2 hours and 49 minutes, achieving a top speed of 29 km/h (18 mph) and an average altitude of 1.5 metres (5 ft”).

Gossamer Albatros
đặt tại Viện Bảo Tàng Hàng Không ở Seattle

Một diễn giả khác, người thứ 7, mà những sinh viên tiến sĩ nào theo học ở Đại học California ở Berkeley cũng phải biết là Giáo sư tiến sĩ khoa trưởng kỹ thuật George Leitmann. Ông là nhà khoa học lừng danh về môn Động Lực Học và Điều Khiển (Dynamics and Control). Năm 2005, nhân dịp kỷ niệm sinh nhật thứ 80 của GS Leitmann, một hội nghị quốc tế về môn này đã được tổ chức để vinh danh ông tại Hội trường của Hãng Daimler/Chrysler gần Stuttgart, Đức quốc và khoa học gia từ 15 quốc gia đã tới trình bầy những bài khảo cứu quanh vấn đề ông lưu tâm tới trong 55 năm qua.

Có một điều đặc biệt với khoa học gia George Leitmann, nay cũng là Giáo Sư Danh Dự (Professor Emeritus) của Đại học California, Berkeley, là cùng chuyến Âu du này, ông được Bộ Quốc phòng Pháp mời đến nghỉ ở Câu Lạc Bộ Quân Lực ở Paris để được tưởng thưởng Chiến công Bội tinh với nhành dương liễu (Croix de Guerre avec Palmes). Năm 2005 cũng là năm kỷ niệm 60 năm trận chiến Colmar ở vùng Alsace Lorraine. Vào đầu tháng Hai năm 1945, Tiểu đoàn 286 Công binh Hoa Kỳ mà chàng trai trẻ George Leitmann phục vụ, lúc đó biệt phái sang Đệ Nhất Lộ Quân Pháp đã có công trong chiến thắng Colmar và anh được thưởng huy chương này. Vào thời điểm đó, vì không có sẵn huy chương nên anh chỉ nhận được một miếng băng nhỏ. Sáu mươi năm sau, tại Câu Lạc Bộ Quân Lực ở Paris, Đại tướng Louis-Alain Roche, đã đại diện cho Tổng Trưởng Quốc Phòng Pháp để trao tặng chiến công bội tinh với nhành dương liễu cho giáo sư George Leitmann.

Đại tướng Louis-Alain Roche với Giáo sư George Leitmann

Huntington Beach ngày 9/2/2014

GS Nguyễn Xuân Vinh

* * *

Thầy Xán

 

GS Lưu Trung Khảo, CVA54

Giáo Sư Vũ Ngô Xán

Năm 1951, tôi nhập học lớp đệ Tam trường trung học Chu Văn An qua một kỳ thi tuyển. Năm đó trường có ba lớp đệ tam: Khoa Học Toán, Khoa Học Thực Nghiệm và Sinh Ngữ. Hai lớp Khoa Học sĩ số tương đối đầy đủ, nhưng lớp Sinh Ngữ còn vắng hoe. Khách văn chương xưa nay vốn vẫn hiếm. Nhà trường bèn ra thông cáo thi tuyển học sinh các trường tư vào cho đủ số 50. Cùng với Dương Văn Hoàn lúc đó đang học trường tư thục Hàn Thuyên, chúng tôi hăng hái góp đơn dự thi và đi coi kết quả. Kết quả tốt: Cả hai chúng tôi đều trúng tuyển. Thế là chúng tôi giã từ ngôi trường hàng xóm của trường Trưng Vương để lên cửa Bắc thành Hà Nội mà học trường Chu Văn An.

Các lớp đệ nhị cấp của trường nằm trên lầu 3. Hiệu trưởng năm đó là thày Vũ Ngô Xán, Giám học là thày Vũ Đức Thận. Thày Thận thấp nhỏ, quanh năm suốt tháng mặc một bộ đồ màu trắng. Trời nắng, trời mưa hay giông bão đi nữa, thày bao giờ cũng đứng ở cầu thang lối lên xuống để nhìn học sinh xếp hàng vào lớp hay ra về. Thày Xán thường mặc bộ đồ màu xám và dùng xe đạp để di chuyển. Sau này vào Nam, tôi vẫn thấy thày đạp chiếc xe cọc cạch đó mà dẫn sinh viên trường Đại Học Sư Phạm đi thực tập. Khác với thày Thận lúc nào cũng nghiêm trang, thày Xán luôn luôn giữ một nụ cười hiền hòa, một giọng nói thẳng thắn, cởi mở và chân thành. Nụ cười đó, giọng nói đó, thày luôn luôn dùng để giao thiệp với cấp trên cũng như thuộc cấp và sinh viên học sinh của thày. Không bao giờ thay đổi.

Năm đó, Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Văn Tâm đến thăm trường. Dư luận đồng bào ngoài Bắc nói chung và Hà Nội nói riêng không ưa con cọp xám Cai Lậy. Cựu hoàng Bảo Đại trong cuốn hồi ký “Con rồng An Nam” cho rằng cử Nguyễn Văn Tâm làm Thủ Hiến Bắc Việt là vì ông Tâm có khả năng và vì ba kỳ đã thống nhất thật sự. Cử ông Tâm, một người gốc miền Nam ra điều khiển cơ quan hành chánh lớn nhất miền Bắc lúc bấy giờ, Cựu hoàng muốn tỏ rằng chế độ Nam Kỳ tự trị đã hoàn toàn cáo chung. Cựu hoàng có toàn quyền bổ nhiệm bất cứ người nào vào một chức vụ nào ở bất cứ nơi nào trên lãnh thổ. Thế nhưng dư luận vẫn không ưa ông Tâm. Người ta cho rằng ông Tâm thân Pháp, rằng ông chỉ biết nói tiếng Pháp, rằng ông và cả nhà ông đều có quốc tịch Pháp, rằng ông đã cai trị quá tàn nhẫn khi ông làm chủ quận Cai Lậy, Mỹ Tho. Biết dư luận không ưa mình, ông Tâm đi thăm viếng nhiều nơi để tiếp xúc với dân chúng hầu gây cảm tình tốt. Ông khai mạc các cuộc triển lãm tranh và thường mua vài bức cao giá để giúp các họa sĩ. Họa sĩ Nguyễn Văn Thịnh tức Thịnh Del, giáo sư hội họa trường trung học Nguyễn Trãi, trong lần tổ chức triển lãm tranh ở nhà Thủy tạ bên hồ Hoàn Kiếm đã dành cho tranh chân dung của Nguyễn Văn Tâm một kích thước quá lớn và trưng bày ở vị trí cao quý nhất. Bên dưới bức tranh đó, họa sĩ còn ghi rõ bằng tiếng Việt: Ngài Thủ Hiến Bắc Việt Nguyễn Văn Tâm và tiếng Pháp: Son Excellence Nguyễn Văn Tâm Gouverneur du Nord Viet Nam. Một giáo sư cùng dạy trường Nguyễn Trãi, sau khi đi xem một vòng đã chỉ vào bức tranh chân dung Nguyễn Văn Tâm mà nói với giáo sư Thịnh: “Trong số các bức tranh này của toa là đạt nhất.”

Ông Tâm còn thường mời các cụ Tú, cụ Cử đến tư dinh Thủ Hiến để nói chuyện và vịnh thơ văn. Ông làm thơ luật ký tên là Chính Đạo để tỏ cho mọi người biết rằng ông cũng sử dụng tiếng Việt rành rẽ chứ không phải chỉ biết tiếng Pháp. Nhân đó mà xảy ra giai thoại bức đại tự lưu hành trong dân gian.

Người ta kể rằng một ông Đồ một hôm đem tặng ngài Thủ Hiến một bức hoành phi trên đó có khắc bốn chữ: Đại điểm quần thần. Cụ Đồ giải thích: Ngài Thủ Hiến người bầy tôi quan trọng của Đức Quốc trưởng cũng giống như một điểm lớn trong đám quần thần của Cựu Hoàng, rất xứng đáng để được xưng tụng như bốn chữ trong bức đại tự. Nguyễn Văn Tâm khoái lắm, thưởng cụ Đồ một món tiền và cho treo bức hoành phi lên. Ít lâu sau, có người mới giải thích cho ông Tâm rõ tác giả bốn chữ kia muốn chửi xỏ ngài Thủ hiến:

Đại điểm là chấm to, quần thần là bầy tôi. Nói lái lại chó Tâm bồi Tây!

Giai thoại trên có nhiều phần là không thật nhưng rất phổ biến. Người ta còn nói rằng ông bị Việt Minh chặt cụt một ngón tay. Có người lại bảo ông tự chặt ngón tay đó để thề sống còn với Việt Minh. Bàn tay thiếu ngón của ông Tâm, tôi đã thấy trong dịp ông viếng trường Chu Văn An.

Trước giờ ông đến trường, bốn năm chiếc xe Jeep chở công an võ trang cùng mình chia nhau đi trấn giữ những địa điểm quan trọng xung quanh trường và bốn góc sân. Học sinh chúng tôi được các thày giám thị bắt xếp hàng cho ngay ngắn trật tự để đón rước. Vẫn bộ đồ âu phục màu xám cố hữu, vẫn nụ cười hiền hòa và giọng nói rộn ràng thẳng thắn, thày Xán đã bắt tay chào mừng ông Thủ hiến Tâm. Khi bắt tay viên Thủ hiến, thày vẫn đứng thẳng như một cây tùng, mắt nhìn thẳng vào vị thượng khách. Dẫn vị thượng khách đi duyệt qua đám học sinh chúng tôi, thái độ thày vẫn đĩnh đạc tự nhiên. Thày dùng tiếng Việt trong khi vị thượng khách dùng tiếng Pháp. Lúc lên khuyên nhủ học sinh chúng tôi thì may quá, ông Tâm nói tiếng Việt. Bạn tôi, anh Đỗ Tiến Đạt thắc mắc:

“Lạ thật, giờ Pháp văn, thày nói tiếng Pháp và bắt mình nói tiếng Pháp suốt giờ mà sao thày lại dùng tiếng Việt để đàm thoại với ông Thủ hiến chỉ quen nói tiếng Pháp?”

Mai Dũng cười:

“Thì cụ nói tiếng Việt để nhắc ông Thủ hiến rằng mình là người Việt chứ đâu phải là người Pháp!”

Năm đệ tam đó, chúng tôi học môn Pháp văn với thày Xán. Mọi người chúng tôi được nhà trường cho mượn một lô sách Pháp văn khá đầy đủ. Chúng tôi chỉ phải mua cuốn văn phạm của Crouzet bìa nâu và cuốn Littérature expliquée của Des Granges bìa xanh. Chương trình học là văn chương cổ và cổ điển Pháp không lấy gì làm hứng thú lắm. Thày Xán dạy rất đúng phương pháp sư phạm và tận tâm. Đầu mỗi giờ học, thày biên lên bảng công việc phải làm trong giờ đó:

- Đọc bài nào, của ai, trang bao nhiêu.

- Học thuộc lòng đoạn nào của bài giảng.

- Sửa soạn bài nào cho tuần tới.

Và giao cho Trần Quang Liễn, người giữ sổ điểm công việc gọi học sinh lên trả bài học thuộc lòng bằng tiếng Pháp. Chúng tôi làm quen với Corneille, Racine, Ronsard … qua thày Xán. Khác với các giáo sư khác, số điểm cho học sinh thường rất thưa thớt, điểm Pháp văn của thày Xán bao giờ cũng đầy đủ nhất. Một tháng chúng tôi có tới bốn, năm điểm Pháp văn về học thuộc lòng, về giảng văn, về chính tả, về luận văn và dịch văn. Các giáo sư dạy bậc trung học nhất là trung học đệ nhị cấp thường rất “lười” cho điểm vì công việc này chiếm mất khá nhiều thì giờ. Thày Xán không như vậy, có lẽ vì thày, trước khi theo học trường Cao Đẳng Sư Phạm Đông Dương, đã tốt nghiệp Sư phạm bậc Tiểu học và đã dạy Tiểu học ở tỉnh Thái Bình một thời gian.

Cuối mỗi tháng, điểm bài học và bài làm được ghi vào Thông tín bạ và được đưa về cho phụ huynh kiểm nhận. Thày Xán với tư cách Hiệu trưởng đã phê bình và kiểm ký từng cuốn trước khi giao cho học sinh. Thày làm công việc này rất đều đặn và kỹ lưỡng từ tháng này qua tháng khác, từ năm này qua năm khác và từ Bắc vào Nam.

“Khá”, “Vẫn khá”, “Trung bình”, “Cần cố gắng về Toán”, “Còn kém, phải cố gắng hơn...” Biết bao những lời phê như vậy đã được thày ban phát cho học sinh không ngừng nghỉ, không biết mệt trong những năm thày làm hiệu trưởng trường Chu Văn An ở Hà Nội và Sài Gòn.

Suốt ba năm học ở trường Chu Văn An Hà Nội, tôi đều “bị” anh em giao cho công việc viết và đọc chúc từ ngày cuối năm. Thày Xán không bao giờ vắng mặt trong những dịp này ở bất cứ một lớp nào. Mà tiệc liên hoan tất niên của học sinh thì nào có gì là cao lương mỹ vị đâu: Một ít bánh kẹo, mứt, hạt dưa, nước ngọt, một vài câu đối, bức tranh vẽ vội trên bảng do một họa sĩ học sinh có hoa tay, đôi khi một vài tờ bích báo nữa. Nhưng với thế giới học đường, đó là đại yến, đó là cái đạo không thể thiếu được của trò đối với thầy. Thầy trò hể hả uống nước ngọt, ăn bánh, kẹo, cắn hạt dưa. Thầy Xán ngồi chính giữa một cái bàn dài kê đối diện với đám học sinh chúng tôi, quây quần xung quanh bởi các vị giáo sư khả kính khác. Sau khi đọc bài chúc từ, tôi tiến lên trao bài cho thầy. Thầy đứng lên nhận bài chúc từ, bắt tay tôi và ứng khẩu nói về việc học của lớp trong năm qua, khuyên nhủ chúng tôi và không bao giờ quên chúc chúng tôi và gia đình chúng tôi được mọi sự tốt lành trong năm tới. Những nhận xét của thày rất đúng đắn và chính xác chứng tỏ thầy có quan tâm và theo dõi rất kỹ.

Tốt nghiệp cao đẳng sư phạm xong, tôi may mắn được bổ nhiệm dạy tại trường Chu Văn An. Lúc này, thày Xán đã được bổ nhiệm làm Thanh Tra Trung Học. Thày phụ trách soạn đề thi cho bậc Trung Học Đệ Nhất cấp, Tú Tài I và Tú Tài II. Tôi nhớ một năm đề thi Pháp văn cho bằng Trung Học Đệ Nhất cấp bị dư luận than phiền là quá khó vì trích trong tập Informations et documents ra. Tôi có dịp lên nha Trung Học và thày có hỏi tôi về việc đó. Tôi thẳng thắn thưa là đề có khó thật vì trình độ Pháp văn của học sinh bây giờ khác hẳn với thời trước. Thày suy nghĩ và năm sau, tôi thấy năm sau đề thi Pháp văn có dễ hẳn đi.

Vào tháng chín năm 1959, tôi nhận được sự vụ lệnh cử làm thư ký hội đồng giám khảo kỳ thi Tú tài ở Huế. Thầy Xán làm Chánh chủ khảo cùng với cụ Đỗ Văn Trần, Hiệu Trưởng trường Mạc Đĩnh Chi (Phó Chủ Khảo), giáo sư Nguyễn Văn Kỷ Cương (Phó Chủ Khảo), Giáo sư Phan Huy Đương (Thư ký), giáo sư Nguyễn Đình Quỹ (Thư ký), giáo sư Đỗ Minh Tiết (Giám khảo). Ban chỉ huy hội đồng thi và các giám khảo từ Sài Gòn ra ăn ở ngay trong trường Quốc Học ngoại trừ anh Đỗ Minh Tiết và anh Nguyễn Văn Kỷ Cương. Anh Đỗ Minh Tiết lúc này sắp lập gia đình với chị Nguyễn Thị Tiết, Hiệu trưởng trường Đồng Khánh nên ăn ở bên ngoài cho tiện, còn anh Nguyễn Văn Kỷ Cương ra Huế chấm thi để nhân dịp thăm quê ngoại nên cũng không ở trong trường. Suốt trong ba tuần lễ này, tôi có dịp gần gũi thày Xán hơn. Chúng tôi từ cụ Đỗ Văn Trần trở xuống sau giờ làm việc của Hội đồng là ra phố thăm nơi này, nơi khác dưới sự hướng dẫn của giáo sư Đinh Quy cũng là một thành viên của hội đồng giám khảo, là người rất bặt thiệp, có đức độ khoan hòa, từ ái, đã để lại trong tâm tưởng tôi rất nhiều cảm tình và sự kính trọng, nay đã ra người thiên cổ. Lăng Tự Đức, lăng Khải Định, chùa Thiên Mụ, núi Ngự, sông Hương, cửa biển Thuận An, bãi biển Tiên Sa Đà Nẵng ... làm sao quên được. Thày Xán họa hoằn lắm mới đi chung với anh em. Những lúc anh em đi ra ngoài, thày nằm nhà đọc sách. Một bữa tôi tò mò để ý nhìm xem thày đọc sách gì thì thấy đó là cuốn Tam Quốc Chí diễn nghĩa loại rẻ tiền in ở Chợ Lớn. Tôi ngạc nhiên, tưởng thày dạy Pháp văn thì chuyên đọc sách Pháp văn chứ có ngờ đâu là thày lại thông thạo cả chữ Hán nữa.

Sau ngày về hưu, thày Xán chịu không nổi cuộc sống hưu trí buồn lạnh và tẻ nhạt, thày đứng làm hiệu trưởng cho một trường trung học tư thục: Trung học tư thục Trí Đức ở đường Cao Thắng, Sài Gòn. Lại đứng trên bục giảng với bảng đen, phấn trắng, học trò. Lại phê bình hàng tháng trên Thông tín bạ của học sinh. Lại quây quần với bạn bè đồng nghiệp, đồng sự cũ: Thầy Nguyễn Đình Phú, ông Tổng Giám Thị Nguyễn Hữu Lãng. Tuy rất bận rộn vào thời gian đó, tôi cũng có dành mấy tiếng đồng hồ để phụ trách một lớp Việt văn cho trường Trí Đức hầu “có dịp để anh em thỉnh thoảng gặp gỡ nhau,” ông Tổng Lãng nói với tôi như vậy. Sau này, thày Xán còn hướng dẫn anh em sinh viên trường Đại Học Sư Phạm đến các trường Trung học ở đô thành để thực tập nữa. Các anh Nguyễn Trung Quân, Nguyễn Thành Long, Phạm Quân Hồng mỗi khi nói đến thày Xán đều ca ngợi đức tính giản dị, tận tâm của thày.

Qua năm 1982, tôi được tin thày ở miền Đông Hoa Kỳ. Lúc này thày đã già lắm rồi. Tôi tự hứa biết bao lần là phải biên thư vấn an thày, nhưng cuộc sống như ma đuổi nơi quê người đã làm tôi không giữ trọn lời hứa với chính mình. Đến khi nhận được điện thoại của các anh Trần Huy Bích, Long Ân báo tin thày không còn nữa, tôi bàng hoàng ngơ ngẩn. Đành rằng cuộc sống của con người là có hạn, nhưng có những việc mình dự trù sẽ xảy ra đến khi thực sự xảy ra rồi, mình vẫn không tin là thật. Buổi lễ cầu hồn thày Xán ở trong quận Cam trong dịp lễ Tạ Ơn 1984, đã được rất đông người đến tham dự, chắc không phải chỉ để kỷ công một bực thầy đáng kính. Tôi nghĩ thày Xán có nhiều điểm vượt lên trên mức đó: Thày đã nối tiếp dòng mô phạm của Chu Văn An triều Trần, của Nguyễn Bỉnh Khiêm đời Mạc, của La Sơn Phu Tử đời Tây Sơn. Thày đã theo gương của nhà mô phạm nước Lỗ “dạy người không biết mỏi” và không bao giờ từ chối bất cứ việc làm nào trong sứ mạng trồng người.

GS Lưu Trung Khảo, CVA54


* * *

Thầy Việt của con

Lê Văn Tỉnh, CVA 65

(Hình trước 1954)

Hôm nay đọc được email của anh Dzũng tự nhiên con nhớ đến Thầy mà muốn khóc. Ngày tân niên của Hội Ái hữu cựu Học sinh Chu Văn An Bắc California tại Milpitas, anh Dzũng có hỏi con : “Tại sao có người gọi anh là Tịnh mà cũng có người gọi anh là Tỉnh, vậy tên thật của anh là Tịnh hay là Tỉnh”. Con có thưa với anh : Tên thật của con là Lê văn Tịnh, một đứa học trò nghịch ngợm, nhưng chưa bao giờ hỗn với thầy cô, đã bị đuổi khỏi trường từ năm đệ Ngũ. Sau đó con theo học trường Thăng Long gần ngã tư quốc tế Sài Gòn. Tại đây tính hư hỏng vẫn còn, con đã trở thành một tên du đãng chỉ huy trên 30 người. Nhờ đọc được cuốn Binh pháp Tôn Tử của anh con mang ra áp dụng và đã trấn áp được các băng du đãng tại nơi này, có lẽ trong đó có cả Năm Cam. Tuy là du đãng nhưng con vẫn chăm chỉ học vì khi bị đuổi khỏi trường công Bố con đã không đánh mà chỉ thở dài. Đậu Trung học hàng bình con xin lại và được nhận vào Chu Văn An. Bố con sợ con không được nhận vì trước đó đã bị đuổi nên đã sửa tên thành Lê Văn Tỉnh do vậy những người bạn cũ gọi con là Tịnh còn những người bạn mới thì gọi con là Tỉnh.

Là một học sinh ngỗ nghịch, một hôm con đá banh và đã làm vỡ một cái cửa kính của trường. Xui mà là hên vì hôm đó Thầy đứng gần đó. Thầy vẫy con lại. Thầy ơi, con điếng hồn đã bị đuổi một lần, lần này bị đuổi nữa thì không biết con sẽ phải ăn nói thế nào với Bố con, bạn bè con và rồi tương lai của con sẽ đi về đâu. Con sợ quá Thầy ạ. Nhưng khi con lại gần, Thầy chỉ chỉ vào kính vỡ và nói với con “Con ơi, con muốn chơi banh thì hãy ra xa mà chơi. Con thấy không? kính vỡ rồi, trường lại phải bỏ tiền ra sửa”, thế rồi Thầy bỏ đi. Nhưng Thầy ơi, hôm ấy tự nhiên con hiểu thế nào là giáo dục, thế nào là tình yêu của Thầy cho trò. Con đã trở nên một học sinh biết kính thầy, yêu bạn, yêu trường và nhờ Thầy còn đã nên người.

Sau này có khoảng thời gian đi dạy học, con theo gương Thầy, luôn luôn yêu quý, rộng lượng nâng đỡ học trò. Có lẽ câu nói nhẹ nhàng của Thầy đã làm thay đổi đời con, thay đổi đời các học trò của con và biết đâu đã thay đổi đời của những người bạn đáng quý của con.

Thưa Thầy, năm ngoái nhân họp thường niên của Hội Ái hữu cựu Học sinh Chu Văn An các bạn đề cử con ra làm hội trưởng vì anh San đã phục vụ hội trên 20 năm, nay đã già yếu, anh Lâm rất bận tổ chức những chương trình về văn hóa Việt Nam trên đài truyền hình để phục vụ đại chúng nên mọi người có đề cử con ra làm hội trưởng để tổ chức Hội ngộ Chu Văn An Toàn cầu 2017. Con ngại quá vì chung quanh con toàn là những người tài đức, đã để lại biết bao công trình cho đất nước mà con thì trẻ tuổi hơn và lại chỉ là người thợ sửa ống nước làm sao con gánh vác được. Nhưng nghĩ tới Thầy, tới trường, tới các bạn, hơn nữa con đã về hưu, mỗi ngày chỉ làm việc 3 hay 4 tiếng nên con đã nhận lời. Sau khi tiếp xúc với những đồng môn mà con tưởng con không đáng là học trò của họ thì lại chính là những người đã truyền kinh nghiệm và khuyến khích con làm con cảm động vô cùng, bây giờ con lại hiểu thêm thế nào là tình đồng môn. Con sẽ rán tổ chức kỳ hội ngộ này để xứng đáng là học trò của Thầy và lòng tin tưởng của các bạn.

Các đồng môn niên trưởng, các bạn, các em, hãy tới tham dự, phải tới gặp nhau để gặp lại những người bạn năm xưa, để rồi biết đâu chẳng bao giờ gặp lại nữa, hãy tới để mày mày tao tao, để ôn lại những kỷ niệm cũ, biết đâu Thầy ở trên trời nhìn xuống thấy là học trò của mình thân thiết Thầy cười và tự nhủ chúng xứng đáng là học trò của mình. Con là dân kỹ thuật nên không biết kết luận bài này như thế nào chỉ vì cảm xúc mà viết, xin tất cả mọi người, mọi đồng môn thương mà châm chước cho.


Lê Văn Tỉnh, CVA65

* * *

THẦY VŨ KHẮC KHOAN,

Cựu Học Sinh Bưởi,

Chiến Sĩ Cách Mạng Duy Dân

 

Trần Lam Giang, CVA59

 

Đảng cách mạng Đại Việt Duy Dân, trong giai đoạn lịch sử cận đại, đã đóng góp cho dân tộc Việt một công trinh to tát bằng máu xương và tim óc.

Trong hiện tại và tương lai, lý tưởng đảng được thực hiện phần nào, trách nhiệm đặt trên vai những đảng viên ý thức, tin yêu triết lý đạo đức chính trị Duy Dân.

Người viết bài biên khảo này, không phải là đảng viên Duy Dân đảng, chỉ mong đóng góp chút ít dữ kiện lịch sử đang bị nhạt mờ dần, như đang chìm vào huyền thoại. Một đảng cách mạng vì nước vì dân bị huyền thoại huyễn hoặc che phủ khuất lấp, là một điều đau xót.

Nhân thân Thư Ký Trưởng, đảng Đại Việt Duy Dân.

Cho đến nay, chưa có một tài liệu in ấn, nói đầy đủ và minh bạch về nhân thân ông. Bên những lời kể lại đơn sơ thiếu sót, là những huyền thoại không thoả mãn óc cầu tri, nếu không muốn nói là khiêu khích trí phán đoán!

Được biết thầy cũ tôi, giáo sư Vũ Khắc Khoan là đảng viên nồng cốt của Duy Dân, bạn thiết của ông là lý thuyết gia Nghiêm Xuân Hồng, người có liên hệ gắn bó với Thư Ký Trưởng Lý Đông A, tôi đã trực tiếp hỏi hai vị về nhân thân ông.

Khi tôi hỏi :

-    Vì cơ duyên nào thầy gia nhập Duy Dân, thưa thầy ?

Thầy tôi trả lời như căn vặn :

-    Cơ duyên ? Cơ duyên vong quốc !

Rồi ông cười ngậm miệng :

-    Quen thói dạy sử ! Buổi ấy… À không, buổi nào thì hồn sử cũng sống trong lòng người. Phải không ?

-    Dạ.

-    Trong thời vong quốc, tôi tự biết không phải là người có thể lập một đảng cách mạng, chỉ có thể dấn thân theo một đảng cách mạng. Do bằng hữu, tôi được biết Duy Dân. Tên đảng mới lạ, nhưng hai tiếng Duy Dân kích thích tôi lắm. Bằng hữu dẫn tôi đến dự một buổi nói chuyện của ông Lý ở Hà Nam. Mọi người ngồi chờ, một lúc khá lâu thì thấy một thiếu niên khoảng 15, 16 tuổi, mặt trái xoan, da trắng xanh, vẻ hiền lành ngoan ngoãn, mặc áo dài trắng thong thả đi vào. Tôi ngạc nhiên vì thấy mọi người tỏ vẻ kính cẩn nghiêm trang. Người thiếu niên ấy đi thẳng đến bàn chủ toạ, chào hỏi với tư cách đảng trưởng, rồi giảng thuyết. Thực ra lúc đó ông đã ngoài 20. Tôi nghe giọng ông nói ấm cúng như giọng thân phụ tôi, vừa gần gũi, vừa che chở. Lời ông giảng, như vị thầy soi sáng tâm thức tôi. Ngay từ buổi ấy tôi theo ông.

Tác giả Thành Cát Tư Hãn trầm ngâm nhả khói thuốc, nói tiếp :

-    Có lần trên thuyền vượt sông Đà, tôi đã ngâm bài Chính Khí Việt (thơ Lý Đông A) cho ông và một số anh em tôi nghe. Thơ ông gieo vần khúc mắc nhưng cảm động … Anh em tôi trên con thuyền ấy, nay đã nên người thiên cổ !

Tôi châm thuốc, đợi nét buồn của vị thầy cũ qua đi, hỏi tiếp :

-    Con muốn được biết thêm chi tiết về nhân thân ông Lý.

Thầy tôi trố mắt :

-    Cái anh này ! Tôi coi ông ấy như bố, như thầy ! Tôi theo ông ấy. Nói như vậy, chưa đầy đủ về ông ấy hay sao ?

Rồi thầy tôi cười :

-    Giang muốn biết về lý lịch tiểu sử ông Lý phải không ? Ông sư Tịnh Liên biết tõ hơn tôi. Cứ “phỏng vấn” ông ấy. (Giáo sư Vũ Khắc Khoan thường thân mật gọi lý thuyết gia Nghiêm Xuân Hồng là “ông sư Tịnh Liên”, lý thuyết gia gọi giáo sư là “Khoan tôi”.)

-    Dạ, chắc cụ Hồng gia nhập Duy Dân cùng với thầy ?

Lý thuyết gia Nghiêm Xuân Hồng vui vẻ đỡ lời :

-    Không ! Tôi không bao giờ là đảng viên Duy Dân. Tôi với Lý Đông A tức Nguyễn Hữu Thanh là bạn thân từ tuổi ấu thơ. Chúng tôi học cùng lớp, ngồi cùng bàn suốt 6 năm bậc tiểu học. Lớn lên, bạn tôi lập đảng, tôi đến giúp bạn, chứ không phải đảng viên của “luý” như các ông này (lý thuyết gia vừa nói vừa chỉ vào giáo sư Vũ.)

“Luý” cực thông minh. Đời này tôi chưa gặp được ai thông minh như “luý”. Thuở bé học với nhau, tôi ra sức chăm chỉ vẫn không bao giờ theo kịp, trong khi “luý” chỉ chăm đọc sách của người lớn mà luôn luôn đứng đầu lớp. Con người này lạ lùng ! Học giỏi như vậy mà chỉ học xong bậc tiểu học là thôi, không cắp sách đến trường nữa. Bỏ làng lên Hà Nội. Mới tí tuồi đầu đã giao tiếp với sinh viên cao đẳng, nhờ mượn sách thư viện về đọc. Đọc thông cả các tài liệu của trường Viễn Đông Bác Cổ. Có dạo còn lên chùa Yên Tử đọc sách, tu thiền mấy năm, rồi qua Liễu Châu bên Tàu, tuyên thệ vào Việt Nam Quốc Dân Đảng. Khi qua Liễu Châu, giấy tờ tuỳ thân của “luý” chỉ có bức hình cụ Phan Bội Châu, sau hình có bút tự của cụ, viết 4 chữ “Cứu Quốc Tồn Chủng.” Nhận ra bút tự cụ Phan, cụ Nguyễn Hải Thần rất tin yêu “luý”, nhận làm nghĩa tử, trao cho tất cả những gì cụ Phan viết về triết lý đạo đức chính trị khi còn ở bên Tàu. “Luý” thường đêm đêm lên tháp chùa ở Liễu Châu chong đèn đọc sách cụ Phan, nên được đặt hỗn danh là ông Ngọc Thỏ. Khi ông Trần Trung Lập tiến quân về đánh Lạng Sơn, “luý” cũng cùng về, bí danh là Hoàng Lương. Nhật tráo trở, ông Trần Trung Lập thất trận, bị Pháp hành quyết. Hoàng Lương tức Nguyễn Hữu Thanh Lý Đông A dẫn các đồng chí sống sót rút qua Tàu. Khi cụ Nguyễn Hải Thần dẫn quân về nước, “luý” đã là Thư Ký Trưởng, tức đảng trưởng đảng Duy Dân, vẫn gánh vác trách nhiệm và bổn phận của một trong 20 uỷ viên trung ương Việt Nam Quốc Dân Đảng, ông Nhượng Tống là uỷ viên bí thư. Xem thế, Việt Quốc, Việt Cách, Duy Dân, tuy danh xưng có khác nhưng tựu trung vẫn là một.

Trong khi lý thuyết gia Nghiêm Xuân Hồng nói, tôi lắng nghe và ghi chép. Ông ngừng lại uống nước trà. Tôi chờ đợi. Ông hiều ý, mỉm cười :

-    Quên chưa nói với anh về lý lịch Lý Đông A Nguyễn Hữu Thanh. “Luý” người xã Yên Tập, tổng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, sinh năm 1920, ngày tháng tôi không nhớ, con trai cụ Nguyễn Chi Phương. Cụ có hiệu là Phượng Tường. Như vậy cũng tạm đủ rồi. Còn về Việt Quốc, Việt Cách, Việt Minh, tài liệu chắc anh cũng đầy đủ. Mà không đầy đủ thì tìm kiếm lấy nhé ! Thiếu gì, phải không ?

-    Dạ.

Ông nheo mắt :

-    Anh định viết về các đảng phái cách mạng chắc ? Sao ghi chép cẩn thận vậy ?

-    Dạ, bây giờ thì cháu chưa có ý định ấy. Mai này thì chưa biết.

Trên đây là tài liệu sống, có giá trị xác thực về nhân thân lãnh tụ Lý Đông A.

Viết đến đây, tôi có liên lạc với giáo sư Đinh Khang Hoạt qua điện thoại để bổ túc. Giáo sư Đinh Khang Hoạt, trước 1975 dạy ban Cao Đẳng Sư Phạm Nông Lâm Súc, sau 1975 dạy ở Đại Học Cộng Đồng Portland. Ông là nhà biên khảo, chiến sĩ cách mạng, đảng viên trung kiên của Đại Việt Duy Dân. Giáo sư Hoạt cho biết lãnh tụ Lý Đông A đã cùng 5 đồng chí dựng đảng : Tư Long Nguyễn Duy Mỹ, Thái Kim, Việt Bằng, Hoài Nam, Đỗ Khuê. Cả 5 vị đã hoà xương máu vào đất mẹ. Khi mới lập đảng, lãnh tụ Lý Đông A có bí danh là Thuần.

Sự vắng mặt của Lý Đông A và vụ giết hụt Nghiêm Xuân Hồng.

Hiệp Định Sơ Bộ Pháp Việt, ngày 6 tháng 3 năm 1946 được ký thuận với các thành phần sau :

-    Đại diện cho chính phủ Cộng Hoà Pháp là Sainteny.

-    Đại diện cho chính phủ Việt Nam là Hồ CHí Minh.

-    Đại diện đặc biệt của hội đồng bộ trưởng Việt Nam là Vũ Hồng Khanh.

Kèm theo là Hiệp Uớc Phụ Thuộc của Hiệp Định Sơ Bộ Pháp Việt, được ký giữa Sainteny, Salan, Võ Nguyên Giáp ngày 6 tháng 3 năm 1946.

Trong phạm vi bài viết tôi không phân tích kỹ càng chi tiết nội dung của Hiệp Định và Hiệp Ước Phụ Thuộc trên. Đại để, đó chỉ là một thứ giao kèo giữa thực dân Pháp và cộng sản Việt Nam. Cụ Nguyễn Hải Thần tố giác cùng quốc dân là Việt Minh phản quốc, đón thực dân Pháp trở lại nước ta. Nhưng không ngăn chặn được thế lực liên kết giữa bạo lực xâm lược của Pháp và Việt Minh, cụ rút quân qua Tàu. Chưa đầy một tuần lễ sau khi ký Hiệp Định Sơ Bộ, ông Vũ Hồng Khanh kín đáo thu chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng, rút lên chiến khu Việt Trì, vừa đánh vừa lui qua Tàu. Ông đã bảo toàn được rất đông đồng chí của ông.

Sau Hiệp Định Sơ Bộ và Hiệp Ước Phụ Thuộc, Việt Minh cấu kết với bạo lực xâm lược của thực dân, dồn các đảng phái cách mạng Việt Nam vào thế yếu. Lợi dụng thời cơ, cộng sản Việt Nam dưới hình thức Việt Minh đã sát hại nhiều nhà ái quốc chân chính như Lê Ninh, Huỳnh Phú Sổ, Phạm Tất Thắng, Trương Tử Anh, Khái Hưng, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Công Đàm, Nguyễn Tắc Chung, Nguyễn Quỳnh v..v… Lãnh tụ Lý Đông A rút lực lượng Duy Dân vào chiến khu Nga Mi ở Thanh Hoá.

Ngày 2 tháng 9 năm 1946, Việt Minh được thực dân Pháp tiếp tế vũ khí, vây đánh tan vỡ chiến khu Nga Mi.

Tại nhà chị Gấm, ái nữ của thầy Khoan tôi, ở San Jose, lý thuyết gia Nghiêm Xuân Hồng có kể cho tôi nghe như sau :

-    Nga Mi tan vỡ ! Cánh các ông này (giáo sư Vũ Khắc Khoan) biết tôi thân thiết với ông Lý từ thuở ấu thơ lại gần gũi khi khôn lớn, nhờ tôi đến nhận xét một xác, xem có phải là Thư Ký Trưởng của các ông không ? Tôi xem xét kỹ, đúng là xác anh Nguyễn Hữu Thanh, bạn tôi. Tôi lầm thế nào được ! Các ông ấy hốt hoảng thu nhặt tài liệu đem dấu hết vào nhà ông Mai Liệu (hiện ở San Jose). Dĩ nhiên mất mát khá nhiều. Ba tháng sau, một chiều tôi đang ngồi xe tay ở Ngọc Hà, cánh các ông này (giáo sư Vũ Khắc Khoan) dùng súng sáu bắn tôi. Các ông bắn tệ quá! Tôi nhảy xuống xe chạy thoát. Sau mới vỡ lẽ : mấy ông ấy định giết tôi vì tội Lý Đông A còn sống mà tôi xác nhận là đã chết !

Tôi hỏi lý thuyết gia :

-    Thưa ý cụ thế nào ?

Ông thành khẩn đáp :

-    Còn thế nào được nữa ! Ôm xác bạn trong tay, sao tôi lại có thể lầm ?

Tôi nhìn giáo sư Vũ. Thầy tôi gật đầu :

-    Ông sư Tịnh Liên không thể lầm !

Nơi chiến khu Nga Mi ông có làm bài thơ Đồi Nga Mi như sau :

Đồi Nga Mi

Đồi Nga Mi, mối hận chĩu bề bề.

Đồi Nga Mi, tin ngục bỗng Đông về.

Đồi Nga Mi, vàng thau đã thử thách.

Đồi Nga Mi, làm trọn Duy Dân thề.

Hỡi tráng sĩ Duy Dân đầy khổ ải,

Hãy trau giồi thể hiện những đau thương.

Đông thê thê tuốt gươm mài khẳng khái,

Hận du du đúc ngọc trí phong sương.

Lịch sử Việt đã đến giờ quyết liệt.

Hãy kín trong trì định đáy muôn xưa :

Những năng tử thấm tàng muôn cảnh tiết,

Để đợi giờ tối hậu đột giông mưa.

Đồi Nga Mi, sẽ trút hận bề bề.

Đồi Nga Mi, tin ngục sẽ Xuân về.

Đồi Nga Mi, vàng thau còn thử thách.

Đồi Nga Mi, làm trọn Duy Dân thế.

Đọc bài thơ trên, tôi cảm như đang nghe lời giáo sư Vũ Khắc Khoan : “Ông sư Tịnh Liên không thể lầm!”

Tháng 2 năm 1948, đảng cách mạng Duy Dân quyết chiến cùng bọn quốc tặc Việt Minh ở Hòa Bình. Sau trận này Duy Dân đảng chỉ còn đóng góp với lịch sử bằng văn hóa và triết lý chính trị nhân bản. Cũng từ sau trận này, nhiều huyền thoại về lãnh tụ Lý Đông A được đưa ra bằng truyền khẩu, không viết thành văn. Tại sao không viết thành văn ? Lý do đơn giản : những huyền thoại ấy đều hoang đường nghịch lý !!

Những pho tư tưởng Duy Dân.

Toàn pho tư tưởng Duy Dân, do một mình Thư Ký Trưởng Lý Đông A vắt tim óc viết thành, chia làm 4 bộ :

Bộ Huấn

Bộ Nhã

Bộ Thông

Bộ Mô

Sau trận Nga Mi do Thư Ký Trưởng trực tiếp chỉ huy và hiến dâng thân thế cho tổ quốc, cả 4 bộ đều không còn trọn vẹn.

Trước quốc nạn 1975, nhà xuất bản Gió Đáy, 252 đường Nguyễn Tiểu La, Chợ Lớn, do ông Hoàng Lãng Tiến làm giám đốc có in các tập : Huyết Hoa, Chu Tri Lục, Duy Nhân Cương Thường, Thiết Giáo (Duy Nhân Cương Thường tập hạ), Đạo Trường Ngâm, Tuyên Ngôn, Kiến Quốc Nghiệp Vụ, Chìa Khóa Thắng Nghĩa, Duy Dân Tinh Chỉ.

Tập Cơ Năng Hiến Pháp có được ấn hành hạn chế. Tập Tổ Đảng không in : sách này viết về cách tổ chức đảng, đối nội, đối ngoại, phòng gian bảo mật. Do đó được giữ bí mật, chỉ lưu hành kín đáo nơi cán bộ chỉ huy cấp cao.

Tư tưởng Lý Đông A mênh mang uyên áo, lấy người làm nền tảng, lấy hạnh phúc đích thực của nhân sinh làm cứu cánh, lấy tổ quốc làm căn nhà chung của dân tộc. Để bảo vệ tổ quốc, để giữ cho nòi giống được sống còn (cứu quốc tồn chủng – Phan Bội Châu) Lý Đông A đã viết về mọi lãnh vực : lịch sử, văn hóa, kinh tế, chính trị, ngoại giao, binh bị, chiến lược, chiến thuật, đạo đức, triết học… đồng thời, là nghệ sĩ đa tài, tâm hồn cao đẹp, ông làm thơ, viết văn. Đọc tác phẩm của ông thấy ẩn hiện tư tưởng cụ Phan Bội Châu, tinh thần ông Nguyễn Thái Học. Trong pho Chu Tri Lục (thuộc bộ Huấn), ông đã viết : “Phan Sào Nam là chốt khóa nối liền lịch sử từ 1865 tới 1940 của nước Việt, mà địa vị danh dự làm tối cao lãnh tụ của cách mạng Việt rất xứng đáng.”

Nơi Đạo Trường Ngâm, tập thơ thuộc về bộ Thông, ông cảm khái, cung kính nhắc đến việc làm của ông Nguyễn Thái Học, gắn liền với cụ Phan Bội Châu :

“Thẹn đất nước dưới gót giày uế xú

Người Lâm Thao, Bến Ngự luống tâm cơ”

“Phan Sào Nam khi viết pho Vong Quốc

Còn là hồn Đại Việt đến vô cương”

Khi dựng Việt Nam Quốc Dân Đảng, anh hùng Nguyễn Thái Học cùng các đồng chí quyết sát máu với kẻ thù của dân tộc, xác định minh bạch với nhau rằng : “Cờ độc lập phải nhuộm bằng máu, hoa tự do phải nở bằng máu”

Anh hùng Lý Đông A khi viết tập Huyết Hoa, thuộc bộ Nhã, cũng cùng một ý, cùng một chí. Với bài Thi Nhiệt, ông nói minh bạch cõi lòng quyết theo đường cách mạng sắt máu với kẻ thù của người đi trước.

Thi Nhiệt

Ta đã về đứng bên bờ Pắc Nậm

Mặc heo may quấn quít hồn cố hương

Thấm hàng cây lấp ló mấy khung tường

Hòa làn khói mơ màng bao nhớ ước.

Cách dòng nước ta là người mất nước.

Nước non ta, ai ngăn trở ta về ?

Thấy người quê, không được tỏ tình quê !

Rõ trước mặt, mà tìm đâu cho thấy ?

Hảy hét lớn, hai bàn tay nắm lấy.

Hãy khua tan quân địch của Rồng Tiên.

Hãy làm cho giống Việt được đoàn viên,

Quê nước ở trong đáy dòng sống máu !

Quê nước ở trong đáy dòng sống máu !

Trần Lam Giang, CVA59

* * *

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương

Sài Gòn rong chơi ký

Đoàn Thạch Hãn

LTS: Thi sĩ Vũ Hoàng Chương là giáo sư Việt Văn trường trung học Chu Văn An và một số trường tư tại Saigon. Sau 30/4/75 sở dĩ ông bị Việt Cộng bắt vì ông là người có khí phách, không những không a dua theo thời cuộc, trái lại ông còn công khai chê thơ Tố Hữu là không thực, là gian dối khi ông đọc mấy câu thơ của Tố Hữu như:

“Thương cha, thương mẹ, thương chồng

Thương mình thương một, thương ông thương mười“[1]

hoặc:

“Yêu biết mấy nghe con tập nói

Tiếng đầu lòng con gọi Stalin “[2].

            Trên phương diện học thuật, không ai có thể phủ nhận Vũ Hoàng Chương là một trong những cây đại thụ của thi ca Việt Nam cận đại. Theo nhận định của nhiều nhà phê bình văn học thuộc nhiều thế hệ, so với các nhà thơ đồng thời, thơ Vũ Hoàng Chương có những nét riêng trau chuốt từng câu, từng chữ, giàu nhạc điệu, nhẹ nhàng, sâu lắng, lãng mạn và sang trọng.

Ông sinh ngày 5/5/1916 tại làng Phù Ửng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, Nam Định (nay thuộc về Hưng Yên). Vũ Hoàng Chương đỗ tú tài Pháp năm 1937. Sau đó, theo học Trường Luật rồi cử nhân toán tại Hà Nội, nhưng tất cả cũng chỉ được một vài năm rồi bỏ, để theo nghề dạy học và làm thơ cho đến cuối đời.

Năm 1954, ông di cư vào Nam, tiếp tục dạy văn ở một số trường trung học và trường Đại học Văn khoa Sài Gòn. Vũ Hoàng Chương mất ngày 6/9/1976, khi vừa tròn tuổi 60. Tôi là một người may mắn, khi có một thời gian được tiếp xúc và gặp gỡ thi sĩ Vũ Hoàng Chương dường như mỗi ngày. Đó là vào khoảng cuối năm 1973, đầu năm 1974, khi vợ chồng ông đang tá túc tại nhà nữ sĩ Mộng Tuyết, trong một căn phòng được ông gọi là “gác mây”, nằm cuối đường Nguyễn Minh Chiếu (nay là Nguyễn Trọng Tuyển, quận Phú Nhuận). Lúc bấy giờ, tôi đang giữ trang thơ của nhật báo Sóng Thần. Một buổi sáng, vừa bước vào tòa soạn ở số 133 Võ Tánh (nay là Nguyễn Trãi), đã thấy nhà văn Chu Tử (chủ bút) đang ngồi uống trà với Ngọc Thứ Lang (người dịch cuốn Bố Già) và nhà thơ Hoàng Trúc Ly. Bỗng dưng có ai đó nhắc đến thi sĩ Vũ Hoàng Chương và nói ông đang bệnh nặng. Thế là Ngọc Thứ Lang buột miệng: “Tội nghiệp, Vũ Hoàng Chương nghèo kiết xác, nên thiếu “thóc” (thuốc phiện) là ngã bệnh, nếu được hút đủ đô là khỏe ngay”. Điều này có lẽ không sai, bởi hơn ai hết, Ngọc Thứ Lang cũng là một con nghiện rất nặng và thỉnh thoảng vẫn ghé lại “gác mây” thù tạc với Vũ Hoàng Chương. Không hỏi thêm một câu nào, ông Chu Tử quay sang ra lệnh cho tôi, xuống ban Trị sự, lấy tiền mua vài lạng thuốc phiện đem biếu cho thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Nghe thế, tôi rất vui khi biết mình sắp được gặp gỡ nhà thơ lớn mà mình ái mộ từ lâu, nhưng chỉ nghe danh chứ chưa được diện kiến lần nào.

Có tiền, tôi nhờ anh Ngọc Thứ Lang đưa qua con hẻm đối diện tòa soạn, nơi có hai động hút dường như bán công khai, mua hai lạng thuốc phiện loại hảo hạng rồi đi ngay. Dọc đường, tôi cứ phân vân không biết phải xưng hô với thi sĩ Vũ Hoàng Chương như thế nào cho phải phép. Cuối cùng, tôi quyết định sẽ gọi ông bằng thầy và xưng em là ổn nhất.

Không có gì khó khăn để tôi tìm ra nhà nữ sĩ Mộng Tuyết. Gọi là “gác mây”, cái tên nghe rất thơ mộng, nhưng thật ra, đó là một căn phòng nhỏ, chỉ hơn 20 thước vuông, không có lấy một thứ đồ đạc nào đáng giá. Trên một chiếc đi văng bằng gỗ, được trải mấy tấm chiếu hoa, Vũ Hoàng Chương ngồi tựa lưng vào vách, gầy gò và mệt mỏi. Trên khuôn mặt xanh xao là một cặp kiếng trắng dày cộm. Trước mặt ông là một tờ báo và một chiếc kính lúp, mỗi khi đọc, ông phải soi từng dòng. Ngồi trên chiếc ghế kê sát cửa ra vào là bà Thục Oanh, vợ của ông, một người đàn bà với vẻ bên ngoài rất bình thường, nhưng lại có đời sống rất phi thường. Bởi lẽ, bà còn là chị ruột của thi sĩ Đinh Hùng. Suốt đời người đàn bà này là chỗ dựa của hai nhà thơ lớn mà ngoài tánh khí thất thường ra, cả hai còn là những con nghiện á phiện rất nặng từ khi còn rất trẻ, nhưng chẳng bao giờ làm ra được nhiều tiền. Vì thế, mà bà Thục Oanh âm thầm chịu đựng cảnh túng thiếu, cắn răng lo cho hai nhà thơ lớn của Việt Nam mà chẳng hề ta thán.

Thấy tôi xuất hiện, bà Thục Oanh đứng dậy chào khách và hỏi tôi muốn tìm ai? Tôi nói ngay: “Ông Chu Tử nhờ em đem biếu cho thầy ít quà”. Tôi trở nên hụt hẫng khi nghe Vũ Hoàng Chương nói, cho dù giọng ông chậm rãi và nhỏ nhẹ: “Chu Tử là ai? Hình như tôi không quen người này, nhưng tại sao lại biếu quà cho tôi, mà quà gì thế?”.

Khi nghe tôi nói tới thuốc phiện, nét mặt ông rạng rỡ hẳn lên. Tôi ngồi xuống mép đi văng, đặt hai lạng thuốc phiện lên tờ báo cũ mà ông đang đọc dở. Như bị ma lực của nó thu hút, ông cầm lên, mở ra, vẻ thích thú của một tay sành điệu: “Thuốc Thượng Lào, sản phẩm hảo hạng đây”. Thế là câu chuyện giữa tôi và thi sĩ Vũ Hoàng Chương trở nên thân mật hơn. Ông nói, mỗi ngày ông vẫn có thú vui đọc báo, nhưng chỉ đọc được một tờ, bởi không có đủ báo. Tôi hứa, mỗi ngày sẽ mang đến cho ông đủ các loại nhật báo phát hành trong ngày. Để cho ông yên lòng, tôi nói, mỗi ngày tôi thường đi ngang qua đây, nên rất thuận đường. Nói thế là vì tôi mong được kết thân với ông, chứ chẳng có viếc gì phải cần đến khu vực này cả. Ông nhận lời một cách vui vẻ, và từ đó, chiều nào tôi cũng mang báo đến cho ông, rồi ngồi chuyện trò với nhau đủ mọi thứ chuyện trên đời, rồi thành thân thiết.

Vài tuần sau, một lần Vũ Hoàng Chương bất chợt nhắc đến sức khỏe nhà văn Chu Tử. Nhân đó, tôi hỏi, dường như ông và Chu Tử cũng quen nhau, nhưng giữa hai người có điều gì đó lấn cấn? Ông thú thật là có quen biết. Nhưng do mâu thuẫn gì đó với Chu Tử, nên thôi. Còn như Chu Tử có xúc phạm Vũ Hoàng Chương hay không, cũng chẳng ai biết hư thực ra sao, bởi đó cũng chỉ là thị phi của người đời. Có những buổi chiều khi tôi đến thì bà Thục Oanh vắng nhà. Tôi tự pha trà và ngồi đối ẩm với thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Tôi hỏi ông về chuyện tình yêu và những bài thơ đau tình bất hủ của ông. Nét mặt ông trở nên buồn vời vợi, nói như nói với chính mình: “Năm tôi 25 tuổi thì Tố Uyển đi lấy chồng, tôi đã như điên, như cuồng. Người ta biết nhiều đến chuyện tình ly cách và những bài thơ tôi làm cho Tố Uyển giai đoạn này, đặc biệt là hai câu mà nhiều người thuộc:

Tình ta, ta tiếc cùng ta khóc –

Tố của Hoàng, nay Tố của ai…

Ông nói tiếp: Thật ra còn có một người phụ nữ nữa, cũng làm cho tim tôi và thơ tôi rỉ máu, nhưng ít được người ta nhắc tới hơn:

Kiều Thu hề! Tố em ơi

Ta đang lửa đốt tơi bời mái tây…

Tôi hỏi: “Thế còn cô Thục Oanh?”. Ông nói: “Đó là một người bạn đời, người chia ngọt sẻ bùi, tuy không phải là người tình nhưng còn hơn cả người tình”.

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương thường nói với tôi là ông không có bạn. Nhưng theo tôi nhìn thấy thì ông sống rất tình nghĩa. Có lần ông hỏi tôi có thường gặp Ngọc Thứ Lang không? Tôi nói rất thường gặp. Sáng nào cũng thấy anh ngồi ở quá cà phê trước tòa soạn báo Sóng Thần. Dạo này trông anh rất yếu và hay đau ốm. Thế là chẳng nói, chẳng rằng, ông lấy trên đầu nằm ra một cục thuốc phiện, cắt làm đôi, gói cẩn thận bằng một mảnh giấy kiếng màu cam, rồi trao cho tôi, dặn dò: “Đưa cho Ngọc Thứ Lang và đừng nói gì cả”.

Một buổi chiều khác, tôi gặp Lê Cung Bắc (nay là đạo diễn - NSƯT Lê Cung Bắc) tại tòa soạn, và rủ anh ghé Vũ Hoàng Chương chơi. Lê Cung Bắc nhận lời ngay, bởi anh cũng là người yêu thơ và rất ái mộ thơ Vũ Hoàng Chương. Đó là một buổi gặp gỡ hết sức thú vị.

Trước khi theo tây học, Vũ Hoàng Chương từng học chữ Nho nhiều năm, thuộc loại uyên bác. Còn Lê Cung Bắc lại xuất thân trong một gia đình khoa bảng, mấy đời ông cha liên tục đỗ đầu các đại khoa dưới triều Nguyễn. Do đó, anh cũng rất tinh thông Tứ Thư, Ngũ Kinh … từ hồi còn rất trẻ. Đặc biệt, Lê Cung Bắc thuộc làu rất nhiều bài Đường thi, và cả những bài từ, bài phú. Thế là một già, một trẻ, hết đọc rồi bình thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, đến Bạch Cư Dị, Thôi Hiệu… say sưa cho đến sẩm tối.

Bút tích của thi sĩ Vũ Hoàng Chương

Vũ Hoàng Chương nói, ông tuy đã già nhưng tâm hồn còn rất trẻ, nên rất thích chuyện trò với những người bạn trẻ có được kiến thức như Bắc. Ông dặn tôi, thỉnh thoảng nhớ rủ Lê Cung Bắc đến thăm ông, để chuyện trò cho đỡ buồn. Khi chia tay, ông rời đi văng bước ra cửa tiễn chúng tôi bằng những bước đi không vững, để bày tỏ lòng mến khách. Ông nói: “Lâu lắm không bước ra đường, chẳng biết phố xá dạo này ra sao?”. Lê Cung Bắc trả lời: “Phố xá thì vẫn thế. Có điều, càng ngày các cuộc xuống đường của những lực lựơng tranh đấu càng nhiều hơn. Ngựa sắt, hàng rào kẽm gai và khẩu hiệu, biểu ngữ xuất hiện khắp nơi”. Ông lại hỏi: “Người ta viết gì trên đó?”. Tôi đáp: “Thì đại loại chế độ của Tổng thống Thiệu muôn năm, hoan hô cái này, đả đảo cái kia”. Lập tức thi sĩ Vũ Hoàng Chương ứng khẩu, đọc liền hai câu:

Thế mà cứ chúc muôn năm mãi

Nó sống lâu thì nước chết non.

Ra đầu đường, Lê Cung Bắc nói với tôi, quả thật, nếu cứ nhìn vào cái thân xác gầy còm, yếu ớt đó, không ai ngờ tiềm ẩn trong tim là ngữ khí ngất trời. Điều làm tôi cảm động nhất, là vào một buổi chiều cuối năm 1974, khi tôi đến với ông như thường lệ đã thấy trước mặt ông là một tập sách mỏng. Ông cầm lên đưa cho tôi và nói: “Đây là quà của tôi biếu anh, một trong những người rất hiếm hoi mà tôi quý mến”. Tôi lật ra, cứ tưởng như mơ. Đó là một tập thơ của Vũ Hoàng Chương, do chính ông viết bằng đầu tăm, chấm mực tàu viết lên giấy bổi. Tập thơ có cái tựa là Song Kiều, ngoài bìa Vũ Hoàng Chương viết tặng đích danh tôi, có chữ ký và triện son hẳn hoi, nhưng chỉ dày hơn 20 trang, mỗi trang có 4 câu lục bát, vì nét chữ rất to. Dĩ nhiên là tôi vô cùng sung sướng. Cái công mỗi ngày tôi vẫn mang báo đến tặng ông rõ ràng không bỏ.

Đầu năm 1975, khi chuyển nhà đi nơi khác, vì không ổn định chỗ ở, tôi đã mang tập thơ quý giá, với chỉ một ấn bản duy nhất đó, cùng một ít tư liệu riêng, gởi gắm cho nhà thơ Huy Tưởng trên đường Huỳnh Tịnh Của. Về sau tôi hỏi, thì Huy Tưởng nói đã nhiều lần cố lục tìm trong đống sách vở và đồ đạc lỉnh kỉnh trong nhà anh, nhưng chẳng biết thất lạc ở đâu. Thế là mất! Một thời gian sau, thi sĩ Vũ Hoàng Chương rời khỏi “gác mây”, dọn về Vĩnh Hội. Từ đó, cho đến lúc ông qua đời vào năm 1976, vì bộn bề công việc, tôi không đến với ông được nữa. Ngay cả khi ông nhắm mắt, tôi lại ở thật xa thành phố, nên cũng không thể đến thắp cho ông một nén nhang như lòng tôi mong ước. Tôi nghĩ, cho dù quá nhiều thăng trầm ở đời này, hạnh phúc thì ít, khổ đau thì nhiều, nhưng có lẽ thi sĩ Vũ Hoàng Chương cũng đã mỉm cười ra đi bởi ông đã thấm đẫm tinh thần Phật giáo như lời thơ ông:

Biển khổ mênh mông sóng ngập trời

Khách trần chèo một mái thuyền chơi

Thuyền ai ngược sóng, ai xuôi sóng

Cũng chỉ trong cùng biển khổ thôi.

Đoàn Thạch Hãn

________________________________________________

Chú thích:

[1] Bài “Khóc Stalin”

[2] Bài “Đời đời nhớ ơn ông (Stalin).”

¯

Nhà văn VN Nguyễn Tuân, nổi tiếng cao ngạo trong văn đàn miền Bắc, sau mấy chục năm nín thở qua sông, vào đến miền Nam, gặp lại bạn bè, đã nói một câu để đời:

“Tao còn sống đến ngày nay, là nhờ biết sợ”

Bà Thủ tướng Đức Angela Merkel nói:

“Cộng Sản đã làm cho người dân trở thành gian dối.”

* * *

* * *

Tuyệt phẩm thi ca

chống ngoại xâm

Bình Ngô Đại Cáo

của Nguyễn Trãi  

    

 

Trần Văn Giang

 

Lời giới thiệu:

1- “Bình Ngô đại cáo” (1428) là bài cáo của Nguyễn Trãi viết thay lời Bình Định Vương Lê Lợi để tuyên cáo kết thúc cuộc kháng chiến chống Minh, giành lại độc lập cho Đại Việt. [Trích từ “Bình Ngô đại cáo” của Wikipedia (Bách khoa Toàn thư.)]

2- Xin kính mời quý vị đọc “Bình Ngô Đại Cáo” qua hai bản dịch nôm tiêu biểu:

-          Bản dịch theo thể “văn vần” của Ngô Tất Tố

-          Bản dịch theo thể “văn xuôi” của Trần Trọng Kim

(Ngoài ra còn có thêm bản dịch của Bùi Kỷ và Nhượng Tống, nhưng tôi thấy rằng hai bản dịch tiêu biểu đề cập ở trên đã khá đầy đủ…  Nguyên bản Hán-Việt cũng được kèm theo đây để quý vị rộng đường tham khảo)

3- Lời bàn của Ngô Quốc Sĩ, Minh Nguyệt và Hải Sơn.

Trần Văn Giang

1- “Bình Ngô đại cáo” - Bản dịch của Ngô Tất Tố

Thay trời hành hoá, hoàng thượng truyền rằng.

Từng nghe:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau

Song hào kiệt thời nào cũng có.

Cho nên:

Lưu Cung tham công nên thất bại,

Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong,

Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô

Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã

Việc xưa xem xét,

Chứng cớ còn ghi.

Vừa rồi:

Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,

Để trong nước lòng dân oán hận.

Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ,

Bọn gian tà bán nước cầu vinh.

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế,

Gây binh kết oán trải hai mươi năm.

Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,

Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.

Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.

Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc.

Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,

Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.

Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,

Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.

Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán;

Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa.

Nặng nề những núi phu phen,

Tan tác cả nghề canh cửi.

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

Lẽ nào trời đất dung tha,

Ai bảo thần nhân chịu được?

Ta đây:

Núi Lam sơn dấy nghĩa

Chốn hoang dã nương mình

Ngẫm thù lớn há đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống

Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời

Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.

Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,

Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.

Những trằn trọc trong cơn mộng mị,

Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi

Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,

Chính lúc quân thù đang mạnh.

Lại ngặt vì:

Tuấn kiệt như sao buổi sớm,

Nhân tài như lá mùa thu,

Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,

Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,

Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,

Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả.

Thế mà:

Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bể khơi.

Tự ta, ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối.

Phần vì giận quân thù ngang dọc,

Phần vì lo vận nước khó khăn,

Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,

Lúc Khôi Huyện quân không một đội.

Trời thử lòng trao cho mệnh lớn

Ta gắng trí khắc phục gian nan.

Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới

Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.

Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,

Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.

Trọn hay:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,

Lấy chí nhân để thay cường bạo.

Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,

Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.

Sĩ khí đã hăng

Quân thanh càng mạnh.

Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,

Lý An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.

Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,

Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.

Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm

Tụy Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.

Phúc tâm quân giặc Trần Hiệp đã phải bêu đầu

Mọt gian kẻ thù Lý Lượng cũng đành bỏ mạng.

Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy

Mã Anh cứu trận đánh mà quân ta hăng lại càng hăng.

Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt,

Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công.

Tưởng chúng biết lẽ ăn năn nên đã thay lòng đổi dạ

Ngờ đâu vẫn đương mưu tính lại còn chuốc tội gây oan.

Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,

Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.

Bởi thế:

Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng

Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy

Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại

Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.

Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong

Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực

Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế

Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu

Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong

Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.

Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá

Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau

Lại thêm quân bốn mặt vây thành

Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc

Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh

Gươm mài đá, đá núi cũng mòn

Voi uống nước, nước sông phải cạn.

Đánh một trận, sạch không kình ngạc

Đánh hai trận tan tác chim muông.

Cơn gió to trút sạch lá khô,

Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.

Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,

Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.

Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường

Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước

Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,

Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ

Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật!

Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.

Suối Lãnh Câu, máu chảy thành sông, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc

Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.

Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,

Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng

Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng

Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh

Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,

Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.

Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng

Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.

Chẳng những mưu kế kỳ diệu

Cũng là chưa thấy xưa nay

Xã tắc từ đây vững bền

Giang sơn từ đây đổi mới

Càn khôn bĩ rồi lại thái

Nhật nguyệt hối rồi lại minh

Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu

Muôn thuở nền thái bình vững chắc

Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;

Than ôi!

Một cỗ nhung y chiến thắng,

Nên công oanh liệt ngàn năm

Bốn phương biển cả thanh bình,

Ban chiếu duy tân khắp chốn

Xa gần bá cáo,

Ai nấy đều hay.

2- “Bình Ngô đại cáo” - Bản dịch văn xuôi của Trần Trọng Kim

(Bản dịch ghi trong cuốn “Việt Nam sử lược" - Quyển I/Phần III/Chương XIV).

Tượng-mảng:

Việc nhân-nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt chỉ vì khử bạo. Như nước Việt từ trước, vốn xưng văn-hiến đã lâu. Sơn-hà cương-vực đã chia, phong-tục bắc nam cũng khác. Từ Đinh, Lê, Lý, Trần, gây nền độc-lập; cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, hùng-cứ một phương. Dẫu cường nhược có lúc khác nhau, song hào-kiệt đời nào cũng có.

Vậy nên:

Lưu Cung sợ uy mất vía, Triệu Tiết nghe tiếng giật mình. Cửa Hàm Tử giết tươi Toa Đô, sông Bạch Đằng bắt sống Ô Mã. Xét xem cổ tích, đã có minh trưng[1].

Vừa rồi:

Vì họ Hồ chính-sự phiền-hà, để trong nước nhân-dân oán bạn. Quân cuồng Minh đã thừa cơ tứ ngược[2], bọn gian-tà còn bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung-tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai-vạ. Chước dối đủ muôn nghìn khóe, ác chứa ngót hai mươi năm. Bại nhân-nghĩa, nát cả càn-khôn, nặng khoa-liễm[3] vét không sơn trạch. Nào lên rừng đào mỏ, nào xuống bể mò châu, nào hố bẫy hươu đen, nào lưới dò chim sả. Tàn-hại cả côn-trùng thảo-mộc; nheo-nhóc thay quan quả điên-liên[4]. Kẻ há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no-nê chưa chán. Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục-dịch cho vừa. Nặng-nề về những nỗi phu-phen, bắt-bớ mất cả nghề canh-cửi. Độc-ác thay! trúc rừng không ghi hết tội; dơ-bẩn thay ! nước bể không rửa sạch mùi. Lẽ nào trời đất tha cho, ai bảo thần-nhân nhịn được.

Ta đây:

Núi Lam-sơn dấy nghĩa, chốn hoang-dã nương mình. Ngắm non sông căm nỗi thế thù, thề sống chết cùng quân nghịch-tặc. Đau lòng nhức óc, chốc là mười mấy nắng mưa; nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối. Quên ăn vì giận, sách lược-thao suy-xét đã tinh; ngẫm trước đến nay, lẽ hưng-phế đắn-đo càng kỹ. Những trằn-trọc trong cơn mộng-mị, chỉ băn-khoăn một nỗi đồ-hồi. Vừa khi cờ nghĩa dấy lên, chính lúc quân thù đang mạnh.

Lại ngặt vì:

Tuấn-kiệt như sao buổi sớm, nhân-tài như lá mùa thu. Việc bôn-tẩu thiếu kẻ đỡ-đần, nơi duy-ác hiếm người bàn-bạc. Đôi phen vùng-vẫy, vẫn đăm-đăm con mắt dục đông[5]; mấy thủa đợi-chờ, luống đằng-đẵng cỗ xe hư tả[6]. Thế mà trông người, người càng vắng-ngắt, vẫn mịt-mờ như kẻ vọng dương[7]; thế mà tự ta, ta phải lo toan, thêm vội-vã như khi chửng-nịch[8]. Phần thì giận hung-đồ ngang-dọc, phần thì lo quốc-bộ khó-khăn. Khi Linh-sơn lương hết mấy tuần; khi Khôi-huyện quân không một lữ. Có lẽ trời muốn trao cho gánh nặng, bắt trải qua bách chiết thiên ma; cho nên ta cố-gắng gan bền, chấp hết cả nhất sinh thập tử. Múa đầu gậy, ngọn cờ phất-phới, ngóng vân-nghê bốn cõi đan hồ. Mở tiệc quân, chén rượu ngọt-ngào, khắp tướng-sĩ một lòng phụ tử. Thế giặc mạnh, ta yếu mà ta địch nổi; quân giặc nhiều, ta ít mà ta được luôn.

Dọn hay:

Đem đại nghĩa để thắng hung-tàn, lấy chí nhân mà thay cường-bạo. Trận Bồ-đằng sấm vang sét dậy, miền Trà-lân trúc phá tro bay. Sĩ-khí đã hăng, quân thanh càng mạnh. Trần Trí, Sơn Thọ mất vía chạy tan; Phương Chính, Lý An tìm đường trốn-tránh. Đánh Tây-kinh phá tan thế giặc, lấy Đông-đô thu lại cõi xưa. Dưới Ninh-kiều máu chảy thành sông; bến Tụy-động xác đầy ngoài nội. Trần Hiệp đã thiệt mạng, Lý Lương lại phơi thây. Vương thông hết cấp lo lường, Mã Anh khôn đường cứu đỡ. Nó đã trí cùng lực kiệt, bó tay không biết tính sao; ta đây mưu phạt tâm công, chẳng đánh mà người chịu khuất. Tưởng nó phải thay lòng đổi dạ, hiểu lẽ tới lui; ngờ đâu còn kiếm kế tìm phương, gây mầm tội-nghiệt. Cậy mình là phải, chỉ quen đổ vạ cho người; tham công một thời, chẳng bỏ bày trò dơ-duốc. Đến nỗi đứa trẻ ranh như Tuyên-đức[9], nhàm võ không thôi; lại sai đồ nhút-nhát như Thạnh, Thăng, đem dầu chữa cháy. Năm đinh-mùi tháng chín, Liễu Thăng từ Khâu-ôn tiếng sang; lại năm nay tháng mười, Mộc Thạnh tự Vân-nam kéo đến. Ta đã điều binh giữ hiểm để ngăn lối Bắc-quân; ta lại sai tướng chẹn ngang để tuyệt đường lương-đạo. Mười tám, Liễu Thăng thua ở Chi-lăng, hai mươi, Liễu Thăng chết ở Mã-yên. Hai-mươi-lăm, Lương Minh trận vong; hai-mươi-tám, Lý Khánh tự vẫn. Lưỡi dao ta đang sắc, ngọn giáo giặc phải lùi. Lại thêm quân bốn mặt vây thành, hẹn đến rằm tháng mười diệt tặc. Sĩ-tốt ra oai tì hổ, thần-thứ đủ mặt trảo nha. Gươm mài đá, đá núi cũng mòn; voi uống nước, nước sông phải cạn. Đánh một trận sạch không kình-ngạc, đánh hai trận tan-tác chim-muông. Cơn gió to trút sạch lá khô, tổ kiến hổng sụt toang đê cũ. Thôi Tụ phải quì mà xin lỗi, Hoàng Phúc tự trói để ra hàng. Lạng-giang, Lạng-sơn thây chất đầy đường, Xương-giang, Bình-than máu trôi đỏ nước. Gớm-ghê thay ! sắc phong-vân cũng đổi; thảm-đạm thay ! sáng nhật-nguyệt phải mờ. Binh Vân-nam nghẽn ở Lê-hoa, sợ mà mất mật; quân Mộc Thạnh tan chưn Cần-trạm, chạy để thoát thân. Suối máu Lãnh-câu, nước sông rền-rĩ; thành xương Đan-xá, cỏ nội đầm-đìa. Hai mặt cứu binh, cắm đầu trốn chạy; các thành cùng khấu, cởi giáp xuống đầu. Bắt tướng giặc mang về, nó đã vẫy đuôi phục tội; thể lòng trời bất sát, ta cũng mở đường hiếu sinh. Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến bể chưa thôi trống ngực. Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến Tàu còn đổ mồ-hôi. Nó đã sợ chết cầu hòa, ngỏ lòng thú-phục; ta muốn toàn quân là cốt, cả nước nghỉ-ngơi.

Thế mới là mưu-kế thật khôn, vả lại suốt xưa nay chưa có. Giang-san từ đây mở mặt, xã-tắc từ đầy vững nền. Nhật-nguyệt hối mà lại minh, càn-khôn bĩ mà lại thái. Nền vạn thế xây nên chăn-chắn, thẹn nghìn thu rửa sạch làu-làu. Thế là nhờ trời đất tổ-tông khôn-thiêng che-chở, giúp-đỡ cho nước ta vậy.

Than ôi!

Vẫy-vùng một mảng nhung-y nên công đại-định, phẳng-lặng bốn bề thái-vũ mở hội vĩnh-thanh. Bá-cáo xa gần, ngỏ cùng cho biết.

__________________

Chú thích:

[1]   Minh-trưng: chứng-cớ rõ-ràng

[2]   Tứ-ngược: Hết sức tàn ngược

[3]   Khoa-liễm: Thuế-má

[4]   Quan: Người không vợ; quả: người góa chồng; điên-liên: những kẻ không có nhà ở, không trông-cậy vào đâu được.

[5]   Dục đông: Ý nói muốn về Đông-đô

[6]   Hư tả: Cỗ xe không bên trái để đợi người hiền

[7]   Vọng dương: Trông ra biển không thấy gì

[8]   Chửng-nịch: Vớt người chết đuối

[9]   Vua Tuyên-tông nhà Minh, niên-hiệu Tuyên-đức.

__________________

Phần Tham khảo

(Nguyên Bản Hán – Việt)

Đại thiên hành hóa hoàng thượng nhược viết:

Cái văn:

Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân,

Điếu phạt chi sư, mạc tiên khử bạo.

Duy ngã Đại Việt chi quốc,

Thực vi văn hiến chi bang.

Sơn xuyên chi phong vực ký thù,

Nam bắc chi phong tục diệc dị.

Tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc,

Dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương.

Tuy cường nhược thì hữu bất đồng,

Nhi hào kiệt thế vị thường phạp.

Cố Lưu Cung tham công dĩ thủ bại,

Nhi Triệu Tiết hiếu đại dĩ xúc vong.

Toa Đô ký cầm ư Hàm Tử quan,

Ô Mã hựu ế ư Bạch Đằng hải.

Kê chư vãng cổ,

Quyết hữu minh trưng.

Khoảnh nhân Hồ chính chi phiền hà,

Trí sử nhân tâm chi oán bạn.

Cuồng Minh tứ khích, nhân dĩ độc ngã dân;

Nguỵ đảng hoài gian, cánh dĩ mại ngã quốc.

Hân thương sinh ư ngược diệm,

Hãm xích tử ư họa khanh.

Khi thiên võng dân, quỷ kế cái thiên vạn trạng;

Liên binh kết hấn, nẫm ác đãi nhị thập niên.

Bại nghĩa thương nhân, càn khôn ky hồ dục tức;

Trọng khoa hậu liễm, sơn trạch mỹ hữu kiết di.

Khai kim trường, tắc mạo lam chướng nhi phủ sơn đào sa,

Thái minh châu, tắc xúc giao long nhi hoàn yêu thộn hải.

Nhiễu dân thiết huyền lộc chi hãm tịnh,

Điễn vật chức thúy cầm chi võng la.

Côn trùng thảo mộc giai bất đắc dĩ toại kỳ sinh,

Quan quả điên liên câu bất hoạch dĩ an kỳ sở.

Tuấn sinh linh chi huyết dĩ nhuận kiệt hiệt chi vẫn nha;

Cực thổ mộc chi công dĩ sùng công tư chi giải vũ.

Châu lý chi chinh dao trọng khốn,

Lư diêm chi trữ trục giai không.

Quyết Đông Hải chi thủy bất túc dĩ trạc kỳ ô,

Khánh Nam Sơn chi trúc bất túc dĩ thư kỳ ác.

Thần dân chi sở cộng phẫn,

Thiên địa chi sở bất dung.

Dư:

Phấn tích Lam Sơn,

Thê thân hoang dã.

Niệm thế thù khởi khả cộng đái,

Thệ nghịch tặc nan dữ câu sinh.

Thống tâm tật thủ giả thùy thập dư niên,

Thường đảm ngọa tân giả cái phi nhất nhật.

Phát phẫn vong thực, mỗi nghiên đàm thao lược chi thư,

Tức cổ nghiệm kim, tế suy cứu hưng vong chi lý.

Đồ hồi chi chí

Ngộ mị bất vong.

Đương nghĩa kỳ sơ khởi chi thì,

Chính tặc thế phương trương chi nhật.

Nại dĩ:

Nhân tài thu diệp,

Tuấn kiệt thần tinh.

Bôn tẩu tiền hậu giả ký phạp kỳ nhân,

Mưu mô duy ác giả hựu quả kỳ trợ.

Đặc dĩ cứu dân chi niệm, mỗi uất uất nhi dục đông;

Cố ư đãi hiền chi xa, thường cấp cấp dĩ hư tả.

Nhiên kỳ:

Đắc nhân chi hiệu mang nhược vọng dương,

Do kỉ chi thành thậm ư chửng nịch.

Phẫn hung đồ chi vị diệt,

Niệm quốc bộ chi tao truân.

Linh Sơn chi thực tận kiêm tuần,

Khôi Huyện chi chúng vô nhất lữ.

Cái thiên dục khốn ngã dĩ giáng quyết nhiệm,

Cố dữ ích lệ chí dĩ tế vu nan.

Yết can vi kỳ, manh lệ chi đồ tứ tập;

Đầu giao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm.

Dĩ nhược chế cường, hoặc công nhân chi bất bị;

Dĩ quả địch chúng, thường thiết phục dĩ xuất kỳ.

Tốt năng:

Dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn,

Dĩ chí nhân nhi dịch cường bạo.

Bồ Đằng chi đình khu điện xế,

Trà Lân chi trúc phá khôi phi.

Sĩ khí dĩ chi ích tăng,

Quân thanh dĩ chi đại chấn.

Trần Trí, Sơn Thọ văn phong nhi sỉ phách,

Lý An, Phương Chính giả tức dĩ thâu sinh.

Thừa thắng trường khu, Tây Kinh ký vị ngã hữu;

Tuyển binh tiến thủ, Đông Đô tận phục cựu cương.

Ninh Kiều chi huyết thành xuyên, lưu tinh vạn lý;

Tốt Động chi thi tích dã, di xú thiên niên.

Trần Hiệp tặc chi phúc tâm, ký kiêu kỳ thủ;

Lý Lượng tặc chi gian đố, hựu bạo quyết thi.

Vương Thông lý loạn nhi phần giả ích phần,

Mã Anh cứu đấu nhi nộ giả ích nộ.

Bỉ trí cùng nhi lực tận, thúc thủ đãi vong;

Ngã mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất.

Vị bỉ tất dị tâm nhi cải lự,

Khởi ý phục tác nghiệt dĩ tốc cô.

Chấp nhất kỷ chi kiến, dĩ giá họa ư tha nhân,

Tham nhất thì chi công, dĩ di tiếu ư thiên hạ.

Toại linh Tuyên Đức chi giảo đồng, độc binh vô yếm;

Nhưng mệnh Thạnh Thăng chi nọa tướng, dĩ du cứu phần.

Đinh vị cửu nguyệt Liễu Thăng toại dẫn binh do Khâu Ôn nhi tiến,

Bản niên thập nguyệt Mộc Thạnh hựu phân đồ tự Vân Nam nhi lai.

Dư tiền ký tuyển binh tái hiểm dĩ tồi kỳ phong,

Dư hậu tái điều binh tiệt lộ dĩ đoạn kỳ thực.

Bản nguyệt thập bát nhật Liễu Thăng vị ngã quân sở công, kế trụy ư Chi Lăng chi dã;

Bản nguyệt nhị thập nhật Liễu Thăng hựu vị ngã quân sở bại, thân tử ư Mã Yên chi sơn.

Nhị thập ngũ nhật Bảo Định bá Lương Minh trận hãm nhi táng khu,

Nhị thập bát nhật Thượng thư Lý Khánh kế cùng nhi vẫn thủ.

Ngã toại nghênh nhận nhi giải,

Bỉ tự đảo qua tương công.

Kế nhi tứ diện thiêm binh dĩ bao vi,

Kỳ dĩ thập nguyệt trung tuần nhi điễn diệt.

Viên tuyển tỳ hưu chi sĩ,

Thân mệnh trảo nha chi thần.

Ẩm tượng nhi hà thủy càn,

Ma đao nhi sơn thạch khuyết.

Nhất cổ nhi kình khô ngạc đoạn,

Tái cổ nhi điểu tán quân kinh.

Quyết hội nghĩ ư băng đê,

Chấn cương phong ư cảo diệp.

Đô đốc Thôi Tụ tất hành nhi tống khoản,

Thượng thư Hoàng Phúc diện phược dĩ tựu cầm.

Cương thi tái Lạng Giang, Lạng Sơn chi đồ,

Chiến huyết xích Xương Giang, Bình Than chi thủy.

Phong vân vị chi biến sắc,

Nhật nguyệt thảm dĩ vô quang.

Kỳ Vân Nam binh vị ngã quân sở ách ư Lê Hoa, tự đỗng nghi hư hạt nhi tiên dĩ phá phủ;

Kỳ Mộc Thạnh chúng văn Thăng quân đại bại ư Cần Trạm, toại lận tạ bôn hội nhi cận đắc thoát thân.

Lãnh Câu chi huyết chử phiêu, giang thủy vị chi ô yết;

Đan Xá chi thi sơn tích, dã thảo vị chi ân hồng.

Lưỡng lộ cứu binh, ký bất toàn chủng nhi câu bại,

Các thành cùng khấu, diệc tương giải giáp dĩ xuất hàng.

Tặc thủ thành cầm, bỉ ký trạo ngạ hổ khất liên chi vĩ;

Thần võ bất sát, dư diệc thể thượng đế hiếu sinh chi tâm.

Tham tướng Phương Chính, Nội quan Mã Kỳ, tiên cấp hạm ngũ bách dư sưu, ký độ hải nhi do thả hồn phi phách tán;

Tổng binh Vương Thông, Tham chính Mã Anh, hựu cấp mã sổ thiên dư thất, dĩ hoàn quốc nhi ích tự cổ lật tâm kinh.

Bỉ ký uý tử tham sinh, nhi tu hảo hữu thành;

Dư dĩ toàn quân vi thượng, nhi dục dân chi đắc tức.

Phi duy mưu kế chi cực kỳ thâm viễn,

Cái diệc cổ kim chi sở vị kiến văn.

Xã tắc dĩ chi điện an,

Sơn xuyên dĩ chi cải quán.

Càn khôn ký bĩ nhi phục thái,

Nhật nguyệt ký hối nhi phục minh.

Vu dĩ khai vạn thế thái bình chi cơ,

Vu dĩ tuyết thiên cổ vô cùng chi sỉ.

Thị do thiên địa tổ tông chi linh, hữu dĩ mặc tương âm hựu, nhi trí nhiên dã.

Ô hô!

Nhất nhung đại định, ngật thành vô cạnh chi công;

Tứ hải vĩnh thanh, đản bố duy tân chi cáo.

Bá cáo hà nhĩ,

Hàm sử văn tri.

3- Lời bàn của Ngô Quốc Sĩ, Minh Nguyệt và Hải Sơn.

(Dựa trên bản dịch nôm của Ngô Tất Tố)

Nhắc tới những áng văn thơ chống ngoại xâm thời dựng nước, không ai có thể quên được “Lời Hiệu Triệu” của Hai Bà Trưng, “Tuyên Ngôn Độc Lập” của Lý Thương Kiệt, “Hịch Tướng Sĩ” của Trần Hưng Đạo… Nhưng có thể nói, không áng văn nào qua mặt được “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi - Lê Lợi. Thực vậy, “Bình Ngô Đại Cáo” được tuyên dương là áng văn thơ hay nhất, hào hùng nhất và đánh động nhất, làm dậy lên trong lòng dân Việt một mối hận thù ngoại tặc vô bờ và một ý chí sắt đá quyết bảo vệ chủ quyền đất nước và xây dựng Tổ Quốc.

Nội dung "Bình Ngô Đại cáo" là một Tuyên Cáo hùng hồn về chính nghĩa dân tộc làm căn bản cho cuộc khởi nghĩa. Đó cũng là bản cáo trạng đầy đủ về tội ác giặc Tàu, đồng thời công bố chiến lược và chiến thuật thắng quân Minh, cũng như kế hoạch dựng nước cuả vị anh hùng áo vải đất Lam Sơn.

 

PHẨN I : CHÍNH NGHĨA DÂN TỘC

Mở đầu bản cáo trạng, Nguyễn Trãi đã thay lời Lê Lợi, nêu cao chính nghĩa dân tộc như ngọn hải đăng chiếu sáng và soi dẫn cuộc Bắc phạt của nguời anh hùng Lam Sơn. Chính nghĩa đó trưóc hết là khát vọng quốc thái dân an. Muốn cho yên nước yên dân, phải lấy dân làm gốc và từ đó, phải ra tay diệt trừ các thế lực bạo ngược, phản dân hại nước:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo khử bạo

Chính nghĩa đó cũng chính là khôi phục nền văn hiến trên 4000 năm của Việt tộc, giúp cho đất nước giữ vững kỷ cương, bảo toàn bờ cõi:

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Nét đặc trưng của chính nghĩa dân tộc là ý thức độc lập và chủ quyền đất nước. Nếu Lý Thường Kiệt đã khẳng định “Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư” thì Lê Lợi cũng hãnh diện với nền độc lập kéo dài qua nhiều triều đại:

Từ Triệu, Đinh Lê Lý Trần bao đời xây nền độc lập

Cùng Hán Đường Tống Nguyên hùng cứ một phen

Điều đáng nói là dânViệt, dù mệnh nước lên xuống, dù là một nước nhỏ bên cạnh đại cường, luôn luôn vẫn có anh hùng hào kiệt, hiên ngang thách đố với kẻ thù phương Bắc:

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau

Nhưng hào kiệt đời nào cũng có

Chính nghĩa sáng chói đó đã được lịch sử ghi lại với những nét hào hùng, những chiến tích lẫy lừng làm cho con cháu Lạc Hồng cảm thấy hãnh diện vô bờ: Ai mà chẳng nhớ Hàm Tử Bạch Đằng?

Lưu Cung tham công nên thất bại

Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong

Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô

Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã

Việc xưa xem xét

Chứng cớ còn ghi

Nhắc lại những chiến tích lịch sử hào hùng đó là để so sánh với hiện thực đáng buồn của đất nước và dân tộc, đang làm những người còn tâm huyết phải nức lòng.

Nào là dân tình đói khổ lầm than, một đàng do ngoại tặc cuồng Minh, một đàng do bọn Việt gian bán nước cầu vinh:

Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa

Bọn gian tà bán nuớc cầu vinh

Nướng dân đen trên ngọc lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống duới hầm tại vạ

Dối trời, lừa dân đủ muôn ngàn kế…

Đáng buồn nhất là trước hiện thực đau buồn đó, dân Việt trông mong xuất hiện những nhân tài đem tim óc cứu dân cứu nuớc, nhưng nhân tài lại vắng bóng như lá mùa thu như sao buổi sớm:

Tuấn kiệt như sao buổi sớm

Nhân tài như lá mùa thu

Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần

Nơi duy ác hiếm người bàn bạc

Hiện thực đáng buồn của đất nước thời Lê Lợi đang tái diễn hôm nay tại Việt Nam dưới chế độ cộng sản. Một đàng, những người thực tâm yêu nước dám dấn thân đối đầu vơi cộng sản độc tài chỉ đếm đầu ngón tay, nên Võ Thị Hảo mới chỉ trích “thái độ vô cảm,” và cô giáo Lam mới lớn tiếng kêu gọi dân Việt “Xin đừng vô can.” Đàng khác, bọn cuồng Minh ngày xưa đã dùng bọn Việt gian tay sai nướng dân trên lửa hung tàn, nhốt dân xuống hầm tai vạ, thì bọn đại Hán hôm nay cũng lặp lại thủ đoạn gian ác đó, sử dụng bọn thái thú là tập đoàn lãnh đạo Hà Nội đang dựa thế Trung cộng để giữ đảng và giữ ghế, sống phè phỡn trên xương máu dân lành!

Thật mỉa mai! Trong khi tổ tiên ngày xưa đã đem chính nghĩa dân tộc với nền văn hiến cao đẹp, với ý thức tự chủ độc lập tuyệt vời, cũng như những chiến tích lẫy lừng gợi hứng cho sức quật cường của dân tộc, thì tập đoàn lãnh đạo cộng sản hôm nay lại cúi mặt khiếp nhược trước manh tâm bành trướng xâm lăng của ngoại thù!

Cha ông chúng ta đã nhắc nhở, núi sông bờ cõi đã chia, và phong tục Tàu –Ta cũng khác, không thể sống chung hay đồng hóa. Nhưng đau đớn thay, cộng sản Việt Nam lại tự nguyện dâng hiến biển đảo, lãnh thổ và tài nguyên cho kẻ thù truyền kiếp Bắc Phương! Thế là hoàn toàn mất chính nghĩa! Tình hữu nghị “Môi hở răng lạnh” hay “4 Tốt và 16 Chữ Vàng” chỉ là “ngụy nghĩa” và “ngụy ngữ,” là lừa đảo, là chiêu bài che đậy ý đồ xâm lăng, tái diễn nạn Bắc Thuộc thêm lần nữa! Và lần này, sẽ kéo dài bao lâu? Ai mà biết được? Ai mà chẳng đau lòng đứt ruột, và ai thấu nỗi đoạn trường..?

Phần II: CUỘC KHỞI BINH OAI HÙNG

Sau khi tuyên cáo về chính nghĩa dân tộc và hiện thực đất nước tang thương với giặc ngoài thù trong, như lời réo gọi của non sông, người anh hùng áo vải đất Lam Sơn đã trịnh trọng tuyên chiến, khởi binh từ đất Lam Sơn, dõng dạc đáp lại tiếng gọi của sông núi:

Ta đây

Núi Lam Sơn dấy nghĩa

Chốn hoang dã nương mình

Động lực thúc đẩy Lệ Lợi khởi binh từ Lam Sơn chính là mối thù không đội trời chung với giặc Tàu. Mối thù giữa Việt Nam và Trung Quốc là mối thù truyền kiếp. Mặc dầu biết rằng, giặc Tàu đang ở thế mạnh, nhưng tin tưởng vào ngọn cờ chính nghĩa, người anh hùng áo vải đã phải vung kiếm để trả thù dân tộc:

Ngẫm thù lớn hà đội trời chung

Căm giặc nước hề không chung sống.

Chỉ băn khoăn một nỗi

Vừa khi cờ nghĩa dấy lên

Chính lúc quân thù đang mạnh

Băn khoăn về tình thế bất lợi, thời điểm chưa mấy thuận tiện vì kẻ thù đang mạnh, nhưng đáng buồn hơn là quân thù lại được tiếp tay bởi những đứa con hoang, cam tâm làm Việt gian bán nước cầu vinh, lót đường cho giặc:

Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa

Bọn gian tà bán nước cầu vinh

Hiện tượng bán nuớc cầu vinh, rước voi giày mả tổ thời Lê Lợi đang tái diễn hôm nay tại Việt Nam. Thật vậy, ngày xưa bọn Chiêu Thống rước giặc Minh vào nhà, nay bọn thái thú lại rước bọn Hán tặc vào lãnh thổ, đúng như nhà thơ Bùi Minh Quốc đã mô tả:

Thăm thẳm một đời bao thứ giặc

Chưa giặc nào như giặc này

Quân ăn cướp quân phản trắc

Đã từng vào nhà ta

Như một người bạn thân một người đồng chí

Không biết những tên lãnh đạo cộng sản hôm nay có chột dạ khi nghe bản cáo trạng của Lê Lợi này không? Chắc chắn là không, vì con tim bọn chúng đã hóa đá, con mắt của chúng đã bị thui chột, và đầu óc chúng bị bít kín như miệng bình vôi, đúng như Hoàng Cầm và Phan Khôi đã chua chát ghi nhận qua Nhân Văn Giai Phẩm.

Mặc dù trước tình thế quân thù đang mạnh, lại có bọn việt gian tiếp tay bán nước, người anh hùng áo vải vẫn không nản lòng, nhất quyết chỗi dậy từ gian khổ với niềm tin mãnh liệt vào tài thao lược của mình và tư duy sang suốt về lẽ hưng phấn của trời đất. Thế chẳng là đem cái Trí hoà hợp với cái Chí đó sao?

Nếm mật nằm gai há phải một hai sớm tối

Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh

Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phấn đắn đo càng kỹ

Đắn đo kỹ càng, rồi nhất định tuyên chiến, quyết ra tay đối đầu với nghịch tặc, dù biết mình cô đơn, chân không thể bôn ba năm châu bốn biển, lại thiếu người đỡ đần cố vấn trong cảnh khó khăn nghiệt ngã:

Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần

Nơi duy ác hiếm người bàn bạc

Nhưng điểm đáng khích lệ nhất, là dù phải chiến đấu trong cô đơn khi “nhân tài như lá múa thu, tuấn kiệt như sao buổi sớm,” người anh hùng họ Lê đã quyết tự tin vào khả năng của mình, tin vào tài trí của mình, can đảm nhận lãnh sứ mệnh cao cả trời đất giao phó, nguyện xả thân vì đại nghĩa, cứu dân đang chết đuối trong tay ngoại tặc:

Tự ta ta phải dốc lòng, vội vã hơn cứu người chết đuối

Phần vì giận quân thù ngang dọc

Phần vì lo vận nước khó khăn’’

Trời thử lòng trao cho mệnh lớn

Ta gắng trí khắc phục gian nan

Nhận sứ mệnh khởi binh diệt giặc là theo mệnh trời cứu nước cứu dân, với niềm chắc tâm rằng, địch phải bị tiêu diệt, mình sẽ tồn tại và đất nước sẽ trường tồn “Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong”:

Lẽ nào trời đất dung tha

Ai bảo thần nhân chịu đuợc?

Trời không tha, đất không dung, người không chịu đuợc, nên Lê Lợi phải xuất quân dẹp giặc cứu nước cứu dân. Đó là hành xử đúng theo mệnh trời, nên Lê Lợi đã được ơn trời phù hộ, và toàn dân, toàn quân một lòng sát cánh với nhà vua trong sứ mệnh cao cả:

Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới.

Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.

Thế là cuộc khởi binh của người hùng Lam Sơn là đúng theo phong thủy “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa.” Có Trời phù hộ. Có Đất thiêng mẹ Việt Nam nâng đỡ gót chân, và toàn dân Việt dốc quyết một lòng siết chặt tay chiến đấu. Đó chính là lẽ tất thắng của người hùng áo vải đất Lam Sơn, và cũng là lẽ tất thắng của toàn thể dân Việt trong cuộc chống ngoại xâm và nội thù xưa nay.

Hẳn không ai có thể cầm lòng trước hình ảnh “cần trúc thành ngọn cờ phấp phới” và “hoà nước sông chén rượu ngọt ngào” trong cuộc khởi binh của Lê Lợi.. Thật cảm động đến nghẹn lời khi nhìn thấy ngọn trúc thành ngọn cờ và nước sông hòa vào rượu ngọt. Đó hẳn là cờ chiến thắng Phù Đổng và rượu mừng đất nước sạch bóng quân thù.

Với Bình Ngô Đại Cáo, đó là hiện thực, và Lê Lợi xứng đáng là anh hùng, là đấng minh quân đúng danh thơm Bình Định Vương. Hôm nay, nhìn vào hiện thực Việt Nam, ngọn cờ chiến thắng và rượu mừng đất nước sạch bóng thù vẫn còn là giấc mơ, bởi lẽ bọn Hán tặc đang thật sự xâm lăng đất nước và bọn thái thú vẫn còn nghênh ngang cấu kết với ngoại bang bán đứng giang sơn. Ai sẽ thay Lê Lợi cứu vớt dân Nam đây?

Rồi sẽ có, sẽ có, sẽ có ngày toàn dân quật khởi, có sức mạnh dân tộc vùng lên tiêu diệt ngoại tặc và nội thù, đúng như Hà Sĩ Phu đã khẳng quyết:

“Trong cuộc vật lộn tay đôi giữa chủ nghĩa Cộng sản ngoại lai với nhân dân Việt Nam, thì mặc dù khó khăn đến mấy, cuối cùng nhân dân nhất định thắng, tình tự dân tộc máu mủ ruột rà nhất định thắng.”

Ngày đó không xa, nhưng chúng ta không thể ngồi chờ với thái độ vô cảm hay vô can, dửng dưng, như kẻ ngoại cuộc đứng bên lề cuộc chiến. Phải nhập cuộc, phải xắn tay áo, phải lao đầu vào cơn bão lửa cách mạng. Dân Việt không thể “vô cảm,” bởi lẽ vô cảm là khiếp nhược và phản bội như lời Võ Thị Hảo và Đặng Chí Hùng:

Còn nhịp thở ta xin đừng vô cảm

Đất Mẹ hiền sẽ chẳng thể nào quên.

Và cũng xin đừng “vô can,” bởi lẽ vô can là đồng lõa, như lời cô giáo Lam:

“Sự hèn nhát, sự sợ hãi, sự dửng dửng, vô cảm đã biến chúng ta thành những kẻ đồng loã với cái ác. Chúng ta đã phản bội thiên nhiên, phản bội quê hương và cái giá chúng ta phải trả là môi trường sống của chính mình bị đầu độc, là sức khoẻ, sinh mạng, sự tồn vong của nòi giống. Để xảy ra thảm cảnh môi trường như ngày hôm nay, tôi, bạn, tất cả chúng ta đều không vô can.”

Lời Đặng Chí Hùng, lời Võ Thị Hảo, lời cô giáo Lam, lời Hà Sĩ Phu, chẳng phải là những tiếng dội anh hùng của Bình Ngô Đại Cáo đó sao?

Ngô Quốc Sĩ, Minh Nguyệt và Hải Sơn

Trần Văn Giang(St)

* * *

Thành kính tưởng niệm và tri ân

Tổng Thống Ngô Đình Diệm

Những lời trăn trối của

Tổng thống Ngô Đình Diệm

Sổ Tay Ký Thiệt

LTS: Đọc những lời trăn trối tâm huyết của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, chúng ta cảm thấy xót thương cho Cụ có một tấm lòng yêu nước thương dân vô bờ bến. Đọc lời của Cụ mà căm giận bày tướng phản quốc DVM, TTK, TTĐ, MHX, ĐM v.v… đã vì 3 triệu đồng của Hoa Kỳ để bán rẽ lương tâm, đất nước, hãm hại tổng thống và nền VNCH của mình… Đọc lời trăn trối Cụ mà cảm thấy chán ngán cái ... thằng bất lương đồng minh Hoa Kỳ đã đối xử đồng minh VNCH như tay sai của nó vậy… Nên vì vậy ngày nay ta không thể nào trách tổng thống Phi đã khinh khi đồng minh Hoa Kỳ, lại còn chửi dám TT Obama là ... "son of whore".

*

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể ngày Tổng thống Ngô Đình Diệm bị giết chết trong cuộc đảo chính ngày 1.11.1963. Chính xác hơn, 53 năm đã qua nhưng thảm kịch ấy vẫn còn là trang sử cần phải được soi sáng.

Học giả Nguyễn Anh Tuấn, một trí thức hải ngoại đầy tâm huyết, đang viết một loạt bài với hy vọng khai quật nhiều sự thật còn bị chôn vùi dưới những tầng lớp thành kiến, phe cánh, mưu đồ chính trị...

Được sự đồng ý của ông Nguyễn Anh Tuấn, và nhân ngày 1.11.2016, mục này xin trích đăng một phần của bài đầu tiên liên quan đến cuộc phỏng vấn Tổng thống Ngô đình Diệm do nữ kỹ‎ giả Mỹ Marguerite Higgins thực hiện tại Dinh Gia Long ngày 7.8.1963, không đầy 3 tháng trước khi ông bị hạ sát.

Theo Higgins cho biết, ông Diệm trong cuộc phỏng vấn này đặc biệt chú tâm tới những vấn đề hệ trọng của Việt Nam như chiến tranh, cơn khủng hoảng Phật giáo, và những đường lối đầy mâu thuẫn giữa các viên chức Hoa Kỳ, và làm thế nào để giải quyến những cơn khủng hoảng như thế ?

Ông Diệm chấp nhận nắm quyền hành quốc gia từ 1954. Thật khó mà hình dung được hình ảnh ông Diệm như một nhà cách mạng đã nói với dân Việt Nam khi ông chấp nhận lèo lái con thuyền quốc gia đang trong cơn bão tố do Hoàng Đế Bảo Đại trao cho: “If I advance, follow me. If I retreat, kill me. If I die, avenge for me”. (Nếu tôi tiến lên, hãy tiến theo tôi. Nếu tôi tháo lui bỏ chạy, hãy giết tôi đi. Nếu tôi bị chết, hãy trả thù cho tôi) [1].

Higgins đã bỏ ra hơn 5 tiếng đồng hồ để trao đổi riêng tư với TT Diệm về mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Mở đầu, Tổng thống Diệm nói:

“Nếu người dân Mỹ hiểu được những khó khăn phức tạp của đất nước Việt Nam, và hiểu được bản chất của chiến tranh Việt Nam, do cộng sản gây ra mà hiện nay chúng tôi đang phải đối đầu gánh chịu. Cô Higgins đã đi nhiều về các vùng nông thôn. Cô đã gặp những người dân Thượng, với những giáo mác và những mê tín dị đoan của họ. Những người dân Chàm, Cao Đài, Hòa Hảo. Những người dân làng chất phát mộc mạc là những nơi thờ cúng tổ tiên khắp nơi tại Việt Nam. Cô Higgins hãy nói cho tôi nghe, thứ ngôn ngữ nào của dân chủ nghị viện có thể giải thích cho những con người như thế, khi ý nghĩa của dân chủ chưa tìm ra trong ngôn ngữ của họ.”

Với quá khứ của thời kỳ thực dân trên đất nước VN, Ông Diệm nói tiếp:’

“Những người Pháp ra đi không để lại cho chúng tôi những di sản cao quý. Trong thời kỳ trước thực dân, ngay trong các làng người dân có thể đọc và viết. Bây giờ chúng tôi phải xây dựng lại...Nhưng chúng tôi phải xây dựng từ từ, bắt đầu từ các làng xã. Tại các làng xã vốn đã có sẵn truyền thống dân chủ và quyền tự trị của các làng xã. Đó là một phần văn hóa Khổng giáo...Người dân làng gắn bó với việc thờ cúng tổ tiên...Và chúng tôi muốn loại bỏ những gốc rễ đã ăn xuống quá sâu trong truyền thống Khổng giáo của chúng tôi là tinh thần nho quan hủ bại trong việc xây dựng lại xã hội Việt Nam.

Tôi biết có nhiều người Mỹ và họ cho tôi là một thứ quan lại (mandarin)...Nhưng tôi hãnh diện với vai trò của tôi. Đó là những kinh nghiệm mà người Mỹ chưa từng trải qua - là giới quan lại trong hệ thống Khổng giáo, nhưng quan lại thì phải chính trực liêm chính. Đó là linh hồn của dân chủ. Chúng đã đi ngược lại truyền thống tốt đẹp đó để sao chép thứ “nho quan hủ bại” của quá khứ. Và chúng tôi cũng muốn đem những di sản của chúng tôi vào thời hiện đại. Người Mỹ của cô đã hoàn tất những công trình xây dựng xã hội trên các dòng tư tưởng và những giá trị hoàn toàn khác biệt với các giá trị trong văn hóa của chúng tôi. Sau những cơn hỗn loạn tơi bời vừa qua của lịch sử Việt Nam và những phá hoại của CS. Ưu tiên số một của Việt Nam là ổn định và phải kiểm soát mọi việc thật chặt chẽ, người dân phải tôn trọng chính quyền và tôn trọng luật pháp quốc gia và có bổn phận bảo vệ trật tự quốc gia. Cô Higgins có nhận thấy khi tôi chấp nhận chấp chánh để điều hành guồng máy quốc gia,chính quyền trung ương đã đánh mất hoàn toàn khả năng kiểm soát các vùng nông thôn. Những người Mỹ hiểu được những gì vế truyền thống quan lại với năm đức tính phải có mà Vương Dương Minh đã đưa ra làm tiêu chuẩn cho những người chăn dân giữ nước là chính trực liêm chính và coi dân như ruột thịt. Những người Mỹ đang phá bỏ tâm lý của con người Việt Nam, và họ cũng chẳng hiểu được là họ đang làm gì vậy.

Báo chí và truyền thông ngoại quốc chế diễu kỷ luật quốc gia và tinh thần tôn trọng chính quyền của người dân và cổ súy vinh danh các quyền tự do dân sự (civil liberties) và các quyền khác của người dân cũng như cần phải có đối lập chính trị (political opposition). Nhưng quốc gia của chúng tôi đang đứng trước một cuộc chiến đấu vô cùng cam go và vô cùng khó khăn trước sự sống và sự chết (life and death). Ngay cả nước Mỹ và các quốc gia Tây Phương cũng đã từng giới hạn các quyền tự do dân sự trong hoàn cảnh khẩn cấp của chiến tranh”.

Về phía Mỹ Higgins muốn thấy nhận định của ông Diệm như thế nào? Và ông Diệm cho biết:

“Ông Đại Sứ của cô đến và nói với tôi là tôi cần phải tạo ra một khuôn mặt tự do (liberal image) cho đất nước Việt Nam bằng cách cho phép các cuộc biểu tình trên các đường phố và cho các đảng chính trị đối lập hoạt động công khai...Tôi không thể nào nghe lời thuyết phục của Tòa Đại Sứ, đây là đất nước Việt Nam - đây không phải nước Mỹ. Chúng tôi có lý do chính đáng để cấm các cuộc biểu tình trước lò lửa của chiến tranh sôi bỏng như thế này,và lý do khác nữa là VC có mặt khắp mọi nơi...như thế chuyện gì sẽ xảy ra, và tai vạ nào sẽ mang đến cho chúng tôi, nếu VC xâm nhập len lỏi và trà trộn trong các cuộc biểu tình tại Sài Gòn này, chúng sẽ ném bom và sẽ giết hại nhiều dân của chúng tôi, và có cả báo chí ngoại quốc. Làm sao thoát hay chết cả lũ hay sao? Rồi đến những người thiên tả sẽ nói gì về tôi? Và họ có tin chính quyền của tôi khi chúng tôi nói rằng VC phải chịu trách nhiệm về những vụ giết người hàng loạt như thế, cuối cùng chỉ có những người CS là hưởng được tất cả lợi lộc từ những cơn hỗn loạn như thế! Cô nên suy nghĩ nhiều về những thảm họa đã xẩy ra cho người dân của chúng tôi tại thành phố Huế. Những quả bom plastic do chính VC ném ra...nhưng người Mỹ của cô đã thống trách ai? Họ đã đổ hết lỗi lầm lên đầu tôi - chỉ vì tôi là Tổng Thống nước Việt Nam tự do, và họ đổ tội luôn cho quân đội miền Nam của chúng tôi. Đây không phải trò chơi đùa của bọn con nít. This is not child’s play.

Tôi đâu phải là người nặn ra những tên Việt cộng khủng bố. Tuy nhiên khi tôi nỗ lực để bảo vệ che chở những người dân của đất nước này, bảo vệ cả tính mạng của người Mỹ bằng một hệ thống an ninh chặt chẽ và hữu hiệu của cảnh sát và bảo vệ an toàn các đường phố, và khi làm những việc khó khăn như thế, tôi đã bị mọi người lên án là đàn áp Phật giáo”.

Khi đề cập đến những điểm đó, ông Diệm đột ngột hỏi lại Higgins:

“Cô Higgind ơi! Cô có biết tôi nghĩ gì về chính quyền Mỹ không? Phải chăng đơn giản tôi chỉ là một thứ bù nhìn của người Mỹ hay sao? Hoặc như tôi vẫn thường kỳ vọng - chúng ta có thể là những người cộng tác mật thiết với nhau vì chính nghĩa chung (common cause) không ?
Tại sao tôi lại đặt ra câu hỏi đó - bởi vì tôi đang cố gắng trở thành một người đồng minh trung thành với Mỹ. Tuy nhiên, gần như ngày nào tôi cũng nghe phát thanh của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (the Voice of America) và những nhà báo Mỹ thảo luận với Washington là - chúng ta duy trì để ông Diệm tiếp tục nắm quyền hay chúng ta lật đổ ông Diệm?

Chúng tôi là một nước nhỏ và nước Mỹ là một đại cường quốc. Tôi tôn sùng nước Mỹ về nhiều lãnh vực. Nhưng Tổng Thống Kennedy nghĩ thế nào nếu báo chí Việt Nam tràn ngập các bài viết toàn là những chuyện vẽ vời ra để kêu gọi người dân Mỹ lật đổ TT Kennedy?

Chúng tôi mang ơn những viện trợ của Hoa Kỳ. Nhưng tôi muốn tin rằng nước Mỹ không phải vì viện trợ Mỹ mà biến thành một thứ phương tiện để Mỹ kiểm soát chính quyền Việt Nam. Chắc chắn chỉ có thể biện minh cho sự có mặt của Mỹ tại Việt Nam vì quyền lợi quốc gia của Hoa Kỳ đòi hỏi phải trợ giúp Việt Nam để ngăn chặn làn sóng CS khỏi xâm lăng Việt Nam. Nếu sự thật là như thế thì cung cấp viện trợ cho Việt Nam như một phần trong sự hợp tác Việt-Mỹ trong chiến tranh để đánh bại CS. Nhưng bây giờ tôi nghe là Hoa Kỳ sẽ cắt viện trợ nếu tôi không làm đúng những gì người Mỹ đòi hỏi. Hành xử như thế là quá kiêu căng phách lối khi đưa ra những đòi hỏi như thế không? Hoa Kỳ có một nền kinh tế quá lớn lao và có nhiều điểm đáng kính trọng tôn vinh. Nhưng với sức mạnh của Mỹ là nước Mỹ đương nhiên có tất cả quyền để bắt buộc đồng minh của họ phải thi hành những yêu sách của Mỹ tại Việt Nam à?

Có phải chiến tranh Việt Nam đang diễn ra vô cùng khốc liệt và nóng bỏng, và đây là một thứ chiến tranh mà người Mỹ chưa bao giờ trải qua những kinh nghiệm như thế này. Nếu như Hoa Kỳ đưa ra mệnh lệnh giống như bắt buộc tên bù nhìn phải cúi đầu tuân hành của họ, như vậy thái độ của Hoa Kỳ có gì khác thực dân Pháp không? Tôi biết rõ Hoa Kỳ đang giao tiếp âm thầm với những người Việt Nam ở đất nước này là những người đang âm mưu để lật đổ tôi. Những người này sẽ chẳng làm được gì nếu không có sự tiếp tay và chấp thuận của những người Mỹ. Nhóm người Việt Nam này biết rõ điều đó”.

Higgins tiếp tục dò hỏi ông Diệm: “Thưa Tổng Thống, có phải thực sự ngài nghĩ rằng Hoa Kỳ đang âm mưu lật đổ ngài hay sao ?”

Ông Diệm liền đáp lại: “Tôi không nghĩ là ông Đại Sứ Nolting muốn lật đổ tôi. Tôi cũng thấy không phải CIA Richarson đang có âm mưu lật đổ tôi. Tôi biết có một số viên chức thuộc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ là những người đang sửa soạn đưa ra quyết định để loại trừ tôi. Tôi thực sự không biết tương lai đi về đâu. Tôi cũng không thể nào ngờ và tin được là Hoa Kỳ đang quay lưng hãm hại đồng minh trung thành của họ, khi quốc gia đồng minh ấy đang bị bom đạn chiến tranh khói lửa ngút trời vây hãm bốn bề như thế này, và chúng tôi đang điêu đứng dấn thân trong cuộc chiến đấu để mong sống còn tồn tại của một dân tộc đau khổ tột cùng. Nhưng có một số người quá điên rồ mê sảng, và cả thế giới hình như cũng điên rồ mê sảng như thế.

Cô Higgins ơi! Thêm nữa, tôi hy vọng chính quyền Hoa Kỳ của cô nên có cái nhìn sát thực tế vào nhóm tướng lãnh trẻ đang âm mưu chiếm đoạt chiếc ghế quyền lực quôc gia. Nhóm tướng lãnh này có thực sự trưởng thành chín chắn chưa, hoặc họ hiểu biết được bao nhiêu về phương diện chính trị quốc gia của họ. Làm sao nhóm tướng lãnh này có được một George Washington trong hàng ngũ quân đội của chúng tôi ? ”

Higgins nhận thấy cho đến khi những người Phật giáo tranh đấu tại Huế biến vụ Phật giáo thành bi kịch quá lớn lao, trong cơn khủng hoảng lớn lao này lực lượng chống đối TT Diệm có tầng lớp trí thức, và các tướng lãnh cùng các sĩ quan cao cấp khác trong quân đội miền Nam.
Tất cả nhóm người này chỉ là thiểu số rất nhỏ bé trong dân số của quốc gia - họ thường xuyên tranh cãi ấm ĩ với nhau về những chuyện rất tào lao, họ không thể nào đồng ý với nhau về sự thay đổi chế độ hay làm bất cứ điều gì cho ra hồn. Hành động với những “âm mưu” rồi kết cục cũng chỉ là những “âm mưu” trong các quán cà-phê hay quán nhậu, tạo ra cảnh tranh khôn tranh dại, chẳng bao giờ giải quyết được chuyện gì, dù rất tinh ma quỉ quái đầy mánh khóe nhưng thường không có mục đích rõ ràng...

Để hỏi những kẻ âm mưu này xem có chương trình gì thảo luận cho tương lai của Việt Nam không, từ đó mới thấy những con người này có làm được gì khác không, có “dân chủ” hơn không, hoặc có hiệu năng hơn chế độ của ông Diệm hay không ? Những tướng lãnh và các sĩ quan cao cấp không có được một viễn kiến cho sự thay đổi và tiến bộ hơn một chính quyền dân sự mà họ đang âm mưu lật đổ, nhưng họ còn nguy hiểm hơn,vì khi nắm giữ toàn bộ quyền hành quốc gia để phá tan nát quốc gia nếu họ hạ bệ ông Diệm.

Ông Diệm buốn bã trả lời: It is impossible”.

“Điều đó không thể nào có được bởi vì những người Mỹ nên hiểu rằng về sự độc hại của những đam mê quyền hành vô độ trên đất nước này- thứ ham mê danh lợi đó là sản phẩm của bản chất bán khai và lạc hậu (premitive and backward) của đất nước Việt Nam phát sinh từ hậu quả xấu xa của gần 100 năm đô hộ của thực dân Pháp. Ở đó mọi người đoàn kết với nhau trên một điểm duy nhất, đó là lòng hận thù đối với thực dân Pháp. Tại Hoa Kỳ ngay cả những người Cộng hòa và Dân chủ đã đoàn kết với nhau trên rất nhiều điểm - trên nền tảng triết lý về chính quyền, một phần là chính sách đối ngoại. Nhưng tại Việt Nam chưa hề có một sự thỏa thuận nào về chính quyền sẽ thành lập ra sao. Có một số thành phần tư sản không hiểu được một cách sâu xa cái gì đã gắn bó với toàn dân về ý nghĩa về một nền độc lập của một quốc gia.

Vì tầng lớp trí thức tư sản này là những phần tử hưởng đặc quyền đặc lợi của thực dân Pháp và vì thế họ khước từ không hợp tác tích cực trong việc xây dựng và củng cố nền độc lập quốc gia. Chúng tôi nghe nói có một số người Việt Nam đề nghị mở rộng sự bảo hộ Việt Nam của Hoa Kỳ. Có lẽ họ hy vọng làm được như thế thì họ sẽ hưởng lợi từ những âm mưu của họ. Nếu Hoa Kỳ ủng hộ cho những con người như thế sẽ là một sai lầm lớn lao vô cùng. Những dự mưu bất chính đó sẽ làm tan nát hết khát vọng tự do của người dân Việt Nam muốn thoát ách nô lệ của ngoại bang”. (ngưng trích).

Marguerite Higgins là một trong số rất ít nhà báo ngoại quốc lương thiện trong cuộc Chiến tranh Việt Nam (1955-1975). Và đây cũng là một trong số rất ít cuộc phỏng vấn mà TT Ngô Đình Diệm đã giành cho một nhà báo ngoại quốc. Rất tiếc, ba năm sau cuộc phỏng vấn TT Ngô Đình Diệm, Bà Higgins cũng đã qua đời, ở tuổi 45, không còn có mặt tại Việt Nam những năm tháng sau đó như một chứng nhân lịch sử để so chiếu “những lời trối trăng của TT Ngô Đình Diệm” với những gì xảy ra sau đó trên mảnh đất bất hạnh bị xâu xé bởi cả thù lẫn “bạn”.

Ký Thiệt

Chú thích.

[1] If I die không thể dịch là Nếu tôi bị giết mà phải dịch là Nếu tôi chết. Mà chết thì có thể là chết vì bệnh, chết vì tai nạn thì không có lý do gì cụ Diệm lại yêu cầu phải trả thù cho cụ. Có thể nguyên văn câu này không phải là If I die, avenge for me. Nên đã có người dịch là Nếu tôi chết, hãy nối chí tôi.

*

* * *

LDS: Đảng Cộng Sản là đảng Cướp. Những tên lãnh đạo đảng Cộng Sản là những tên Tướng Cướp.                        

Hãy xóa bỏ huyền thoại

Hồ Chí Minh

Hoàng Cơ Định, CVA 59

      

* Đã đến lúc công khai hoá vai trò điệp viên Trung Cộng của Hồ Chí Minh.

* Để chấm dứt lừa bịp dân tộc Việt Nam từ nhiều thập niên qua.

Kính gửi quý vị cao tuổi, các anh chị em
và các cháu người Việt ở trong và ngoài nước,

Hôm nay là 17/2/2017, ngày đánh dấu 38 năm trước đây Trung Cộng đã xua quân đánh phá và tàn sát đồng bào chúng ta trải dài suốt vùng biên giới Việt Bắc, chúng tôi xin chọn ngày này để tố cáo cùng bà con cả nước một mưu đồ xâm lăng bội phần hiểm độc của kẻ thù phương Bắc, đó là biến một điệp viên của họ thành một nhân vật người dân Việt khắp nước phải tôn thờ…

Từ mấy chục năm qua, cả dân tộc chúng ta và toàn thế giới đã bị lừa bởi một vở tuồng mang tên Hồ Chí Minh do diễn viên Hồ Tập Chương, bí danh Hồ Quang, đóng vai chính với sự dàn dựng của lãnh đạo Trung Cộng và sự đồng loã của đảng CSVN. Trong vở tuồng này nhân vật Hồ Chí Minh đã được tô vẽ để từ một điệp viên chiến lược của Trung Cộng đã trở nên “Bác Hồ” Quốc Phụ của cả dân tộc Việt Nam.

Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc, cũng chẳng là Nguyễn Tất Thành mà ngay cả Hồ Tập Chương cũng chỉ là cái hình hài được gán cho vô số huyền thoại và thần thánh hóa thành nhân vật “Bác Hồ”.

Hồ Tập Chương là một người Tàu gốc Hẹ, nói rành tiếng Việt có tài diễn xuất như một ông già người Việt. Vả lại về diện mạo, giữa người Tàu và người Việt cũng dễ lẫn lộn, trừ một số nhỏ lãnh đạo CSVN ở trong âm mưu từ giờ phút đầu, số còn lại chẳng có lý do gì để thắc mắc rằng Hồ Chí Minh có phải là người Việt hay không. Chưa kể là vì a dua phét lác tâng bốc BÁC để lấy điểm nên đãtự lừa dối mình và bị tẩy não lúc nào không hay. Với đại khối người dân sống dưới chế độ CSVN, Hồ Chí Minh trở thành một thứ thần linh mà mọi phê phán chê bai, ngay từ trong đầu, cũng không dám hé lộ, đến nỗi thơ BÁC ngang phè, chữ viết của BÁC tệ quá gà bới họ cũng không cảm thấy, nhìn thấy.

Hồ Chí Minh được chính thức trở thành Nguyễn Ái Quốc do cuốn sách “Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch” tác giả là Trần Dân Tiên. Lối thuật chuyện của Trần Dân Tiên khiến ai cũng nghĩ chính Hồ Chí Minh là tác giả cuốn sách đó, viết ra vào khoảng năm 45-46 để tự giới thiệu với đồng bào, sau cùng thì chính CSVN cũng thừa nhận Trần Dân Tiên là bút hiệu của Hồ Chí Minh. Nhưng điều này sai hoàn toàn.

Sự thật là cuốn sách “Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch” nguyên tác bằng tiếng Tàu, có tên là “Hồ Chí Minh Truyện” xuất bản vào tháng 6/1949 tại Thượng Hải, tác giả là Trương Niệm Thức. Ngay cả cái bút hiệu Trần Dân Tiên cũng do Trương Niệm Thức đặt ra. Cuốn sách “Những Mẩu Chuyện …” bằng tiếng Việt chỉ được in ra lần đầu tiên tại Hà Nội vào năm 1955.

Về phía Trung Cộng, không rõ vì không bưng bít nổi, hay cũng vì chẳng có nhu cầu phải duy trì bí mật tuyệt đối, con người thật của nhân vật có bí danh là Hồ Chí Minh dần dần xuất hiện qua nhiều tài liệu, hình ảnh.

Hồ Chí Minh tên thật là Hồ Tập Chương, bí danh Hồ Quang, là người Tàu gốc Hẹ sinh vào năm 1901.

Nguyễn Ái Quốc, tức Nguyễn Tất Thành là người Việt sinh tại Nghệ An vào năm 1890 đã chết tại Hồng Kông vào tháng 6/1932 như chính tài liệu của CSVN đã xác nhận.

Vào năm 2007, trong 1 tài liệu chung, cả Trung Cộng lẫn CSVN đều thừa nhận Hồ Chí Minh thật sự là Hồ Quang-Hồ Tập Chương:

Tài liệu ghi rõ: vào năm 1939 Hồ Chí Minh có bí danh là Hồ Quang và 38 tuổi.

Hồ Quang cũng là bí danh của Hồ Tập Chương và Hồ Tập Chương 38 tuổi vào năm 1939.

Nếu Hồ Chí Minh là Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc thì ông phải là 49 tuổi vào năm 1939.

Bàn tay bí mật của Trung Cộng trong việc nguỵ tạo nhân vật Hồ Chí Minh là người Việt chỉ mang dấu ấn của một thợ viết có tên là Trương Niệm Thức, trong khi toàn bộ vở tuồng gian dối là do CSVN dựng lên với hàng ngàn tác phẩm bịa đặt về “Bác”, nhiều khi mâu thuẫn nhau, và nay họ đang bảo dưỡng một trái bom nổ chậm vĩ đại tại Ba Đình.

Tấn tuồng dối trá Hồ Chí Minh đã có hậu quả ra sao?

Hậu quả đầu tiên là các cuộc chiến chống Pháp và xâm lăng Miền Nam Việt Nam (gọi là chống Mỹ), diễn ra trong thời kỳ Hồ Chí Minh nắm quyền trong tay, có mục tiêu mở rộng ảnh hưởng của Trung Cộng về phía Nam hơn là cho nền độc lập và tự do của Việt Nam. Họ Hồ thật sự đã “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Tầu vào”.

Hậu quả thứ nhì, quan trọng không kém, là sự gắn bó của Hồ Chí Minh với Trung Quốc đã tạo dựng nên một tư duy lệ thuộc Trung Quốc kéo dài cho tới ngày nay, cho nên dầu có cuộc xâm lăng của Trung Cộng tại biên giới Việt Bắc vào năm 1979, khi CSVN có hành động vượt quá ý muốn của TC, cũng không xóa bỏ được đầu óc lệ thuộc vào Trung Quốc trong giới lãnh đạo CSVN ngày nay.

Hậu quả thứ ba là tư tưởng nô lệ trong đại khối quần chúng vào một huyền thoại mà chế độ độc tài đã tô vẽ nên qua nhiều thập niên, đó là “Huyền Thoại Hồ Chí Minh”, đã giúp cho chế độ độc tài CSVN ngày nay dựa dẫm vào huyền thoại này để tiếp tục thống trị, mặc dầu nhân vật Hồ Chí Minh đã được phần lớn giải ảo tại chính quê hương Trung Quốc của ông ta. TQ đã nói rõ rằng Hồ Chí Minh là người Tàu có tên là Hồ Quang Hồ Tập Chương, không phải là Nguyễn Ái Quốc Nguyễn Tất Thành, trong khi tại Việt Nam, một số đông vẫn tự bưng tai, bịt mắt không dám nhìn vào sự thực.

Huyền thoại Hồ Chí Minh đã biến khối dân Việt to lớn thành một loại con tin tự trói buộc vào quá khứ lầm lỡ. Huyền thoại đó chính là vật cản ngăn chặn người Việt giải phóng tư duy của chính mình để tiến tới một xã hội tự do chân thực và khai phóng với những tư tưởng tiến bộ.

Cần công khai hoá vai trò điệp viên Tàu của Hồ Chí Minh và hạ màn vở tuồng lừa bịp dân tộc Việt Nam và toàn thế giới từ thế kỷ trước của Trung Cộng.

Đây là lúc đại khối người Việt, ở hải ngoại và quốc nội, đều cần phải nắm vững tai họa và mối nhục của dân tộc từ bao năm qua để cùng viết lại trang sử cho dân tộc.

Huyền thoại Hồ Chí Minh là khởi điểm và cũng là biểu tượng của thói gian dối, lừa bịp của chế độ CSVN.

Mọi người Việt Nam cần mạnh dạn xóa bỏ những ngộ nhận trong quá khứ và gột bỏ những lề thói nô dịch, những dấu vết xâm lăng mà bọn bành trướng phương Bắc và tay chân tại nước Ta, đã áp đặt lên Việt Nam trong nhiều thập niên qua, cần nhìn vào sự thực để cùng nhau xóa bỏ Huyền Thoại Hồ Chí Minh.

Hãy dứt khoát trả lại Hồ Chí Minh-Hồ Quang-Hồ Tập Chương cho Trung Quốc để chấm dứt các tai họa và mối nhục mà Trung Cộng và họ Hồ đã gây ra cho dân tộc Việt Nam chúng ta và chấm dứt tính chất phụ thuộc của Việt Nam đối với Trung Quốc.

(Chi tiết bổ túc cho Lời Kêu Gọi này xin coi trong link:
http://loikeugoi17thang2.blogspot.com/2016/02/tai-lieu-bo-tuc-cho-loi-keu-goi-17.html
.)

Hoàng Cơ Định, CVA 59

|

* * *

Lời Đức Đạt Lai Lạt Ma:

VIỆT NAM:

Một dân tộc đang đứng trước

họa diệt vong

            

Nguyễn Lương Tuyền, CVA 63

Khoảng đầu thập niên 70-80, Thượng tướng Trung Cộng Trì Hạo Điền - lúc đó là Bộ Trưởng Quốc Phòng của TC đã tuyên bố Trung Hoa cần một khoảng không gian cho người dân của họ. Họ Trì là người chủ trương phải có chiến tranh với Mỹ và Tây Phương trong công cuộc tìm “một khoảng không gian cho người Tàu.” Thực sự, hiện nay người Tàu đã có mặt tại khắp mọi nơi trên thế giới, từ những nước hẻo lánh ở Phi Châu cho đến những nước kỹ nghệ tiền tiến tại khắp mọi nơi trên quả địa cầu. Mặc dầu với chính sách “một gia đình, một con” dân số Trung Hoa vẫn tăng vọt. Hiện nay chế độ này đã bị nhà cầm quyền Bắc Kinh bãi bỏ. Người ta chờ đợi bước tăng nhảy vọt của dân số Trung Hoa tại lục địa trong một tương lai gần. TC cố xuất cảng người sang các nước Phi Châu nhưng không thành công vì phản ứng của các dân tộc sở tại.

Lúc còn sinh tiền, Mao Trạch Đông tuyên bố thẳng thừng là Tàu không sợ chiến tranh nguyên tử với Mỹ (mà Mao gọi là con hổ giấy) và Tây Phương. Lý do là sau chiến tranh nguyên tử, dân Tàu vẫn còn sống sót vài chục triệu người, đủ để làm bá chủ thế giới.

Chúng ta đang sống ở thế kỷ thứ 21, nhưng hiện tượng nước lớn chiếm đóng nước nhỏ, tận diệt dân chúng của các nước đó bằng mọi thủ đoạn tàn bạo trong đó có việc đem dân Tàu sang lập nghiệp thật đông đảo, khiến dân tộc sở tại biến thành thiểu số trên chính quê hương của mình. Ngoài ra Tàu Cộng còn hủy diệt văn hóa của dân bị trị. Thí dụ: TC đã phá hủy ngôi đền nổi tiếng Larang Gar ở thủ đô Lassan, Tây Tạng vào ngày 20/7/ 2016. TC bỏ ngoài tai những lời kêu gọi: đừng phá hủy ngôi đền này của toàn thế giới. Ngôi đền này tượng trưng cho văn hóa của Tây Tạng. 

Tại Tân Cương, dân Duy Ngô Nhĩ, gốc Hồi Giáo, dưới sự cai trị bằng bàn tay sắt của người Tàu, nay đã giảm thiểu rõ rệt. Trung Hoa, dưới thời nhà Thanh, đã chiếm đóng Tần Cương vào năm 1821. Năm 1949, người Hán ở Tân Cương chỉ chiếm 7% dân số. Hiện nay dân Hán ở Tân Cương là 40%. 

Tương tự, ở Ngoại Mông, dân số ở đây cũng giảm thiểu nhiều dưới chủ trương ''trường kỳ diệt chủng'' của người Hán. 

Viễn tượng một cuộc diệt chủng tộc Việt bởi người Hán sau khi Trung Hoa biến Việt Nam thành một Đặc Khu của Trung Hoa như Tân Cương, Tây Tạng... đang làm người Việt tại khắp mọi nơi thấp thỏm lo sợ cho tương lai của dân tộc.

Việc giao thiệp giữa Việt Nam và Trung Hoa từ xưa tới giờ

Xin nói ngay, từ xưa tới nay, Trung Hoa luôn luôn có ý định chiếm nước Việt, sát nhập vào nước Đại Hán. Điều này nằm trong bản tính của người Hán. Đó là thôn tính các nước nhỏ chung quanh. 

VN có mặt hàng vạn năm trước Công Nguyên (CN). Còn nếu tính từ thời kỳ các cơ cấu nhà nước được hình thành thì mới khoảng 700 năm trước CN. Đó là nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng, được nhiều người ghi nhận ra là một quốc gia có tổ chức đầu tiên của người Việt với truyền thuyết con Rồng cháu Tiên. 

Theo một số sách cổ sử, các tộc người Việt (cả thảy là 100 nhóm nên được gọi là Bách Việt) lập quốc lần đầu ở Lĩnh Nam, bao gồm một giải đất rộng lớn ở phía Nam sông Trường Giang, tức sông Dương Tử, bên Trung Hoa, đến vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã ở Miền Bắc VN. Truyền thuyết cho biết nhà nước của các nhóm Bách Việt được hình thành từ năm 2879 trước CN tại vùng Động Đình Hồ (Hồ Nam, Trung Hoa ngày nay). Các biến động trong nước Tàu vào thời kỳ này, khiến các nhóm Bách Việt bị tan rã và bị đồng hóa. Đến thế kỷ 1 trước CN, các nhà nước Việt đều bị người Hán thôn tính. Chỉ còn duy nhất một nhóm đến lập nghiệp ở châu thổ sông Hồng để rồi chống trả thành công các cuộc trường chinh xuống phía Nam của người Hán, lập nên nước Việt ngày nay.

Nước Văn Lang lúc mới thành lập, năm 500 trước Công Nguyên

Từ hồi lập quốc tới bây giờ, VN luôn luôn phải đối đầu với người Hán. VN đã bị người Tàu đô hộ rất nhiều lần. Lần đô hộ lâu nhất đã kéo dài hơn 1000 năm, nhưng người Tàu đã thất bại trong việc đồng hóa dân Việt. Văn hóa Trung Hoa đã xâm nhập vào đời sống của người Việt, nhưng biến dân Việt thành người Tàu thì không thể được. Trong những năm bị Tàu chiếm đóng, dân Việt luôn luôn nổi dậy đánh đuổi thành công người Tàu ra khỏi nước Việt Nam.

Người Tàu luôn luôn nuôi ý định chinh phục các nước nhỏ ở chung quanh

Tháng 9/1959, tại Hội nghị Quân ủy Trung ương, Mao Trạch Đông đã tuyên bố: chúng ta phải chinh phục trái đất. Đó là mục tiêu của chúng ta. 

Năm 1954, sau khi đã chiếm được cả nước Tàu, đánh đuổi Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch ra đảo Đài Loan, Mao Trạch Đông đã tuyên bố: vì các triều đại vua Tàu, điển hình là nhà Mãn Thanh quá yếu nên các cường quốc đã xâu xé nước Trung Hoa: Sau khi dùng chiến tranh đánh bại Trung Quốc, các nước đế quốc đã chiếm đi nhiều nước phụ thuộc và một bộ phận của lãnh thổ Trung Quốc. Nhật chiếm Triều Tiên, Đài Loan, Lưu Cầu, quần đảo Bành Hồ và Lữ Thuận; Anh chiếm Hồng Kông, Miến Điện, Butan và Nepal; Pháp chiếm An Nam, Bồ Đào Nha chiếm Ma Cao. An Nam là tên gọi nước Việt Nam, mà theo TC, là một phần của nước Tàu. TC cho vẽ lại bản đồ nước Tàu vào năm 1954. Trong bản đồ này, đế quốc Trung Hoa bao gồm cả Việt, Miên, Lào, Thái Lan...

Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản VN: những kẻ đã toa rập, dâng hiến đất nước cho Tàu để thực hiện mộng "làm đỏ" dân Việt.

Pháp thuộc là giai đoạn lịch sử kéo dài 61 năm, bắt đầu từ năm 1884 khi Pháp ép Triều Đình Huế phải nhận sự bảo hộ của Pháp cho mãi tới năm 1945, là năm Pháp mất quyền cai trị ở Đông Dương khi Thế Giới Đại Chiến thứ 2 nổ ra. Pháp đại bại trước sức tiến của Đức Quốc Xã. 

Nhiều tài liệu khác cho rằng thời kỳ Pháp thuộc phải được tính từ năm 1867 là thời điểm Nam Kỳ Lục Tỉnh bị Nhà Nguyễn cắt nhượng cho Pháp. Pháp luôn luôn nuôi tham vọng trở lại Đông Dương. Với sự thông đồng của Hồ Chí Minh, lúc đó đang đứng đầu Chính Phủ Liên Hiệp, Quân Pháp trở lại VN.

Bản đồ nước Tàu in năm 1954 bởi Trung Cộng
(đường chấm là biên giới của Trung Hoa do TC vẽ)

Chiến tranh chống Pháp luôn luôn được dân Việt phát động với mục đích dành lại độc lập. Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản của ông ta, sau thời kỳ hòa hoãn với quân Pháp lúc đầu để họ rảnh tay tiêu diệt các đảng phái Quốc Gia, đã độc quyền lãnh đạo, độc quyền điều khiển cuộc kháng chiến chống lại sự đô hộ của Pháp.

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Hồ Chí Minh phát động cuộc Toàn Quốc Kháng Chiến, kêu gọi toàn dân chống lại quân Pháp. Đó là Cuộc Chiến Tranh Đông Dương số 1 giữa quân Pháp và dân Việt. Gọi đây là một cuộc kháng chiến của toàn dân vì rất nhiều người quốc gia không Cộng Sản đã gia nhập hàng ngũ kháng chiến. Cuộc chiến với quân Pháp tại thành phố Hà Nội hoàn toàn do các Tự Vệ Thành của Hà Nội phát động, điều khiển. Các Tự Vệ Thành là các thanh niên trí thức tiểu tư sản của Hà Thành. Họ đã cầm chân quân Pháp trong gần 2 tháng, đủ thời gian để dân quân của Hà Nội rút ra khỏi thành phố. Các Tự Vệ Thành, sau này tập họp lại thành Trung Đoàn Thủ Đô, rồi biến cải thành Trung Đoàn Tây Tiến. Nhà thơ Quang Dũng là một thành viên của Trung Đoàn này. 

Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc 

........................................................... 

Rải rác biên cương mồ viễn xứ 

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh 

Áo bào thay chiếu anh về đất 

Sông Mã gầm lên khúc độc hành 

                        (Tây Tiến, thơ Quang Dũng) 

Đảng CSVN độc quyền lãnh đạo cuộc "kháng chiến chống quân Pháp". Chiến tranh Đông Dương chấm dứt năm 1954. CSVN chiếm được 1/2 đất nước kể từ Bắc Vĩ Tuyến 17. Người quốc gia dắt díu nhau về phần 1/2 quê hương, ở phía Nam của vĩ tuyến 17. 

Sự liên hệ mật thiết của CS Trung Hoa với CSVN và Hồ Chí Minh được bắt đầu ngay từ lúc Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông ta nhận được viện trợ từ tay Trung Cộng của Mao Trạch Đông. 

Năm 1949, Mao Trạch Đông và đảng Cộng Sản Trung Hoa hoàn toàn chiếm lãnh nước Tàu. Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch phải bỏ lục địa sang cố thủ ở Đảo Đài Loan. Biên giới giữa Việt Nam và Trung Hoa được rộng mở sau chiến thắng của Mao Trạch Đông. Người Pháp đã ý thức được sự hậu thuẫn của thế giới CS đối với đám CSVN của Hồ Chí Minh và các đồng chí của Hồ, cũng như những khó khăn của quân Pháp trong những ngày tháng sau đó. 

Hồ Chí Minh đã sang Tàu để cầu viện nhiều lần kể từ năm 49-50: 

- Sau khi thành lập Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội (VNCMĐMH) gọi tắt là Việt Minh (VM) vào năm 1941, cướp được chánh quyền vào năm 1945, Hồ Chí Minh đã bí mật sang Quảng Tây (Tàu) ngày 16/1/1950 để cầu viện TC. Chắc chắn Hồ đã thương lượng việc bán nước cho TC. Vì vậy tháng 10/1953, Chánh Vụ Viện tức Quốc Hội của TC đã chánh thức đổi tên Ải Nam Quan thành Mục Nam Quan.

- Hồ Chí Minh đã gặp Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai nhiều lần, khi thì bí mật khi thì công khai, thương thảo để nhận được viện trợ đến từ Tàu cũng như ký các hiệp định bán nước Việt cho Tàu. 

Ngay từ năm 49-50, các cố vấn Tàu đã có mặt ở VN. Trận Biên Giới, năm 49-50 được tướng Tàu là Trần Canh thiết kế và điều động đã gây tổn thất nặng nề cho quân Pháp. Sau khi Trần Canh phải về Tàu làm phó cho Bành Đức Hoài trong chiến tranh Cao Ly, đối đầu với Mỹ và Đồng Minh, một phái đoàn cố vấn gồm Vi Quốc Thanh (đứng đầu phía quân sự), Lã Quí Ba (đứng đầu nhóm dân sự) để cố vấn cho CSVN về mọi phương diện hành chánh cũng như quân sự. Do đó CSVN đã điều hành, cai trị dân tại các "vùng giải phóng" hoàn toàn rập theo khuôn Trung Cộng: các chiến dịch như Cải Cách Ruộng Đất, Rèn Cán Chỉ Quân, Phong Trào Tam Phản, Đấu Tố... đều được phỏng theo các chiến dịch cùng tên ở bên Tàu.

Trận đánh nổi tiếng Điện Biên Phủ là do các cố vấn Tàu Cộng chỉ huy đã đánh bại quân Pháp để đưa đến Hội Nghị Genève, chấm dứt chiến tranh Đông Dương thứ nhất. Điều này đã đưa đến việc chia cắt đất nước ở Vĩ Tuyến 17 vào ngày 20/7/1954. 

CS Bắc Việt càng ngày càng lộ rõ việc bán nước cho Tàu. Năm 1956, Ung Văn Khiêm đã tuyên bố Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc về Trung Quốc. Công hàm của Thủ Tướng VNCS Phạm Văn Đồng công nhận quyền sở hữu của TC đối với Hoàng Sa và Trường Sa. 

Năm 1974, khi Hải Quân của TC đánh chiếm Hoàng Sa, CS Bắc Việt đã im lặng. Hoàng Tùng, Ủy viên Trung ương đảng, Tổng biên tập báo Nhân Dân lại tuyên bố: "thà để Trung Quốc quản lý (Hoàng Sa) còn hơn là để đảo này vào tay bọn Ngụy phản động. Khi nào ta muốn, Trung Quốc sẽ trả lại ta." Thực là một ý tưởng ngây thơ đến độ ngu đần! 

Từ năm 1959, sau khi bắt đầu cuộc chiến xâm lăng miền Nam trên mọi lãnh vực: quân sự, kinh tế, chính trị... CS Việt Nam đã nhận được rất nhiều viện trợ đế từ TC. Có lúc 300000 quân TC đã có mặt tại Bắc Việt, đề phòng Quân Mỹ và quân đội VNCH đánh ra Bắc. 

Sự rạn nứt giữa 2 nước CS "anh em" chỉ bắt đầu sau khi CSVN chiếm được toàn Việt Nam. Cao điểm của việc tranh chấp này là cuộc chiến biên giới vào năm 1979 và những cuộc đụng độ tiếp theo ở biên giới và ở trên biển. Kết quả là VN mất một số đất đai ở biên giới kể cả Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, núi Lão Sơn - một địa điểm chiến lược ở vùng biên giới v.v... VN cũng mất thêm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Mất đảo Gạc Ma là một bi thảm có một không hai: Bộ trưởng QP của CSVN là tướng Lê Đức Anh đã ra lệnh cho các người lính trên đảo không được chống cự. Quân Tàu đã hạ sát các người lính VN, gần 1 đại đội, Lính Tàu đã bắn các người lính VN như bắn bia. 

Khi CS sụp đổ ở Nga, ở Đông Âu, các lãnh tụ CSVN - để bảo vệ chế độ như nguyên Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh đã tuyên bố: "thà mất nước chứ không mất Đảng" - đã quyết định hàng phục kẻ thù truyền kiếp Trung Cộng. Hiệp ước Thành Đô ký năm 1991 giữa các lãnh đạo của 2 nước chắc chắn là một hiệp ước bán nước. CSVN cố dấu kín nội dung của Hiệp Ước nhưng những "rò rỉ"' đã hé lộ nội dung bán nước của hiệp ước này. 

Cuộc chiến biên giới năm 1979 đã cho TC một bài học về sức mạnh quân sự của họ. Họ cũng hiểu rõ ở thế kỷ này chuyện xâm lăng 1 nước láng giềng bằng các phương tiện quân sự việc "không có thể xảy ra được". TC ra sức canh tân quân đội song song với các phát triển về kinh tế. TC đổi chiến lược đối với VN, thay vì dùng quân sự, TC dùng các phương tiện khác để chinh phục Việt Nam. 

Bản đồ về sự hiện diện của người Tàu trên toàn lãnh thổ VN

TC đang tiến chiếm Việt Nam bằng các phương tiện phi quân sự trên bốn (4) mặt: 

- Phía Đông, Hải Quân của TC đã chiếm cứ hoàn toàn biển Đông. VN chỉ còn một vùng biển hẹp ở bờ biển. Chất độc do các công ty Tàu thải ra Biển Đông cộng với các ngăn cấm của Hải quân TC, ngư nghiệp của VN đang bị tiêu diệt. Hàng triệu cư dân ở vùng ven biển trở nên thất nghiệp trong một sớm một chiều.

- Phía Tây, các đập nước ở thượng nguồn của sông Cửu Long, nằm sâu trong đất Tàu, có thể làm thay đổi lưu lượng nước ở hạ nguồn của sông Cửu Long khiến Miền Nam của VN bị hạn hán triền miên. Mùa màng ở vùng châu thổ của Miền Nam VN bị ảnh hưởng xấu, tai hại nặng nề. Người ta đã thấy ở một vài nơi ở Miền Nam, nạn đói đang hăm dọa người dân. Vì hạn hán ở hệ thống sông Cửu Long, nước biển mặn đã tràn vào đồng bằng Miền Nam. Có nơi bị hóa mặn trên một diện tích rộng hàng chục cây số, vào sâu trong đất liền. Việc trồng trọt bị ảnh hưởng nặng nề hơn bao giờ hết. 

- Di dân Tàu, vì lý do vào VN không cần Visa, đang tràn ngập VN. Các đặc khu Tàu mọc lên như nấm. Người Việt cũng như công an Việt không được héo lánh đến các đặc khu này. Vùng Cao Nguyên đầy người Tàu làm việc trong các cơ sở Tàu khai thác Bauxít. Có người cho rằng đó là các lính TC trá hình. Không ai kiểm soát được.

Kinh tế của VN hoàn toàn bị TC khống chế. Hàng TC, hàng độc từ TC hoàn toàn chi phối VN (hơn 90%). Các công trình xây cất, các hãng kỹ nghệ đều do người Tàu trúng thầu, làm chủ. Tóm lại về kinh tế VN đang thở bằng "buồng phổi" của Tàu. 

Về chính trị, CSVN hoàn toàn bị TC chi phối, điều hành. Các lãnh đạo CSVN hay phải sang Tàu trình diện, xin ý kiến.

Kết luận 

Không cần tới giải pháp quân sự, TC đã thành công trong công cuộc chiếm đóng VN. Các lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam đã tiếp tay cho quan thầy Trung Cộng trong việc biến đất nước thành một đặc khu của Tàu. Lịch sử của dân tộc sẽ nghiêm khắc lên án các tên CS tại Hà Nội là một tập đoàn bán nước có một không hai trong lịch sử Việt Nam.

Nguyễn Lương Tuyền
27.10.2016

Cuối Năm Thân:
Nhìn Về Kinh Tế Việt Nam

* * *

ĐàĐẾN LÚC

VIT NAM PHẢI TỈNH NGỦ



Phạm Đỗ Chí, CVA 66

            Cuối năm âm lịch, đời sống chính trị bên Mỹ sôi động với lễ tuyên thệ của TT Trump và cuộc biểu tình chống đối khổng lồ với 3 triệu người được ước tính tham dự do Phụ Nữ Hoa Kỳ tổ chức và có rất đông các thành phần dân chúng tham dự.

Hàng ngày lướt Internet thấy không khí rộn rịp không kém ở Việt Nam cho tuần lễ cuối năm, nhưng là để chờ...ăn Tết! Tin mới duy nhất là thành phần lãnh đạo của chính phủ sang dự Hội nghị Davos ở Thụy sĩ, tổ chức hàng năm vào dịp mùa đông lạnh lẽo này với sự tham dự của nhiều lãnh tụ quốc gia và doanh nhân cấp CEO cũng như một số khoa bảng nổi tiếng. Tuy không có cơ cấu chính thức nhưng tổ chức này được coi là dịp móc nối ở cấp cao, bàn về các vấn đề kinh tế lớn của thế giới, cũng như là dịp cho một số quốc gia “tự quảng cáo” về mình cho vấn đề phát triển và tìm đầu tư quốc tế. Đây có lẽ là trường hợp của Việt Nam tham dự lần này ở cấp Thủ Tướng và có chương trình được chuẩn bị chu đáo, với tin tức là do sáng kiến Bộ Ngoại giao. Theo tuyên bố chính thức, Việt Nam đã “tìm được sự hỗ trợ cho phát triển bền vững”.

PHẢI ĐỔI MỚI LẦN 2

Đây là chi tiết lạ nhưng không đáng ngạc nhiên khi theo dõi các tin tức từ bên nhà vào các hội nghị trong nước cuối năm, với những nguy cơ của một thế Vỡ Trận Tài Chính. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chính thức cảnh cáo Hội nghị Tài chính toàn quốc về nguy cơ Nợ công đã vượt xa mức giới hạn là 65% của GDP, từ lâu đã không được giới hữu trách xác nhận để giữ “màu hồng” cho nền kinh tế và tiếp tục thu hút đầu tư ngoại quốc FDI. Sự cảnh cáo chính thức này phản ảnh trung thực mối nguy của nền kinh tế cuối năm, và có lẽ là động cơ khiến ông không có mặt ở nhà vào dịp tiễn ông Táo, mà thay ông Táo bay sang Thụy sĩ gặp các “thượng hoàng” của kinh tế thế giới để “kết thân” và chờ lúc “cầu cứu” nếu cần?

Đâu là bối cảnh của những mối lo về kinh tế cuối năm 2016 và sự sụp đổ có thể tới năm 2017 về ngân sách quốc gia nói riêng và nền tài chính nói chung?

Tại sao Kinh Tế Việt Nam cần Đổi Mới lần nữa thay vì Một Chương Trình Tái Cơ Cấu Tốn Kém?

 Theo tin tức từ Bộ Kế hoạch Đầu tư dịp cuối năm 2016, chương trình đầu tư được gọi là Tái Cơ Cấu (TCC) đòi hỏi một số “vốn” khổng lồ là mười triệu tỷ VNĐ hay 480 tỷ USD cho thời gian 5 năm 2016-20. Nhưng không nêu rõ là tiền này sẽ lấy từ đâu ra, ngân sách hay vay mượn nước ngoài?

Một phát biểu chuyên gia, nói là sẽ có thể có tài trợ từ Quỹ Phát Triển Hạ Tầng do Trung hoa bảo trợ, là mơ hồ và thiếu trách nhiệm trong tinh thần muốn “thoát Trung” từ nhiều thành phần xã hội.

Tính ra sẽ cần gần 100 tỷ đô la đầu tư TCC cho mỗi năm trong 4 năm sắp tới từ 2017 đến 2020, tức một nửa của GDP năm 2015 (199 tỷ) và gấp đôi tiền tích lũy (tiết kiệm của cả nước) hàng năm khoảng 50 tỷ. Đó là một con số không tưởng. Và không rõ tái cơ cấu gồm những đề mục hay các dự án nào mà tốn kém như thế, và hiệu quả ra sao với chỉ số ICOR (7-8) đã rất lớn của Việt Nam do hiệu quả đầu tư vốn rất kém trong vùng.

Thật sự, theo một số chuyên gia trong và ngoài nước đã nói lên sự thực tại một cuộc Hội thảo tại Sài Gòn cuối năm 2016 thì Việt Nam hiện không có tiền và không cần tiền để đầu tư lớn và tốn kém như vậy. Thực trạng ngân sách 2016 và dự báo 2017 là tiền thu ngân sách chỉ vừa đủ để trả nợ trong và ngoài nước và chi thường xuyên. Đầu tư chính phủ gần như hoàn toàn dựa vào tiền đi vay. Lấy đâu ra để đầu tư tái cơ cấu như đề ra như trên?

 Chương trình Đổi Mới của nền kinh tế Việt Nam gần sụp đổ vào các năm 1986-1990 đã dựa vào đổi mới cơ chế và tạo thành công kinh tế đáng kể trong hai thập niên vừa qua, mà không cần đầu tư nhiều, là thí dụ về thay đổi cơ chế sản xuất và cho giá gạo trong nước được ấn định tự do theo thị trường.

Hai thí dụ quan trọng cho việc tái cơ cấu mà cần ít vốn hơn là; (i) sự phối nhập giữa các hãng công nghệ trong nước với các chương trình đầu tư của nước ngoài (FDI, Foreign Direct Investment) để học hỏi và áp dụng công nghệ cao hiệu quả từ bên ngoài như bài học từ kinh nghiệm Đài Loan và Hàn quốc; và (ii) tái phân bổ nguồn lực từ khu vực công nghệ sang khu vực dịch vụ và nông nghiệp để có thể làm cho mức sản xuất nội địa GDP (Gross domestic product ) tăng trưởng nhanh hơn và hiệu qủa hơn.

Nhưng quan trọng nhất, Đổi Mới lần nữa bây giờ, theo ý kiến từ trong hay ngoài nước cũng phải dựa vào cải cách thể chế cơ bản, là :

(1) Phải dành nhiều tự do hơn cho khu vực kinh tế Tư Nhân;

(2) Phải cởi trói Doanh Nghiệp và 

(3) Tiến hành giải thể hay cổ phần hóa nhanh chóng khối lượng Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) đang tiếp tục làm ăn thua lỗ và khống chế toàn nền kinh tế.

Chính sách tái cơ cấu kinh tế mới này có ý nghĩa và thích hợp cho vai trò một chính phủ muốn “kiến tạo” như Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc từng tuyên bố nhiều lần. Nhưng chủ trương này chỉ có thế thành công khi Nhà nước từ bỏ vai trò “chủ đạo”, không nhằm điều khiển hay tạo dựng tất cả thay đổi về chính sách và điều kiện thực hiện, mà chỉ hướng dẫn, kích thích các sáng tạo từ thị trường.

Vai trò của khu vực kinh tế tư nhân cũng phải được tôn trọng và cổ vũ để phát triển kinh tế cả nước dựa theo thị trường tự do thật sự. Trong điều kiện này, nền kinh tế mới phải xóa đi chủ trương mơ hồ của đảng Cộng sản Việt Nam được gọi là “Xây dựng và phát triển đất nước theo mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.”

Chính nhà nước Việt Nam cũng chưa định hình được thế nào là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, nhưng nhiều chuyên gia kinh tế hàng đầu trong và ngoài nước đều đã khuyến cáo nó là lực cản phát triển cần phải được dứt khóa cắt đứt nếu Việt Nam muốn thành công.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần có một chương trình cải cách thể chế chính trị và chính sách kinh tế một cách toàn diện. Ưu tiên là phải “cởi trói” cho doanh nghiệp tư nhân để tạo cú hích cho tăng tốc phát triển nền kinh tế. Chương trình đó có thể bắt đầu với Sàigon là thí điểm, sau đó có thể lan rộng ra các thành phố lớn như Hà nội, Đà nẵng, Hải phòng, Cần thơ như đã được bàn tại “Diễn đàn cấp cao Việt Nam 2016 : Ra khơi thuận buồm xuôi gió” (tiếng Anh : Vietnam Summit 2016 - Smooth sailing ahead), tổ chức tại Sài Gòn trong hai ngày 2 và 3/11/2016.

ĐẦU TẦU SÀI GÒN

Nhưng làm sao để Sài gòn tiếp tục giữ vị trí đầu tàu kinh tế của cả nước Việt Nam như chủ trương của đảng CSVN ?

Thứ nhất, cần khắc phục những khó khăn đang “trói buộc” sự phát triển của doanh nghiệp, những rào cản phát triển của thành phố này nói riêng và cả nước nói chung.

Thứ haiSài gòn cần xây dựng một chương trình cải cách thể chế kinh tế một cách toàn diện, gồm cải cách hệ thống quy định pháp luật, chính sách kinh tế và cơ chế thực thi.

Thứ ba, Sài gòn có thể phát triển thành Đặc khu Kinh tế và Thương mại dựa trên ba trụ cột kinh tế :

(1) Thành lập và phát triển Trung tâm Công nghệ cao vào năm 2018, gồm xây dựng Quy chế đặc biệt cho Khu Công Nghệ cao, khuyến khích phát triển doanh nghiệp mới đi đôi với phát triển giáo dục và công nghệ cao; 

(2) Chuẩn bị cho việc hình thành Trung tâm Tài chính vào năm 2020; 

(3) Phát triển hệ thống du lịch hạng cao hơn hiện tại với môi trường sạch đáng sống.

Các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam cũng phải quan tâm đến điều quan trọng nhất trong cải cách thể chế kinh tế là xây dựng pháp luật công bằng, bình đẳng về cơ hội và tiếp cận nguồn lực giữa doanh nghiệp công và doanh nghiệp tư nhân và ngay trong nội bộ doanh nghiệp tư nhân. Cũng phải xoá bỏ những ưu tiên chỉ dành cho một số ít doanh nghiệp (thí dụ để một số ít nhà đầu tư “sân sau” hưởng lợi lớn).

Trở lại với đầu đề chính về đe dọa cho nền kinh tế Việt Nam cho năm mới, song hành với nợ công thật sự (kể cả nợ của các xí nghiệp quốc doanh) được ước tính đã lên tới trên 100% GDP, còn phải kể đến “cục đông” là món nợ xấu ngân hàng vượt trên 10% theo ước tính quốc tế (chứ không phải con số “đẹp” chính thức công bố là 3%). Đây là hai lý do quan trọng có thể đưa đến một thế vỡ trận tài chính cho năm 2017.

Nhưng lý do chính yếu cho kinh tế Việt Nam còn phát triển tạm khá chung quanh mức tăng 6% của GDP nhờ vào lượng đầu tư dồi dào FDI trên 10 tỷ USD mỗi năm trong các năm vừa qua, và tỷ giá của Đồng VN cũng theo đó đứng vững, phần lớn dựa vào hy vọng của hiệp định TPP tương lai từ năm 2017.

Nhưng từ ngày 23/01/2017 vừa qua, chính phủ Trump đã chính thức tuyên bố rút khỏi TPP. Với thực tế đó, FDI liệu còn đóng nổi vai trò trụ cột đó cho Việt Nam không? Và tỷ giá của ĐVN sẽ ra sao nếu đồng Nhân Dân Tệ của Trung hoa sẽ xuống dốc không phanh với các biện pháp chế tài thương mại mới của Hoa kỳ và tiếp đó là khủng hoảng lòng tin của dân Tàu với đồng tiền của nước họ?

Ở thời điểm giao mùa giữa hai năm cũ và mới, tất nhiên điều mơ ước của người viết cho quê hương cũ của mình là một đất nước tự do, thanh bình và phát triển. Những nhà lãnh đạo hiện thời có vẻ bắt đầu tỉnh ngủ về thực trạng kinh tế. Nhưng liệu họ có sớm tỉnh ngủ cả về chính trị để thực hiện cho Việt Nam những cải tổ về chính trị như Myanmar (Miến Điện) đã làm cho đất nước họ trong vài năm gần đây? -/-

Phạm Đỗ Chí, CVA66


* * *

CHU VĂN AN VÀ TÔI

Võ Kỳ Điền, CVA 60

Những ngày mới định cư ở Montréal, một thành phố lớn của Canada, tôi được người bạn thân rủ đi chơi Québec. Thành phố nhỏ, đẹp và xinh xắn y như một thành phố bên Tây (vì lúc nhỏ thường coi mấy hình chụp phong cảnh nước Pháp trong các sách vở, tạp chí.) Hai đứa đi thang lang hết đường nầy sang ngỏ kia, cảnh đẹp như tranh vẽ, tôi là nhà quê ra tỉnh, đâm mê man, ngó ngang ngó dọc. Chợt thấy một nhà hàng chuyên các món ăn Pháp thuần túy, có quảng cáo các món ăn ngon thêm câu ngộ nghĩnh -quí khách được coi tay miễn phí. Quảng cáo nầy hấp dẫn quá, tôi khoái chí kéo anh bạn bước vô liền. Sau khi ăn uống no nê, tôi đến bà thầy ngồi phòng bên cạnh, rụt rè chìa ra cái biên lai ăn uống và nhờ coi tay dùm. Gọi là bà chớ thật ra cô đầm nầy còn trẻ, độ chừng trên dưới 30, đặc biệt là khá đẹp. Bà nắm lấy bàn tay tôi, tôi cảm thấy tay bà mát rượi, da đầm sao mà mượt mà, êm ái như nhung. Bà cười nheo mắt, chắc tại tôi hơi run…

Bà nói nhiều chuyện về đời tôi, đại khái tánh tình ra sao, ưa màu gì, tôi ưa số mấy, giao thiệp với bạn bè và hạp với bạn gái hay bạn trai… Tôi nghe vui vui và bất chợt bà nói câu nầy : ông là người có tài nhưng không biết xử dụng cái tài đó. Ông làm cái gì cũng bỏ dở nửa chừng… rồi bà cười và kết luận -cho nên kể như ông không có tài năng gì ráo trọi, làm cái gì không ra cái gì. Lúc đó tiếng Tây tôi còn kém, giọng Québécois lại khó nghe, đại khái tôi hiểu ý bà là như vậy. Tôi tự ái, hỏi lại -xin bà vui lòng giải nghĩa cho tôi hiểu rõ hơn chỗ nầy… Bà chỉ cho tôi đường chỉ tay ngoằn ngoèo -rồi giải nghĩa, khi nhỏ, ông sanh ở một nơi cư ngụ một nơi, không theo một trường nào lâu dài, nay học trường nầy, mai học trường kia, làm quen bạn gái, nay cô nầy mai cô kia, chuyện gia đình cũng vậy, nghề nghiệp cũng vậy, nay làm nghề nầy, mai làm nghề kia, nhà cửa cũng vậy, các trò chơi trong đời cũng vậy… Ông mê thì mê mang, hết mê rồi ông bỏ liền không luyến tiếc, tình cảm thì say đắm như nghệ sĩ nhưng lý trí thì của một ông thầy giáo chừng mực, thành ra đời ông cái gì cũng được có phân nửa, làm sao mà thành tựu lớn cho được, phải không nào, ông thử nghiệm lại coi. Rồi bà cười, ngay cả sống ở Việt Nam cũng có phân nửa đời thôi, bây giờ ông ở Canada nè.. mà chưa chắc ở Montréal hoài đâu, rồi ông sẽ đi nữa…

Mùa xuân nầy, tôi đến cư ngụ tại Toronto. Buổi trưa nhận cú phone người bạn mới rủ viết về những kỷ niệm học ở Chu Văn An khiến tôi đâm nhớ miên man và lan man những thầy những bạn Chu Văn An, Chu Văn An…. Những ngày tháng mới lớn. Lời của bà đầm chợt nhớ -ông đâu có học trường nào lâu. Quả đúng y như vậy, chuyện học hành của tôi cũng lung tung, tôi học Chu Văn An chỉ trọn vẹn có một năm, năm Đệ Nhứt, niên khoá 1959 -1960, tính đến nay là một đoạn thời gian quá dài đối với một đời người, có chuyện nhớ và chuyện quên…

Nhớ lại hồi đó, tôi hoàn toàn không có ý niệm nào về việc học, việc chọn ngành nghề. Hễ lớn lên là phải đi học, chớ không phải đi chơi. Như vậy là làm đủ bổn phận rồi, mà bổn phận đối với ai, đối với cái gì thì không biết, vì có ai nói gì đâu mà biết. Đậu xong Tú Tài Nhứt, khoẻ quá tha hồ đi chơi, đi chơi… Có anh bạn hỏi -mầy nộp đơn trường nào chưa. Tôi trả lời tỉnh queo -chưa, còn lâu mà. Anh ta trợn mắt, lâu gì mà lâu, còn có mấy ngày nữa là hết hạn nộp đơn vô mấy trường công rồi, coi chừng không kịp, nộp đơn xong còn phải chờ cứu xét chấp thuận, nếu được thì hay quá, không được thì năm nay mầy học ở đâu?

Tôi nghe mà đâm lo -theo mầy thì bây giờ tao phải làm sao. Anh bạn nói, mầy chỉ còn cách nộp đơn vô học Chu Văn An thôi, vì mầy đậu Bình Thứ, đương nhiên được nhận, chớ mầy nộp Pétrus Ký thì phải chờ cứu xét, rủi đông quá, thì có thể không được.

Tôi bèn ba chưn bốn cẳng xách đơn vô nộp Chu Văn An mà run trong bụng. Việc được học trường nầy là đương nhiên rồi vì có quy định rõ ràng cho người đậu cao, nhưng không phải run vì việc đó, mà tôi là dân Nam kỳ, đáng lẽ phải xin học Petrus Ký. Trường Chu Văn An là của Bắc kỳ, nghe nói học sinh Bắc kỳ khôn ngoan, lanh lợi và ma mảnh, lại ưa đánh lộn lắm. Tụi nó đánh lộn với tụi học sinh Kỹ Thuật Cao Thắng hà rầm.. tụi Cao Thắng là dân thứ dữ, ưa dùng bù lon, kềm búa, mà không sợ, lại dám đánh lộn thì chắc là phải dữ hơn, tôi đoán vậy. Tôi vốn ở tỉnh nhỏ và chưa quen gặp gỡ bạn bè người Bắc nhiều, thuở đó người Bắc và người Nam còn xa lạ lắm, chớ không như bây giờ.

Trường là một dãy lầu hai từng, trong khuôn viên trường Petrus Ký, trên đường Cộng Hoà, nó vốn là ký túc xá cho học sinh nội trú, bây giờ được dành ra cho Chu Văn An từ ngoài Bắc di cư vô, có hàng rào kẽm gai ngăn đôi hai trường ra. Ở ngay cổng ra vào cạnh Petrus Ký có quán bán bánh cuốn nóng nhưn thịt của vợ con bác tùy phái. Bánh cuốn rất ngon và thơm lừng mùi củ hành phi, không lúc nào vắng khách hàng. Tôi còn nhớ, có lần đương học, đói bụng quá thèm ăn bánh cuốn, trốn học lén ra quán ngồi ăn, bị ông Tổng (giám thị) Lãng đi ruồng, chạy trốn muốn chết, ngày đó bỏ học, lang thang ra chợ Sài Gòn, chun vô coi hát cho hết ngày. Ngày đầu tiên vào lớp, tự nhiên đám Nam Kỳ tụi tôi được chừng chục đứa, sớm làm quen nhau và giành ngồi hết mấy dãy đầu bàn. Mấy bạn còn lại ngồi chỗ nào, tôi không nhớ. Tôi may mắn gặp lại được các bạn thân là Huỳnh Thiếu Hoa và Chiêm Thanh Hoàng, hai bạn nầy cùng học Văn Lang với tôi năm vừa qua. Bàn sau lưng tôi là Triệu Quốc Mạnh, Trương Bửu Sum, Võ Văn Nho, Huỳnh Quảng….

Như vậy trước là thầy, xung quanh tôi là bạn thân hết, có gì mà sợ. Mà quả tình cũng không có gì đáng sợ. Ngày qua ngày, các bạn Bắc cũng hiền lành, cũng ham học, cũng lễ phép… y như tụi Nam chúng tôi và cũng chưa thấy tụi nó đánh lộn lần nào. Nhưng mà chưa chắc giống y, hình như tụi Bắc học giỏi hơn. Tôi thuộc hạng thông minh và khá giỏi, ở mấy trường cũ, Nguyễn Trãi, Văn Lang… thầy giảng bài là hiểu ngay liền, không thua đứa nào. Nhưng mà bây giờ mỗi lần làm bài tập so điểm lại thua vài đứa, nhứt là Nguyễn Hoàng Giáp, ngồi bên góc trái, tận phía sau. Tay nầy ốm ốm đen đen, hơi xấu trai, lầm lầm lỳ lỳ mà sao học hay quá, môn gì cũng nhứt lớp. Tôi đâm ra khó chịu, ganh tức và tìm cách chọc phá.

Nguyễn Hoàng Giáp ngồi tuốt phía sau. Mỗi lần thầy viết bài học trên bảng, thì Giáp đi lên trên cạnh chỗ tôi ngồi, đóng cánh cửa sổ lại, để ánh sánh đừng phản chiếu chói chang, cho dễ thấy. Tôi chờ khi Giáp quay lưng, đưa tay đẩy nhẹ cánh cửa mở ra và ngồi im. Khi Giáp quay về tới chỗ, thì vẫn không đọc được bài. Giáp tưởng là cửa đóng không kỹ bị gió thổi tung ra.. Giáp kiên nhẫn đi trở lên và đóng cửa lại kỹ càng, khi quay lưng đi thì Trương Bửu Sum lẹ tay tháo chốt cửa và mở toát ra… rồi cũng ngồi im ngoan ngoãn. Giáp trở về, nhìn lên bảng đen chói chang, biết có đứa phá và không biết đứa nào, giận dữ và chửi đổng -đồ khốn lạn, lạn, lạn, lạn,… giọng Bắc của Giáp nặng sệt và kỳ cục, giọng Nghệ An-Hà Tĩnh gì đó, vang vang giữa lớp nghe lớn lắm, chữ lạn kéo dài ngoằn. Mấy thằng Nam tụi tôi nháy giọng của Giáp chửi lại -đồ khốn lạng, cũng lớn không thua gì giọng Giáp. Giọng Nam của chúng tôi cũng nghe kỳ cục lắm, khốn lạng, lạng, lạng… Cả lớp lúc đó không còn Nam, Bắc gì hết, xúm nhau lại mà cười rần rần. Giáo sư đang giảng bài là cha Khiết, dạy Triết, cha mặc áo chùng thâm, hiền thiệt là hiền, giữa trưa nóng bức, nghe cả lớp cãi lộn cũng ngừng lại hỏi, các con làm gì mà ồn thế…

Bạn Nguyễn Hoàng Giáp nghe đâu sau nầy là Tiến sĩ Dược Khoa và là giáo sư Đại Học Dược rồi hình như nhập ngũ, bạn có thời là Giáo sư Trường Võ Bị Đà Lạt hay Kinh Tế Chánh Trị, Kinh Doanh gì đó, tôi nghe như vậy mà không chắc… Nếu bạn Giáp tình cờ mà đọc được những dòng nầy thì cười lớn một phát nghen và cứ tha hồ chửi tiếp, cái thằng Võ Tấn Phước nầy khốn lạn thiệt tình…

Cha Khiết, dạy môn Triết thiệt là khó hiểu. Cha không soạn bài, mỗi buổi có giờ dạy thì cha cầm cuốn Triết Học Khảo Luận của Cao Văn Luận, vừa đọc vừa giải nghĩa. Giọng cha trầm trầm như đọc kinh. Giữa trưa, nóng bức, lớp học lại đông, không ai còn ham muốn nói chuyện nữa, thiệt là buồn ngủ hết sức. Vậy mà có buổi vui ghê, quên luôn cả việc ngủ gục. Số là vào những ngày gần lễ Giáng Sinh, cha không dạy bài trong chương trình. Cha nói chuyện Chúa Hài Đồng được sanh ra ở thành Bethlem. Chúa ra đời ở máng cỏ ở một xứ sa mạc hoang vu, chuyện sanh nở chỉ trong vài giờ mà cha nói gần hai tuần, vẫn chưa hết… Sau khi nghỉ lễ vô, thì cha nói tiếp những đêm vui Giáng Sinh ở Pháp, ở Anh, ở Hoà Lan, ở Na uy… rồi cuối cùng cha nói tới lễ Giáng Sinh Hà Nội. Có đứa vọt miệng hỏi -thưa cha, tại sao trong đêm Giáng sinh người ta phải ăn réveillon bằng ngỗng. Cha nói đó là tập tục ở Âu Châu, có từ lâu đời. Sau đó cha nói tiếp, ở ngoài Bắc đâu có ngỗng mà ăn, người ta ăn réveillon bằng thịt chó, có gì ăn nấy chớ không bắt buộc.

Việc ăn thịt chó lúc đó còn quá xa lạ đối với học sinh Nam chúng tôi và điều đó cũng là thứ cấm kỵ. Cả đám đâm ra vô phép hỗn hào với cha : -Cha ăn thịt chó, cha ăn thịt chó… Tôi cứ tưởng là cha sẽ giận dữ và rầy la, nào ngờ cha cười hiền hoà và nói -ừ ừ, cha có ăn và thịt chó ngon lắm. Chúa sanh ra muôn loài để cho người ăn thịt như mình ăn thịt bò, thịt heo, thịt gà vậy… Nghe cha nói, tôi chưng hửng và thấy mình sai lầm.

Cha Trần Trinh Khiết chắc đã mất từ lâu rồi, tôi nghĩ như vậy nhưng dáng điệu, cử chỉ khoan hoà, từ ái của cha, tôi còn nhớ mãi. Cha đúng là nhà tu hành và là nhà giáo đầy đạo hạnh. Tôi đem tâm phân biệt, chấp trước nặng nề mà phê phán cha, khó mà tha thứ được, vậy mà cha không để ý đến, coi như là không có… Bây giờ đây tuổi đời khá cao, chuyện đời đã trải, ngọt bùi, chua cay, đắng chát, nếm hết, tôi kính phục thương mến cha nhiều hơn thời còn đi học. Tôi tuy học được những bài Triết khô khan nhưng không học được công phu hàm dưỡng của cha. Lớp Đệ Nhứt của tôi năm ấy 47 học sinh, thấy chơi nhiều hơn học. Vậy mà thi kỳ nhứt đậu ngay 43 đứa và 4 bạn còn lại cũng đậu nốt kỳ nhì. Toàn là đậu hạng cao, chỉ có vài bạn đậu Thứ. Ngộ ghê chưa. Chu Văn An thiệt là giỏi.

Năm ngoái tôi có nói chuyện với bạn Chu Văn An cũ là Chiêm Thanh Hoàng, Thiếu Tá Lôi Hổ hay Biệt Kích gì đó, chủ tịch Hội Ái Hữu Võ Bị Đà Lạt, hiện nay ở Boston. Hoàng nhắc lại Chu Văn An của chúng tôi ngày xưa và hỏi tôi còn nhớ Triệu Quốc Mạnh. Tôi nói -còn chớ sao không, cái thằng hiền lành, mập mập. Hoàng cười -nó mà hiền, mầy có biết bây giờ nó làm gì không. Tôi trả lời tỉnh queo -không. Rồi hỏi -nó làm gì, khá không, có vượt biên như anh em mình không ?

Hoàng cười chua chát và cho tôi biết, sau khi Nguyễn Văn Thiệu từ chức thì Trang Sĩ Tấn cũng từ chức theo, luật sư Triệu Quốc Mạnh thay thế chức vụ Tổng Giám đốc Công An Cảnh Sát thành phố Sài Gòn trong Chánh phủ Trần Văn Hương và Dương Văn Minh. Sau ngày mất nước thì Triệu Quốc Mạnh được trọng dụng và làm lớn hơn nữa, nó vượt biên như anh em mình để làm chi.

Bà thầy coi chỉ tay nói tôi nhiều chuyện, đúng hay sai thì bây giờ chưa biết được. Nhưng chuyện bà nói tôi thường hay đổi trường và học trường nào cũng chỉ có phân nửa thì thiệt là đúng. Nếu tôi học một trường thiệt dài, thiệt lâu như các bạn ở Chu Văn An, Pétrus Ký, Võ Trường Toản, thì có thể hy vọng tôi sẽ giỏi hơn nhiều. Tôi chỉ học Chu Văn An vỏn vẹn có một năm, tiếc quá…

Hình ảnh trung học Chu Văn An tọa lạc khu ngả sáu Cộng Hoà, cạnh bên Tổng Nha Cảnh Sát Đô Thành với hai dãy lầu im lìm, cũ kỹ rêu phong, thấp thoáng trong các tàn lá còng xanh muớt, vẫn còn lưu luyến hoài trong mớ ký ức bề bộn…(sau đó trường sở đổi thành Đại Học Sư Phạm và tôi cũng lại tiếp tục học nơi đây). Nhớ về ngôi trường cũ một thời chợt đến, chợt đi, tuy thời gian có ngắn, có dài nhưng đó cũng là khoảng thời gian đẹp của tuổi hoa niên. Tính ra ngày đó tôi còn trẻ măng, bây giờ già ngắc già ngơ, gần nửa thế kỷ rồi còn gì. Tìm đâu cho ra thời thơ mộng cũ?

                                                                                                                                  Võ Kỳ Điền

{

* * *

Lớp P2/B2 Chu Văn An, 

1964 -1971

Nguyễn Tá Mẫn & Vũ Trọng Phòng

Như chúng tôi đã trình bày trong quyển Kỷ Yếu “Theo Giòng Lịch Sử” của Đại Hội Toàn Cầu Bưởi-Chu Văn An, Kỳ 5 năm 2015, bài viết này một lần nữa giới thiệu đến các bạn những sinh hoạt của lớp chúng tôi từ ngày bắt đầu lớp Đệ Thất P2, niên khóa 1964-1965 cho đến ngày nay, sau hơn 50 năm. Chúng tôi theo học lớp P2 từ Đệ Thất đến Đệ Tứ, sinh ngữ chính là Pháp Văn và B2 từ Đệ Tam đến Đệ Nhất. Tuy nhiên bắt đầu từ niên khóa 1969-1970, Bộ Giáo Dục VNCH thay đổi tên gọi của các lớp Trung Học, từ Đệ Thất đến Đệ Nhất nay là lớp 6 đến lớp 12, thay vì Đệ Nhị B2 nay được gọi là 11B2. Sau biến cố Tết Mậu Thân 1968 và vì luật Tổng Động Viên năm đó, gần một nửa lớp chúng tôi đã phải rời trường để nhập ngũ. Năm Đệ Tam sĩ số lớp chỉ còn khoảng trên 30 học sinh, và những năm sau đó nhà trường phải thu nhận thêm học sinh từ các trường khác vào cho nên chúng tôi lại có thêm một số bạn mới nữa.

Tuổi học trò nào mà không có những kỷ niệm nghịch ngợm, mà kỷ niệm đáng ghi nhớ nhất của lớp chúng tôi là vào năm Đệ Ngũ P2, giờ Pháp Văn của thầy Nguyễn Công Thương. Chúng tôi đã đặt pháo nổ chậm trong giờ ra chơi trước khi thầy vào lớp, kết quả là thầy Thương đã đưa 6 học sinh ra Hội Đồng Kỷ Luật để trừng phạt. Biên bản Hội Đồng Kỷ Luật đã được thầy Hiệu Trưởng Dương Minh Kính ký ngày 17 tháng 5 năm 1967, chúng tôi còn giữ lại và đính kèm với bài viết này. Tóm tắt cuộc nghịch phá này là Thầy Thương bắt học sinh Bùi Văn Thắng làm chủ mưu đốt pháo, mà thật sự Thắng không có làm, sau đó Thắng phải khai ra những bạn mình đã làm, nào Bùi Thế Đức, mang pháo và châm ngòi lần 1, Vũ Trọng Phòng, châm ngòi lần 1, Nguyễn Hữu Việt, đặt pháo dưới gầm và trên cửa gần bàn giáo sư, Lê Văn Nhơn, châm ngòi pháo thứ 2, Phạm Huy Hợp, châm ngòi pháo thứ 2 và Nguyễn Văn Tại, chỉ cách đặt pháo lần 1. Sau đó Hội Đồng Kỷ Luật đã quyết định như sau: Bùi Thế Đức, đuổi 15 ngày, ghi học bạ, cúp học bổng; Vũ Trọng Phòng, đuổi 7 ngày, ghi học bạ; Phạm Huy Hợp và Nguyễn Hữu Việt, đuổi 3 ngày, cúp học bổng; Lê Văn Nhơn, cúp học bổng, và sau cùng Nguyễn Văn Tại, khiển trách kỷ luật, ghi học bạ, cúp học bổng.

Trong biên bản Hội Đồng Kỷ Luật có đề cập đến việc học sinh Phạm Huy Hợp là em trai của Giáo Sư Phạm Xuân Lương, và hôm đó GS Lương đã đại diện cho phụ huynh của học sinh Hợp. GS Lương đã tuyên bố tại buổi họp xin Hội Đồng cứ thẳng thắn trừng phạt học sinh Hợp theo tội trạng, chứ không tha thứ.

Bây giờ hơn 50 năm sau ngồi nghĩ lại tuổi học trò thật nghịch ngợm, hồn nhiên. Quả đúng là "nhất quỉ nhì ma thứ ba học trò Chu Văn An”.

Một kỷ niệm nghịch phá của lớp tôi vào năm Đệ Tam B2, giờ Việt Văn của thầy Trần Đình Ý. Thầy Ý thường đem theo cặp-táp bằng da vào lớp, thầy hay để trên bàn và thầy luôn xuống phòng họp giáo sư để uống nước trà trong giờ giải lao sau khi thầy dạy được một tiếng. Mỗi lần thầy vừa rời lớp sau, lập tức những học sinh ngồi đầu bàn chạy lên bàn giáo sư, cầm cặp của thầy và ném xuống lớp. Các học sinh chúng tôi cứ như thế chuyền cặp của thầy vào hết bàn này đến bàn nọ. Cặp đến tay ai thì phải chuyền nhanh không thôi sợ rằng thầy quay lại lớp, bắt gặp cặp của thầy vào tay ai, học sinh đó sẽ bị phạt ngay. Dĩ nhiên lúc đó lớp rất ồn ào, náo động. Một hôm có lẽ thầy biết được trò chơi của chúng tôi, thầy cứ tự nhiên đi xuống phòng giáo sư và quay lại trong chốc lát, nhìn vào khe cửa sổ để xem chúng tôi có làm gì không. Biết được như vậy, vài học sinh trong lớp mới la lên "Ý rình !! Ý rình !!". Thế là lớp chúng tôi yên lặng lại, và cũng may cặp của thầy vẫn còn ở trên bàn giáo sư, chưa được ném xuống lớp.

Một kỷ niệm vui, nghịch nữa của lớp chúng tôi là trò chơi ném dép trong khi thầy đang viết bài trên bảng. Ngày xưa chúng ta đi học Trung Học đều mang dép, hầu như không có học sinh nào đi giày cả. Lúc ngồi trong lớp, các học sinh ngồi bàn đầu hay bàn thứ hai thường hay gác chân lẫn nhau nên một hay hai chiếc dép đều không mang vào chân... Thế là các học sinh ngồi bàn sau mới khều chân lấy dép, rồi chuyền mấy chiếc dép này về các học sinh ngồi bàn cuối trong lớp (xóm nhà lá). Chúng tôi còn nhớ hôm đó vào giờ Vật Lý lớp Đệ Tam B2, lúc thầy Sâm đang viết và giảng bài, một học sinh mất dép đứng lên nói “Thưa thầy em bị mất dép”, thầy bèn quát lên “Đi học có đôi dép mà không biết giữ”, thế là cả lớp chúng tôi cười ồ lên... Lập tức có tiếng nói từ cuối lớp vang lên “quay lên có liền”... Học sinh mất dép, ngồi xuống quay lại nhìn lên bảng thì vài giây sau tự nhiên có vật gì ném vào đầu mình, nhìn lại hóa ra là chiếc dép của mình, thành ra yên lặng, không nói gì được cả.

Tóm lại có khoảng hơn 80 học sinh đã theo học lớp P2/B2 bắt đầu từ niên khóa 1964-1965 cho đến 1970-1971. Bảy năm trời biết bao nhiêu kỷ niệm sâu đậm với ngôi trường thân yêu, với các thầy và các bạn. Sau khi rời mái trường CVA vào tháng 6 năm 1971, chúng tôi mỗi người mỗi ngã rẽ cuộc đời, có các bạn đã theo con đường binh nghiệp, các bạn khác tiếp tục sách đèn ở các Đại Học trong nước hoặc du học ngoại quốc. Và cứ như thế dòng đời trôi chảy cho đến ngày hôm nay, sau hơn nửa thế kỷ lưu lạc khắp 5 châu 4 bể, các học sinh lớp P2/B2 của CVA 64-71 luôn tìm đến với nhau qua ly bia, ly rượu hầu ôn lại những kỷ niệm êm đềm ngày xa xưa ấy… Những cuộc hội ngộ này thường tổ chức tại Việt Nam, Nam California, Sydney, Houston hay Montreal, nơi có nhiều cựu học sinh lớp P2/B2 đang sinh sống.

Nguyễn Tá Mẫn & Vũ Trọng Phòng

Lớp Đệ Tam B2 năm 1968-1969.

Hàng 1 (trên cao) - Thầy NgVăn Phong, DươngVăn Hiền, Ng.Trọng Hiền, Ng.Ngọc Chương, TrầnLinh Bao, Ng.Hữu Việt, PhạmTấn Đức, Ng.Chí Thành, LạiTừ Tâm, LêVăn Thắng, Ng.Văn Nguyễn.

Hàng 2 - MaiQuốc Phong, NgHữu Thọ, LêHữu Đức, ĐặngXuân Phú, Lê Công Luận, Ng.Đình Hòa, Ng.Hoàng Long, ĐinhHữu Tuấn, Ng.Đông Sơ, HuỳnhVăn Hoàng, TrịnhĐình Tá.

Hàng 3 – LêDuy Diễm, Phạm Huy Hợp, DươngNgọc Lâm, Ng.Văn Phương, CaoXuân Mạch, LêTấn Lộc, VũTrọng Phòng, Ng.ThanhQuỳnh, Ng.Tá Mẫn, HuỳnhAnhDũng, VũQuangLâm.

Lớp 12B2 những ngày cuối niên khóa 1970-1971.

* * *

Kỷ niệm Bạn Cũ Trường Xưa

Thế mà đã 60 năm!

(1957-2017)

BaLăng

 

Cách đây ít lâu, Bác sĩ Nguyễn Ngọc Bích, cựu học sinh CVA lớp 1A2, hiện cư ngụ tại London, Anh quốc, đã gửi tặng tôi tấm hình kể trên. Nhìn hình với thầy cũ bạn xưa, tôi vô cùng bồi hồi xúc động vì biết bao kỷ niệm đã trở về trong tôi…

            Làm sao tôi quên được cái hành lang của căn nhà lầu 3 tầng, phía sau của trường Petrus Ký, nơi mà từ năm di cư vào miền Nam Tự Do (1955), chúng tôi đã nhận nơi đây là trường sở mới của CVA. Cái số tôi không bao giờ được học tại trường sở mới. Theo học Y khoa thì trong 7 năm đều học ở trường cũ số 28 đường Trần Quí Cáp Saigon. Đây cũng là căn biệt thự của tư nhân, biến cải thành phòng ốc, giảng đường. Đến khi vừa tốt nghiệp thì trường Đại học Y khoa dọn về trường sở mới to tát khang trang do viện trợ Mỹ góp công xây cất gọi là Trung tâm Giáo dục Y khoa, toạ lạc tại đường Hồng Bàng, Chợ Lớn Saigon. Còn trường trung học Chu Văn An di cư từ Hà-Nội vào Saigon thì sau một thời gian học nhờ tại trường Petrus Ký đã được chuyển về căn nhà lầu phía sau của trường. Căn nhà này trước kia là ký túc xá của học sinh Petrus ký và nay đã được biến cải thành phòng ốc, kể cả hành lang được lợp tôn để có thêm chỗ học cho đám học sinh di cư đông đảo. Tuy nằm ở phía sau trường Petrus ký nhưng trường CVA có lối đi riêng. Cổng chính của trường đi vào là ở đường Trần Bình Trọng. Tôi học tại trường CVA di cư này cho đến khi tốt nghiệp Tú tài 2 năm 1958 và mãi đến năm 1960, trường CVA mới có trường sở mới, rộng rãi khang trang tọa lạc tại góc đường Minh Mạng-Triệu Đà Chợ Lớn Saigon.

Trong trí nhớ già nua còn lại của tôi đã hiện lên hình ảnh Xuân Tết năm nào (Đinh Dậu 1957). Thầy trò tụ họp để chụp chung một tấm hình kỷ niệm (hình trên), tuy không đầy đủ các bạn thuộc lớp 1A2 nhưng tôi còn nhận ra được những khuôn mặt thân quen thuở nào: Nguyễn Ngọc Bích, Phạm Đình Bách, Trần Văn Thông, Nguyễn Đức Năng, Nguyễn Hạnh (đeo kính đen), Vũ Công Dương, Nguyễn Duy Hảo,.. và các chị thì chỉ nhận ra có chị Kim Anh, chị Hoàng Mai, và ngoài ra thì xin chịu thua. Tuy nhiên DS Nguyễn Đức Năng ở dưới miền Nam Cali thì có trí nhớ tốt hơn, nhớ tên được nhiều chị học cùng lớp 1A2 và anh đã nêu tên từng người cùng lớp trong bài viết “Chu Văn An trường tôi” đăng trong Giai phẩm Bưởi-Chu văn An năm Quí Tỵ 2013.    

Niên khóa 1956-57 chỉ có một lớp Đệ nhất A. Đến niên khóa tôi học 1957-58 thì lại có đến 2 lớp Đệ nhất (1A1 và 1A2). Lớp Đệ nhất A1 thì toàn nữ sinh (có lẽ từ các trường công lập như Trưng Vương, Gia Long gộp lại). Lớp Đệ nhất A2 của tôi là lớp hỗn hợp, một nửa nam sinh là dân CVA thuần túy và một nửa là nữ sinh Gia Long còn lại, không thể nhét vào A1 được nữa vì quá đông. Lớp 1A2 của tôi có 42 người, 22 nam sinh và 20 nữ sinh. Nam thì toàn Bắc kỳ di cư. Nữ là con gái miền Nam chính gốc, hiền lành, chất phác. Nam nữ hòa đồng vui vẻ không có vấn đề kỳ thị Nam Bắc gì cả. Chỗ ngồi trong lớp cũng được xếp đặt hợp lý do thầy giám thị Tự chỉ định. Có 3 hàng ghế trong lớp thì các chị chiếm hàng ghế bên trái, nam sinh bên phải. Còn hàng ghế giữa thì 2 hàng đầu dành cho các chị, những hàng còn lại dành cho nam sinh chúng tôi. Những anh ngồi sau hàng ghế các chị thường hay bị chế riễu, nào là “ngửi thấy mùi hương”, hoặc hàng tháng “có gì lạ không anh ?” Tuy nhiên các anh ở “xóm nhà lá”, nghĩa là ở những bàn cuối cùng thì bao giờ cũng là mục tiêu “truy bài” của thầy Lê Văn Lâm, giáo sư Lý Hoá. Thầy Lâm có tài bắn cục phấn từ trên bàn giáo sư vào đầu mấy anh trốn xuống xóm nhà lá để khỏi bị lên bảng trả bài. Anh Trịnh Q. B. là một thí dụ điển hình vì cục phấn của thầy Lâm bắn trúng nhiều nhất. Ngày thầy Lâm còn sống, thầy có tham dự buổi họp mặt Tân niên của hội ái hữu cựu học sinh CVA tại miền Bắc California. Gặp lại thầy, anh B. xoa tay lên đầu, phàn nàn với thầy là hãy còn sờ thấy mấy “cục u”. Thầy cười vui vẻ.

            Các chị nữ sinh Gia Long học hành rất chăm chỉ và cần mẫn nên nam sinh chúng tôi cũng phải cố gắng để khỏi mất mặt “bầu cua cá cọp”. Do đó trong lớp gần như lúc nào cũng có cuộc ganh đua học hành. Chỉ sau ít tháng học chung, các chị Gia Long đã quen và bạo dạn hơn trong những lúc tiếp xúc với bọn tôi. Phải thành thật mà nói thì không có chị nào “sắc nước hương trời” hay “chim sa cá lặn”. Nếu công bình mà nói thì nhan sắc các chị cũng thuộc loại trung bình mà thôi (phải chăng học cao và sắc đẹp có tỷ lệ nghịch với nhau). Tuy nhiên chỉ có chị M. và chị K.A. là đuợc mấy anh để ý nhiều hơn cả. Chị M. có hỗn danh là “M. quần sà-lỏn”. Về điểm này tôi cũng phải phục mấy dân CVA là có óc quan sát hơn người bởi vì chị M. không mặc đồ lót “sì líp” như các nữ sinh khác mà chị mặc quần lót. Anh Th. tuy học ban B nhưng lại để ý đến chị M. Sau này ra trường, chị M. học Đại học sư phạm, còn anh Th. là một công chức cao cấp trong ngành tình báo. Anh chị đã kết hôn với nhau để trọn “Tình Bắc duyên Nam”. Gần đây tôi có đọc được bài viết về hồi ký trong tù Cộng sản đăng trên báo của Đại tá Võ Đại Tôn, trong đó ông có nhắc đến cái chết của anh Th. tại một nhà giam với ông ở miền Bắc Việt-Nam. Tôi xin nghiêng mình kính phục sự hy sinh cao cả của anh Th. cho chính nghĩa Tự Do và thành thật chia buồn cùng chị M. và gia đình về sự mất mát to lớn này.

            Trở lại với lớp 1A2 của tôi, nơi cũng có một vài “anh hùng tứ chiếng”. Điển hình là mấy anh nghịch ngầm, ném đá dấu tay, đứng đầu là Lê N.Q.. Tuy nhiên mấy anh này vẫn kính nể mấy chị trong lớp và không có làm điều gì thô lỗ hay vô lễ cả.

            Miền Nam Việt-Nam vào những năm 57, 58 được coi là thời kỳ hoà bình, thịnh vượng. Bọn Cộng sản vừa chiếm được miền Bắc qua hiệp định Genève đang củng cố quyền hành bằng cách đẩy mạnh phong trào giai cấp đấu tranh qua các đợt cải cách ruộng đất, đấu tố, giết hại cả triệu đồng bào vô tội. Lại còn phong trào “trăm hoa đua nở”, bắt bớ bỏ tù, đầy đọa biết bao văn nghệ sĩ tài ba. Miền Nam chưa bị bọn cộng sản “quẫy” cho nên Tết đến, phố sá tưng bừng nhộn nhịp. Chung quanh chợ Bến Thành, bên lề đường dọc theo các đại lộ Lê Lợi, Lê Thánh Tôn, các sạp hàng mọc lên san sát, bán đủ mọi thứ, thật là náo nhiệt. Các trường học thì lo tổ chức báo Xuân, báo tường, liên hoan văn nghệ tất niên. Màn “cúp cua, bát phố” là thường xuyên. Mặc dù đã được thầy giám thị thông báo cấm đốt pháo trong trường và nghiêm phạt những ai không tuân lệnh, thế mà vẫn đì đùng tiếng pháo trong sân trường, nơi cuối lớp… Bầu không khí Tết đã làm mọi người chểnh mảng mọi công việc thường ngày, kể cả việc học hành thi cử… Buổi trưa giờ ra chơi, các chị đã không ra khỏi lớp mà túm năm tụm ba trò chuyện vui vẻ. Nhóm nam sinh tụi tôi cũng đang đấu láo, cười nói oang oang. Bất ngờ, Lê N.Q. từ đâu chạy vào, thò đầu qua cửa sổ lớp học tại lầu 2, thả một trái pháo đùng xuống dưới đất, nơi đang có một nhóm bạn anh tụ họp. Sau tiếng pháo nổ, Q. chạy vội ra khỏi lớp ngay. Tụi tôi cũng theo Q. chạy ra khỏi lớp vì không muốn bị liên luỵ như phải làm nhân chứng hoặc phải tố cáo đương sự. Quả thật, sau ít phút, thầy giám thị Tự, mặt hầm hầm tức giận tiến vào lớp. Ô hay sao lớp vắng tanh không có một đấng nam sinh nào cả ! Chỉ còn có ít chị nữ sinh vô tội đang ngồi đó. Thầy giám thị biết chắc là trò chơi tinh nghịch thả trái pháo từ lầu 2 xuống đất là do một nam sinh rắn mắt là thủ phạm, chứ không phải các chị nữ sinh. Mà hỏi các chị có biết ai làm vậy không thì các chị từ chối nói là không biết… Thầy Tự điều tra, hạch hỏi cả tuần lễ, kể cả dùng phương pháp tự thú để được “khoan hồng” cũng không đem lại kết quả. Tụi tôi đã chứng kiến sự việc từ đầu và biết chắc ai là thủ phạm rồi nhưng tự nghĩ nếu tố cáp thủ phạm thì chắc chắn anh Q. sẽ bị đuổi ra khỏi trường, tội nghiệp lắm. Thôi thì cứ giữ im lặng coi như không biết. Và sau một tuần lễ điều tra không ra thủ phạm vụ thả trái pháo lên đầu thầy giám thị, hội đồng kỷ luât của trường đã quyết định đuổi cả lớp 1A2 trong một tuần lễ, không cho phép bén mảng đến lớp, đến trường. Cả lớp 1A2 chúng tôi “vui vẻ” chấp nhận hình phạt này và coi như được nghỉ Tết dài hơn để có nhiều thời giờ ôn lại bài vở ở nhà. Riêng các chị nữ sinh 1A2 cũng không phản đối gì về hình phạt do phía nam sinh gây ra. Các chị cũng đồng ý là có thêm thời gian sửa soạn học thi ở nhà. Sau này anh Q. đã ngỏ lời cảm ơn toàn thể lớp 1A2 đã “bao che” cho anh. Ngay sau khi đậu được Tú Tài 2 anh Q. đã được học bổng đi Đức du học vì anh thuộc loại COCC (có ông anh là tướng thời bấy giờ.) Tôi vẫn cố hỏi thăm tin tức về anh Q. và những người bạn cùng lớp 1A2 năm nào. Nhưng đời người đã có biết bao thay đổi : kẻ trời Đông, người trời Tây, người còn người mất. Ngay cả đến Đại hội toàn cầu năm 2015 tại miền Nam California, cũng chỉ còn có 4 bạn cùng lớp 1A2 về tham dự .

            Thế mà đã qua 1 chu kỳ 60 năm ! Năm xưa Đinh Dậu 1957, năm nay cũng lại là Đinh Dậu 2017. Tôi ghi lại đây vài kỷ niêm xưa để có bạn nào cùng lớp 1A2 đọc được, cùng nhau ôn niệm.

California, tháng 6 năm 2017

Ba Lăng Nguyễn Duy Hảo, CVA58

 

Hình dưới đây có 4 bạn cùng lớp 1A2 niên khóa 1957-58 về tham dự Đại hội B-CVA Toàn cầu kỳ 5 tại Little Saigon miền Nam Calfornia năm 2015. Từ trái qua phải: Trịnh Quang Bình (Castro Valley, CA), Nguyễn Đức Năng (San José, CA), Nguyễn Duy Hảo (Alameda, CA), Hoàng Đình Chung (Minesota).


* * *

Vĩnh biệt nhà thơ tình ái

Chu Toàn Chung    

Lê Duy San CVA 59

Trong số các bạn Chu Văn An ra trường cùng năm 1959 với tôi, Chu Toàn Chung là người tôi không thân lắm nhưng lại là người tôi rất quý mến vì tính tình hiền lành, dí dỏm và dễ mến của anh. Anh không bao giờ đem chuyện xấu của người khác ra nói. Không ưa ai thì anh không nói chuyện, thế thôi. Đôi khi anh cũng trêu chọc bạn bè, nhưng bằng những câu thơ trào phúng ý nhị và vô hại. Cho nên bạn bè của anh không những không giận anh mà còn lấy làm thích thú chẳng hạn như bài “Nghe phôn” dưới đây mà anh đã làm để chọc tôi mà bà xã tôi đã ghi lại được như sau:

Cứ mỗi lần nghe thấy tiếng phôn,

Làm San sợ đến kinh hồn viá,

Chỉ e em bé từ đâu đó,

Kêu lại Bà nghe lại ốm đòn.

Tiếc rằng sợ đấy vẫn ham nghe,

Chứng tỏ San ta vẫn sính chè,

Mỗi bận đầu phôn này nũng nịu,

Nghe rồi Thầy Cãi ngẩn tò te.

Anh Chu Toàn Chung rất thích làm thơ nhất là thơ tình. Nói tới thơ tình, người ta phải nói tới thơ của anh. Bạn bè của anh thường gọi anh là nhà thơ chuyên trị thơ tình. Anh có bút hiệu là Nguyên Thủy. Mặc dầu là một nhà thơ nổi tiếng, nhưng rất ít người biết bút hiệu này của anh vì thơ của anh không được anh gửi đăng báo hay gửi lên các diễn đàn. Anh cũng chẳng đem in thành tập để lưu giữ. Cho nên đi tìm thơ của anh để đọc thật là khó. Ai thích thơ anh thì anh đọc cho nghe như bài thơ “Cô hàng cà phê” dưới đây đã được anh Phạm Ngọc Anh ghi lại như sau:

Cà phê nhớ chỉ một phần,

Nhớ cô chủ quán trăm ngàn lần hơn.

Cà phê hay tóc cô thơm,

Ngẩn ngơ nhì nắng hoàng hôn nhớ người.

Mỗi lần tôi ghé quán cà phê,

Bịn rịn bên ai chẳng muốn về,

Cứ vậy đứng ngồi dăm bẩy lượt,

Về thì nhơ nhớ, ở thì quê.

Từ cô mở quán đến hôm nay,

Tính nhẩm năm năm lẻ mấy ngày,

Song chẳng hôm nào tôi vắng mặt,

Điều này cô chủ cũng thầm hay.

Tự hỏi hay là mình đã yêu,

Không yêu sao lại vấn vương nhiều?

Không yêu sao lại luôn thầm gọi?

Tên đẹp người ta sớm lại chiều?

 

Đôi lúc nhìn cô đến ngẩn ngơ,

Cà phê trước mặt tự bao giờ,

Nhưng hồn phiêu bạt đâu nào thấy,

Chỉ thấy nghiêng trời đôi mắt cô.

Phải nói rằng cô trông rất xinh,

Bờ môi nũng niụ chứa chan tình,

Hèn chi mỗi bận khi từ giã,

Chân bước mà nghe chẳng giống mình.

Thú nhận rằng tôi đã quá yêu,

Tuy tình nhận được chẳng bao nhiêu,

Song le tôi vẫn yêu thầm kín,

Yêu để cho đời bớt tịch liêu.

                                    Nguyên Thủy-Chu Toàn Chung

Vào đầu năm 2007, tôi là Hội Trưởng hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Chu Văn An Bắc California và cũng là Trưởng Ban Tổ Chức Hội Ngộ Chu Văn An Toàn Cầu kỳ II tại San Jose, tôi có xin anh cho mấy câu thơ để quảng cáo cho Hội Ngộ này. Anh có làm cho mấy câu như dưới đây và mấy câu này có được đăng trong Tin Thư CVA số 30 ra ngày 15/01/2007:

Hội Ngộ CVATC kỳ II 2007

Dù anh ở Á hay Âu,

Nhớ ngày Hội Ngộ rủ nhau cùng về.

Ca Li thơ mộng tràn trề,

Hai ngàn lẻ bẩy (2007), nhớ về với nhau.

Rủ thêm tà áo thiên thanh,

Cùng về dự Hội, có anh có nàng.

Nơi đây thung lũng Hoa Vàng,

Toàn Cầu Đại Hội, xin chàng chớ quên.

            Chu Toàn Chung (CVA Bắc Cali)

Anh Chu Toàn Chung sinh ngày 12 tháng 11 năm 1937 tại Hưng Yên. Anh là con thứ hai trong một gia đình gồm 6 anh chị em. Anh là cháu nội của cụ Chu Mạnh Trinh tức cụ Nghè Phú Thị, một nhà nho nổi tiếng phóng khoáng, hào hoa và thành thạo cả cầm kỳ thi hoạ. Cụ Chu Mạnh Trinh có lúc làm quan Án Sát ba tinh Hưng Yên, Bắc Ninh và Thái Nguyên.

ĐX Thảo, CT Chung, ĐH Châu, LD San, BH Khoát, PH Độ,
NĐ Phương, ĐĐ Lợi và PĐ San

Anh Chu Toàn Chung là cựu học sinh trường Chu Văn An Saigon. Anh tốt nghiệp Tú Tài Văn Chương vào năm 1959. Lên đại học, anh theo học tại Đại Học Văn Khoa Saigon. Sau khi tốt nghiệp Cử Nhân Văn Chương, anh đi dậy học. Anh bị đông viên khoá 1/68 Thủ Đức cùng anh Trần Lam Giang. Vì anh ham thi phú, tay anh chỉ quen cầm bút làm thơ đâu biết cầm súng, cầm gươm để giết người, nên bạn bè anh ra trường với cấp bậc Chuẩn Úy thì anh ra trường với cấp bậc Trung Sĩ. Vì học ban Văn Chương nên anh có chút vốn liếng Anh Ngữ và được cho làm Thông dịch viên. Tuy là Trung Sĩ nhưng anh chơi với toàn cấp Tá và được các ông này quý mến và rủ đi cà phê, cà pháo tối ngày, trong đó có Thiếu Tá Đặng Văn Tiếp tức dân biểu VNCH Đặng Văn Tiếp, người đã bị Bùi Đình Thi, cũng là tù cải tạo nhưng làm antenna cho Việt Cộng, đánh chết trong tù cải tạo sau khi ông Tiếp tìm cách vượt ngục nhưng thất bại (theo lời tố cáo của Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ).

Ngày 30/4/1975, trong khi nhiều người chạy ra bến Bạch Đằng Saigon tìm đường di tản thì anh Chu Toàn Chung lang thang trên đường Phan Thanh Giản, gần trường nữ Trung Học Gia Long, không biết có phải để tìm nàng thơ hay bóng hồng nào không, thì anh không may bị trúng đạn pháo kích của Việt Cộng. Anh bị mất một nửa bàn chân trái.

Với cấp bậc Trung Sĩ, chân lại bị thương tật nên anh không bị bọn Việt Cộng bắt đi tù cải tạo. Anh sang Mỹ theo diện anh em bảo lãnh vào thập niên 1980. Với trình độ Anh ngữ của anh, anh dư sức có thể kiếm được một việc làm tại văn phòng cho City, County hay State. Nhưng với tính tình phóng khoáng và thơ thẩn như vậy, làm sao anh có thể sáng vác ô đi, tối vác về để làm những công việc của một người công chức như Eligibe Worker hay City, County Clerk?

Vợ anh Chu Toàn Chung cũng là một cô giáo, con nhà gia thế. Các con anh đều tốt nghiệp đại học và đều khá giả. Nhưng anh chẳng thích sống chung với vợ con nên kể từ ngày anh xin được Housing thì anh ở riêng một mình.

Anh thuê một apartment trong một chung cư nằm trên đường Lucretia gần đường Story, San Jose. Với chiếc áo vest đậm mầu, với cặp kính đen, hàng ngày anh khập khiễng đi bộ tới khu Grand Century Mall ngồi trước tiệm bánh Century Barkery hoặc ngồi bên cạnh nhà hàng Rong Biển uống cà phê, ngắm nhìn ông đi qua, bà đi lại. Bạn bè thấy anh thì xà vào ngồi tán gẫu. Anh không thích đông người, nên khi thấy có đông người tới hoặc có người anh không ưa thì anh lại đứng dậy đi chỗ khác hoặc lang thang trung khu Grand Century Mall. Người mà anh hợp ý nhất và hay đi lang thang với anh nhất có lẽ là anh Bùi Hùng Khoát.

Trước kia anh hút thuốc lá liên miên. Nhưng kể từ ngày anh bị pneumonia và phải vào bệnh viện nằm cả tháng trời thì anh không còn dám hút thuốc nữa.

Anh Chu Toàn Chung có trí nhớ rất tốt. Anh có đọc một bài ca dao riễu Cộng từ hồi anh còn nhỏ (khoảng 10 tuổi) ở quê anh cho anh Trần Lam Giang nghe và anh Giang có đọc lại cho tôi nghe như sau:

Hôm qua đi chợ Cống Chiền,

Mua được cái khố bằng tiền Đông Dương.

Trở về đến chợ Cống Chương,

Bộ đội tước mất, ở truồng tô hô.

Ngửng lên thấy mặt bác Hồ,

Bác ơi, bác rõ cơ đồ này chăng.

Ngoài tài làm thơ tình, anh Chu Toàn Chung còn biết coi tướng. Tướng số, anh cho biết anh chỉ học qua sách vở của ông Vũ Tài Lục và trước 1975, anh có duyên với cụ Diễn (Ngô Hùng Diễn) nên đã học lỏm được vài điều từ cụ. Không phải ai cũng có thể nhờ anh coi tướng. Chỉ những người có duyên với anh mới được anh coi tướng và tất cả đều thán phục anh. Anh coi tướng cũng như làm thơ, vì hứng chứ không phải vì tiền. Anh không coi tướng để lấy tiền của ai bao giờ. Đây cũng là lý do mà anh đã được nhiều bà, nhiều cô ái mộ và bị mang tiếng oan là trăng hoa khiến bà xã anh phải nhức đầu và khó chịu vì anh. Thực ra anh rất nghiêm chỉnh trong tình yêu và cuộc đời tình ái của anh không như người ta tưởng. Dưới đây là bài thơ “U hoài” của anh đã nói lên nỗi lòng của anh về mối tình đầu:

U hoài

Cô đơn đất khách quê người,

Héo hon, lạc lõng, nụ cười tri âm.

U sầu, vinh nhục, thăng trầm,

Tai nghe vẳng tiếng nguyệt cầm bi ai.

Oan khiên giọt lệ vắn dài,

Ai đau thương đó, than hoài ngàn năm.

Người bên trời ấy xa xăm,

Chờ bao giờ mới được sang thăm người

Hoa môi em thắm nụ cười,

U hoài năm tháng, tôi lười phiêu du.

Người về đốt hết tình thư,

Giòng [1] thời gian vẫn thiên thu vẳng sầu.

            Nguyên Thủy – Chu Toàn Chung.

Nếu chú ý một chút, chúng ta còn thấy điểm đặc biệt của bài thơ này là 8 chữ cái đầu tám câu thơ ghép lại chính là tên của anh: Chu Toàn Chung. Bài này cũng do anh Phạm Ngọc Anh ghi lại nhưng có vài chữ khác với bài do anh Trần Lam Giang ghi lại. Có lẽ đã được tác giả sửa lại vài chữ cho hoàn chỉnh hơn.

MT Hiếu, NA Cường, NT Dzũng, NT Dực, CT Chung,

LÔ Dương, PĐ San

Đầu tuần trước anh em ngày nào cũng còn thấy anh lang thang ngoài Grand Century Mall. Nhưng đến Thứ Bẩy 20/11/2015 anh Bùi Hùng Khoát ra Grand Century Mall thì không thấy. Anh có gọi điện thoại cho anh Chung nhưng không thấy trả lời. Hôm sau, Chủ Nhật anh Khoát lại ra Grand Century Maill, nhưng cũng không thấy anh Chung. Anh gọi điện thoại cũng không được. Anh Khoát liền chạy lại nhà anh Chung thì thấy cửa khoá. Anh tới nhà cô em anh Chung cũng ở cùng building để hỏi thăm thì được cô cho biết là anh Chung đã qua đời. Anh chết khi đang ngồi ở chiếc sofa nơi phòng khách có lẽ từ hai hôm trước mà không ai biết. Anh ra đi một cách thanh thản, yên lặng, không đau đớn, không ồn ào, nhưng anh đã để lại không biết bao thương nhớ cho vợ con và bạn bè.

Nghe tin anh mất, bạn bè anh, ai cũng ngạc nhiên, bàng hoàng và xúc động, nhất là các anh em thường lui tới Grand Century Mall để uống cà phê, đấu láo như các anh Nguyễn An Cường, Bùi Anh Dũng, Trần Cảnh Được, Đoàn Phương Hải, Nguyễn Văn Hội, Nguyễn Mộng Hùng, Trần Văn Hồng, Vi Văn Hồng, Mai Văn Hiếu, Bùi Hùng Khoát, Nguyễn Xuân Nam, Phạm Xuân Phượng, Phạm Văn Sáu, Trần Ngọc Sơn, Nguyễn Thanh Sơn, Phạm Tài Tấn, Trịnh Như Toàn, Đàm Quang Toán, Phạm Bằng Tường, Huỳnh Thắng, Nguyễn Hưu Trương v.v...

Anh Trần Huy Bích ở Nam Cali ngay sau khi biết tin anh qua đời cũng đã gửi lời chia buồn cùng gia đình anh và:

Mong anh

.... dựng một thiên cầu

Bể xanh vĩnh viễn, nương dâu đời đời.

Tiền sinh ôn việc đổi dời

Xiết bao ngờ vực: kiếp người đó ư?[2]

Anh Chu Toàn Chung đã bỏ anh em đi trong yên lặng để lại không biết bao kỷ niệm cho anh em. Không biết anh có biết rằng anh bỏ đi, các bạn bè anh buồn lắm không? Anh bỏ bạn bè không nói làm gì, sao anh nỡ lòng nào bỏ cả vợ con ? Xin vĩnh biệt anh, người bạn yêu quý của tôi.

Nguyện cầu hương linh anh sớm được tiêu diêu miền cực lạc.

 

Lê Duy San

(11/2015)

Chú thích:

  1. Đúng chính tả phải viết là “Dòng thời gian ...” mới đúng. Nhưng để đúng tên anh, nên anh đã viết là “Giòng thời gian ...”
  2. Mấy câu thơ này là thơ của thầy Vũ Hoàng Chương, ở bài "Duyên mùa tận thế" trong tập Rừng Phong của thầy.


* * *

Hải Quân Thiếu Tá

LÊ ANH TUẤN
và Căn Cứ Tuyên Nhơn

Phan Lạc Tiếp

LTS: Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn (1943-1975) là cựu học sinh Chu Văn An Chức vụ sau cùng của anh là Chỉ Huy Trưởng Giang Đoàn 43 tại Tuyên Nhơn. Ngày 30/4/75, sau khi nghe tin ĐT Dương Văn Minh đầu hang, anh đã chở đồng bào tị nạn tới nơi an toàn rồi anh đã dung cúng Colt bắn vào đầu tự sát. Bài viết dưới đây của nhà văn Phan Lạc Phúc dược căn cứ vào các cuộc gặp gỡ giữa tác giả và Hải Quân Thiếu tá Lê Anh Tuấn lúc còn sinh tiền, Trung Sĩ Vận Chuyển Nguyễn Văn Lực, cuốn Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa Ra Khơi của ĐiệpMỹ Linh.


           Kể từ giữa năm 1974, người lính Mỹ đã là một hìh ảnh xa mờ trên chiến trường Việt Nam. Riêng Hải Quân Việt Nam (HQVN), như hoàn cảnh chung của quân đội, sự thiếu hụt về tiếp liệu, cơ phận thay thế là lẽ đương nhiên, nhưng bờ biển Việt Nam vẫn được các chiến hạm, chiến đĩnh ngày đêm đan kín. Việc tiếp tế của Hà Nội cho cộng sản miền Nam chỉ còn trông vào đường bộ trên hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh. Con đường huyết mạch của cộng sản chạy dọc theo mé Tây của dãy Trường Sơn, nằm trên đất Lào, vào sâu tận biên giới Miên-Việt. Từ đó, từ Mỏ Vẹt, và dọc theo biên giới Việt Miên, nhất là xuôi theo 2 con sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây thâm nhập qua các sông lạch chằng chịt vào đồng bằng Cửu Long.

Hai con sông Vàm Cỏ chạy xuôi theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, ở ngay phía Tây Nam Saigon. Một giải đất trù phú trong vòng tay 2 con sông ấy là các điểm chiến lược có ảnh hưởng đến sự an nguy của Saigon: Quốc Lộ 4, cầu Bến Lức, cầu Long An, nhất là các con kinh song-song nhau theo hướng Đông-Tây, là mạch máu nối liền với sông Tiền, sông Hậu. Một con kinh đã đi vào lịch sử của cuộc chiến Việt Nam, ít nhất là ở giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến: kinh Đồng Tiến. Kinh Đồng Tiến, bít đầu từ ngã ba chợ Tuyên Nhơn, ở hữu ngạn sông Vàm Cỏ Tây. Trước đây, Quận Tuyên Nhơn đóng tại ngã ba này. Sau với áp lực quá mạnh của Việt Cộng, Quận Tuyên Nhơn, Chi Khu Tuyên Nhơn và cả đơn vị Pháo Binh 105 ly cùng di chuyển vào nằm sát bên cạnh Căn Cứ Hải Quân Tuyên Nhơn.

Căn cứ Hải Quân Tuyên Nhơn, nằm ở bờ Nam kinh Đồng Tiến, cách ngã ba chợ Tuyên Nhơn độ 3 cây số. Trước mặt là bờ kinh, làm bãi ủi cho các chiến đĩnh. Mặt kinh rộng độ 100 thước. Bên kia bờ là một bức tường đất cao, trên đó một hàng rào sát, kết lại bằng các mặt lưới chống đạn B-40. Ngoài hàng rào là la-liệt những ổ mìn do Đội Tác Chiến Điện Tử thiết trí. Ở từ hàng rào này chạy suốt về hướng Bắc là một rừng cây đước âm u, nơi xuất phát của các cánh quân cộng sản từ biên giới Miên tiến về, với chằng chịt những con lạch nhỏ. Tại bãi mìn này là nơi mà các cán binh cộng sản lần lượt bỏ xác lại không thể nào đếm xuể.

Ngoài các công việc nguy hiểm như hành quân, truy lùng, và tiêu diệt quân cộng sản, những người lính Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa còn thực hiện nhiều công tác dân-sự vụ để giúp đỡ và duy trì nếp sống cho những dân lành sinh sống quanh vùng. Hình chụp một binh sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa thuộc lực lượng Thủy Bộ đang cùng một người bạn cố-vấn Mỹ thăm viếng và tiếp tếp một số dân làng sống dọc theo bờ sông Bassac (hình ảnh: special collection).

Căn cứ Tuyên Nhơn, chạy dọc theo mé kinh, bờ Nam, dài độ 200 thước, rộng không quá 100 thước. Phía mặt và phía sau căn cứ cũng dầy đặc một băi mìn. Sát ngang hàng rào, phía tay trái là sân đáp trực thăng, và sau đó Quận Đường Tuyên Nhơn. Nơi đồn trú của Liên Đoàn Đặc Nhiệm 214-1, gồm Giang Đoàn 43 Ngăn Chận và Giang Đoàn 64 Tuần Thám. Đây là cái gai khó nuốt của cộng sản, là trở ngại chết người trên con đường huyết mạch của địch.

Vào thời gian cuối của cuộc chiến, lực lượng mạnh mẽ của Việt Cộng tại vùng này là Đoàn 232, có nhiệm vụ san phẳng vùng này, cắt đứt Quốc Lộ 4, để làm bàn đạp đưa quân và đồ tiếp liệu tư biên giới Việt-Miên về Vùng 4 Chiến Thuật. Chúng đã cố sức nhiều lần muốn san phẳng Căn Cứ Tuyên Nhơn, nhưng, dù rất nhiều lần tấn công tàn bạo, Căn Cứ Hải Quân Tuyên Nhơn vẫn còn đó. Sau đây là những trận đánh tiêu biểu trong thời gian ấy.


NHỮNG TRẬN THƯ HÙNG ÁC LIỆT.

Đêm 6 tháng 12 năm 1974, một trung đoàn cộng sản Bắc Việt (CSBV) đã tràn ngập khu này, san phẳng các đồn bót, chiếm chợ Tuyên Nhơn. Chúng dùng hỏa tiển 122 ly pháo như mưa vào Căn Cứ Hải Quân Tuyên Nhơn trước khi cho bộ binh tấn công. Dưới cơn mưa pháo, các mái nhà trong căn cứ đều bay hết, nhưng Căn Cứ Tuyên Nhơn vẫn đứng vững. Mọi quân nhân và gia đình binh sĩ được ở dưới hầm. Chi Khu Tuyên Nhơn, nằm sát căn cứ cũng vẫn còn đó. Xác địch nằm la liệt bên hàng rào đơn vị.

Đêm hôm sau, 7 tháng 12 năm 1974, Việt Cộng lại tấn công tàn bạo hơn. Căn cứ Hải Quân và Chi Khu Tuyên Nhơn vẫn chống trả mãnh liệt. Địch lại phải rút, bỏ lại 12 xác chưa kịp đem đi. Để giải tỏa áp lực, Sư Đoàn 9 Bộ Binh mở cuộc hành quân chận đường tiến quân của địch. Ngày 11 tháng 12 năm 1974, bộ binh được trực thăng vận đến. Một đại đội Trinh Sát, khi sắp sửa đáp xuống sân bay, chiếc Chinook bị bắn rơi bằng hỏa tiển SA-7. Chiếc trực thăng bốc cháy, và hầu như rất ít người sống sót. Chiếc trực thăng rơi xuống như một khối lửa trước sự chứng kiến của toàn thể thủy thủ đoàn trên các chiến đĩnh nằm tản mát trên mặt kinh. Sau trận thư hùng này, mặt trận Tuyên Nhơn có phần lắng dịu. Sự lắng dịu của đợi chờ, và đón nhận những trận thư hùng khác ác liệt hơn.

Ngày đó cũng không xa. Đó là ngày 26 tháng 3 năm 1975, một cuộc tấn công quy mô hơn, tàn bạo hơn và cũng liều lĩnh hơn đã được diễn ra tại vòng rào Căn Cứ Hải Quân Tuyên Nhơn. Như một định mệnh khắc nghiệt, một thử thách lạ lùng, trong các đụng độ trên, cũng như cuộc thư hùng ác liệt hôm 26 tháng 3 năm 1975, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn Đặc Nhiệm 214-1, Hải Quân Thiếu Tá Đoàn Quang Vũ hoặc đi hội, hoặc đi phép, cả căn cứ gồm 2 Giang Đoàn 43 Ngăn Chận và 64 Tuần Thám, chỉ có Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn là sĩ quan thâm niên hiện diện. Chính Thiếu Tá Tuấn đã lần lượt phải gồng mình chống lại các cuộc tấn công này. Cuộc thư hùng thật khốc liệt. Trận địa, sau một đêm tốc chiến, xác địch ngổn ngang, chồng lớp. Sau trận này, Tuấn có mặt tại Saigon, và sau đây là cuộc đụng độ ác liệt được viết lại theo lời kể của “Người Hùng Tuyên Nhơn,” như sau:

Hải Quân Đại Tá Nguyễn Văn Thông, Tư Lệnh Lực Lượng Trung Ương vị chỉ huy trực tiếp của Thiếu Tá Tuấn, sau lần thanh tra, nhắc “các cậu phải cẩn thận tối đa nghe.” Rồi Phó Đề Đốc Đặng Cao Thăng, Tư Lệnh Hạm Đội Đặc Nhiệm 21, chỉ huy tất cả các lực lượng trong sông ở Vùng 4 cũng như các căn cứ trong vùng, cũng nhắc: “Cẩn thận nghe Tuấn...” Tuấn chỉ “dạ” rồi nhìn lên tấm bản đồ trong phòng hành quân. Các vị trí phản pháo đã sẵn. Các điểm hỏa lực cũng được bố trí thật chu đáo. Có điều Tuấn lo là tình trạng căng thẳng kéo dài quá lâu sợ tinh thần anh em nản và lơ là. Vì thế, giữa cơn lo cực độ, Tuấn phải làm ra vẻ cười đùa. Buổi chiều Tuấn hay uống bia. Đôi khi Tuấn đem chai bia Quân Tiếp Vụ ra ụ súng uống với lính.

Hai giờ sáng, Tuấn vẫn còn thức, chăm chú trên các trang sách của cuốn Công Pháp Quốc Tế. Tuấn gập sách lại, đi một vòng căn cứ, luồn trong các đường hầm. Cùng lúc ấy Tuấn gọi cho các chiến đĩnh đang tuần tiễu, phân tán, phải sẵn sàng theo kế hoạch đã ấn định. Tuấn đứng trên nóc lô cốt chính nhìn ra bốn phía. Những hàng đèn vàng èo uột lấp loáng qua những hàng kẽm gai. Gió từ mặt kinh thổi mát. Mặt kinh vẫn phẳng lặng. Không hiểu sao Tuấn thấy rờn rợn. Tuấn định thần lại và sao thấy thiếu hẳn tiếng vạc bay qua bầu trời. Tuấn cho đèn pha chiếu ra hàng rào ở mặt trước căn cứ. Ánh sáng vừa loé lên, Tuấn thấy ở ngoài hàng rào, lính cộng sản lô nhô, tức thì từng tràng đạn bùng lên từ hai phía.

Ngay lúc ấy, hỏa lực của quân đội tại các ụ súng phản pháo ngay. Các chiến đĩnh tản mác trên mặt kinh được tức tốc chạy về. Địch đã đen kịt ở hàng rào trước mặt căn cứ bên kia sông. Chúng như đàn chó đói, không sợ chết, đang muốn vượt rào lội qua kinh để cướp tàu và áp đảo căn cứ. Các khẩu đại bác trên các chiến đĩnh bình tĩnh đan chéo những lằn đạn. Xác địch rụng xuống như sung. Đợt xung phong của chúng tạm ngừng.

Trận địa bỗng yên lặng ghê rợn. Rồi một loạt hỏa tiển 122 ly, có lẽ từ chợ Tuyên Nhơn, câu vô, rất chính xác, nổ tung trên căn cứ và cả mặt trước. Các chiến đĩnh vội tản ra để tránh pháo. Pháo ngưng. Lại một đợt xung phong khác ở sau hàng rào bên kia bờ đất sát con kinh. Chúng lại ào ào muốn lội qua kinh. Súng ở các ụ súng từ ven bờ kinh, trên căn cứ bắn ra như mưa. Một số địch quân đã qua được bên này kinh, bờ Nam, dùng bộc phá cắt đứt hàng rào. Tất cả diễn tiến ác liệt nói trên Tuấn đều báo cáo đầy đủ. Trời đã gần sáng. Địch đã khá đông ở ngoài hàng rào, đồng loạt hô xung phong. Đúng lúc ấy, loạt mìn đĩa, hướng ra sông nổ bùng. Từng xác người bay lên, rồi im bặt. Mặt trận lắng lại như qua một cơn mê. Trời đã sáng. Mặt kinh phẳng lặng. Các chiến đĩnh lần lượt quay về căn cứ. Tuấn cầm máy báo cáo lên thượng cấp: “Địch đã rút. Xác địch nằm đầy ngoài hàng rào.”

Vào khoảng 11 giờ trưa, 27 tháng 3 năm 1975, chiếc trực thăng đáp xuống. Thượng cấp là Hải Quân Đại Tá Nguyễn Văn Thông, và Phó Đề Đốc Đặng Cao Thăng. Trận địa vẫn ngổn ngang xác địch và âm ỷ khói than. Ngoài một số vũ khí vừa thu nhặt lại, còn rất nhiều xác địch nằm ở hàng rào mặt tiền đơn vị, cũng như ở gần bên kia hàng rào, phía bờ Bắc con kinh.

Kết quả của cuộc phản công này của căn cứ Hải Quân Tuyên Nhơn, đã làm địch khiếp vía và tất nhiên tràn ngập căm thù. Bên ta, hơn 30 chiến sĩ tử trận và bị thương. Tuấn, Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn, được Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Đoàn IV, Vùng IV Chiến Thuật, nhiệt liệt ngợi khen, và đề nghị thăng cấp Trung Tá tại mặt trận. Nhưng phải chăng đó cũng là niềm vinh quang báo trước sự bất hạnh của một người anh hùng, đôi bên chẳng đội trời chung. Xác địch được vứt lên GMC, đem đi chôn tập thể. Một số xác địch chìm dưới lòng kinh, mấy hôm sau mới nổi lên trôi đi, trôi lại trên khúc sông này. Chợ Tuyên Nhơn cách căn cứ 3 cây số. Một số dân còn ở lại, nhìn xác địch nỗi trôi mà bàn tán, lắc đầu. Đồng thời tên Lê Anh Tuấn khét tiếng khắp vùng.

PHÚT CUỐI CỦA MỘT ANH HÙNG.

Tại căn cứ chiến lược Tuyên Nhơn, vào các ngày chót của cuộc chiến nơi đồn trú của Liên Đoàn Đặc Nhiệm 214-1 vẫn sinh hoạt đều hòa, bình tĩnh. Mặc dù, gần một nửa chiến đĩnh đã bất khiển dụng, một phần là trúng đạn pháo kích của địch, một phần là các cơ phận thay thế đã không còn. Chiến đĩnh nằm gác mũi vào bờ như những lô cốt tiền sát. Qua tin tình báo và qua sự phát hiện tình cờ của dân, đại quân của địch dù không “nuốt” được căn cứ Tuyên Nhơn, cũng đã tràn từ biên giới Việt-Miên về. Các đồn bót phía Bắc kinh Đồng Tiến đã bị tràn ngập. Bên kia sông Vàm Cỏ Đông, Công Trường 7 của địch ào ạt từ Mỏ Vẹt, Đồng Tháp Mười tiến qua kinh Ngang, đang áp đảo phía Bắc con kinh Thủ Thừa, nối liền hai nhánh sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Địch im lặng như thầm nhủ: “Để đó, rồi mày sẽ biết tay tao.”

Lúc ấy, Saigon đang ở vào giai đoạn chót của cuộc chiến. Mặt trận Xuân Lộc, là một biểu lộ dũng mãnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cửa ngõ của Saigon. Chính trị rối ren. Dân chúng thủ đô bắt đầu rối loạn. Nhưng cả Vùng 4 vẫn còn yên. Căn cứ Tuyên Nhơn vẫn bình thản đợi chờ một cuộc thư hùng khác. Nhưng không, tất cả vẫn thật là êm ả dù áp lực của địch mỗi lúc mỗi khép lại dần, mỗi lúc mỗi thấy khốc liệt. Ánh mắt của dân trên các con đường qua lại, như có điều gì lo âu, e ngại. Các mặt trận khác mỗi lúc mỗi ác. Tới tối ngày 29 tháng 4 năm 1975, Tư Lệnh Phó Lực Lượng Trung Ương, Hải Quân Đại Tá Vũ Xuân An gọi cho Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn: “Bằng mọi cách phải đưa đơn vị rời Tuyên Nhơn.” Cùng lúc này, Đại Tá An cho Tuấn hay là “quân đội mình đã rã ngũ,” Tuấn liên lạc lại với Hải Quân Thiếu Tá Phạm Văn Tạo, Chỉ Huy Phó Liên Đoàn Đặc Nhiệm có mặt tại Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 9 Bộ Binh, để được xác nhận: “Bộ Tư Lệnh Hải Quân Saigon và Hạm Đội đã ra đi.”

         Tầu Hải Quân Việt Nam chở đồng bào chạy trốn cộng sản

Trước hoàn cảnh này, Tuấn, với tư cách sĩ quan thâm niên hiện diện tại căn cứ chiến lược Tuyên Nhơn, đã họp các sĩ quan và các thuyền trưởng lại, tại hầm chỉ huy, và tuyên bố: “Nhân danh Tư Lệnh Hải Quân, tôi tuyên bố giải nhiệm các đơn vị trong vùng trách nhiệm... mình phải ra khỏi đây, về Bến Lức, hoặc xuôi ra biển.” Để có thời giờ thu xếp cuộc lui quân, đơn vị vẫn sinh hoạt điều hòa, các vọng canh vẫn cẩn mật.

Sáng hôm sau 30 tháng 4 năm 1975 căn cứ Tuyên Nhơn vẫn như thường. Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa vẫn phất phới trên cột cờ giữa sân đơn vị. Tất cả quân nhân các cấp toàn căn cứ và thân nhân kể cả đàn bà và trẻ nhỏ độ 250 người, các chiến đĩnh còn hoạt động được của cả 2 Giang Đoàn 64 Tuần Thám và Giang Đoàn 43 Ngăn Chận là 23 chiếc. Mọi sửa soạn để ra đi rất bình tĩnh, chu đáo. Vì thế, lúc gần trưa 30 tháng 4 năm 1975, khi Đại Tướng Dương Văn Minh, TổngThống Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố: “Tôi yêu cầu anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó.”, thì căn cứ Tuyên Nhơn đã sắp sửa hoàn tất để lên đường. Tuân theo chỉ thị nói trên, tất cả các chiến đĩnh của căn cứ đều cắm một mảnh vải trắng trên cần ăng ten, nhưng Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa vẫn bay phất phới ở sau lái tàu.

                                       Tầu Hải Quân HQ 7773

Mọi người xuống tàu vào lúc 5 giờ chiều. Trên bờ lính bộ binh, ở ngoài hàng rào đơn vị đứng đầy. Họ ngơ ngác, cổi áo, buông súng, nhìn theo. Trong đám người ấy cũng có các cán binh cộng sản đội nón cối.... Đoàn tàu đi rất chậm. Chiếc HQ 7773 do trung sĩ vận chuyển Nguyễn Văn Lực, đi sau cùng. Chỉ độ nửa giờ đoàn tàu đã ra tới ngă ba kinh Đồng Tiến và sông Vàm Cỏ Tây, rẽ mặt, xuôi theo con nước, đi về phía hạ giang. Theo anh Lực nói lại: “Tàu tiến thận trọng, lệnh ra là không được khai hỏa, nhưng phải sẵn sàng. Mà, lạ lùm, trước đây ở miệt này, khi đi tuần chỉ thấy bờ sông tối om. Sao mà hôm nay ở hai bên bờ, nhất là bên phía mặt, có nghĩa là vùng đất phía Nam căn cứ Tuyên Nhơn, đèn đóm ở đâu mà trùng điệp như sao xa.” Vẫn theo lời anh Lực kể: “Ông Tuấn dặn rất kỹ cố rời căn cứ, nếu không đến Bến Lức được thì ra biển. Trên các chiến đĩnh đồ ăn đem đủ cho 2 đến 3 tuần.”

Bỗng trên hệ thống âm thoại chỉ huy, có tiếng nói của Việt Cộng xen vào rất rành rẽ: “Các anh hãy buông súng xuống, lần lượt từng chiếc một ủi bãi vào bờ bên trái.” Đoàn tàu khựng lại một chút và được lệnh cứ tiến. Tiếng nói của địch rạ hạn: “Các anh hãy nghe lệnh của Quân Đội Giải Phóng, buông súng và ủi bãi, từng chiếc một.”

Đoàn tàu cứ đi. Rồi một trái đạn bùng lên, xanh lè ở phía trước đoàn tàu, và tôi nghe trên máy, (lời anh Lực), số 1 của 43 đã chết.” Đoàn tàu như không còn linh hồn nữa, chùng lại. Tiếng lệnh của địch lại vang lên. Tàu tôi, chiếc 7773, đi sau chót, sát bờ bên phải, thấy xe tăng Việt Cộng đen ngòm lội ở phía sau tàu, đang hướng đại bác vào tàu mình. Thế là đoàn tàu lần lượt ghé mũi vào bờ bên trái con sông Vàm Cỏ Tây, dưới ánh đèn pin ra lệnh của địch. Lúc ấy, lúc ông Tuấn tự tử chết bằng súng Colt, vào khoảng 12 giờ đêm ngày 30 tháng 4/1975. Ông Tuấn tự tử ý ông không muốn đầu hàng địch, mà dù có hàng địch dễ gì chúng tha mạng cho ông. Còn có 3 người nữa chết vì bị đạn địch bắn ra.

Xác ông Tuấn, theo anh em kể lại, vẫn lời anh Lực, được cuốn trong cuốn drap trắng, và tẩm liệm đêm hôm ấy, vào khoảng 3-4 giờ sáng. Người ở gần ông Tuấn, lo lắng cho ông là anh Uy, Trung Sĩ Vận Chuyển Uy.

Sau này, gia đình anh Tuấn đã từ Mỹ về đến bờ sông Vàm Cỏ Tây tẩm mộ anh Tuấn, thấy ngôi mộ đã được dân chúng tự động xây cất rất to, đẹp. Đào lên giấy tờ bọc plastic vẫn còn nguyên. Hài cốt anh đã được hỏa thiêu và đem qua Mỹ. Gia đình Hải Quân đã làm lễ tiếp đón và truy điệu rất trang nghiêm. Nhiều bạn bè, đại diện các đoàn thể đến nghiêng mình trước di hài và di ảnh của Một Kẻ Anh Hùng Ðã Chết Không Hàng Giặc.


NHỮNG NGÀY TRONG TAY GIẶC.

Anh Nguyễn Văn Lực, Trung Sĩ Vận Chuyển, cựu “Bố Kép” của Giang Đoàn 64 Tuần Thám kể lại:

Lên bờ thì các sĩ quan mình chúng đem đi đâu riêng biệt. Còn tụi tôi, đâu ở đó, vẫn ở dưới tàu. Súng ống, đạn dược vẫn còn nguyên, lúc đầu cũng sợ, sau quen dần. Các nhân viên khác thì chúng cấp giấy cho về nhà, ngoại trừ nhân viên cơ khí và thuyền trưởng, chúng giữ lại. Nhưng các anh em khác, nhà gần, ở Saigon, hay đâu đó ở Miền Nam lần lượt trốn về. Nhà tôi tận Đà Nẵng xa quá, không dám trốn. Tàu tôi, (vẫn lời anh Lực) chúng cho 2 người xuống ở cùng, đem theo súng ống. Một anh là Thượng Sĩ Điều, đặc công bờ, gốc Nghệ An. Anh Điều nói, đại đội tôi từ Bắc vào, giờ chỉ còn trên 10 đứa.

Anh Điều còn nói: “Cách 5 hôm trước khi các anh buông súng, tôi có theo dõi tàu anh, biết anh là “Bố Kép” của tàu. Tôi nhắm B-40 bắn, chưa bóp cò thì các anh đã phản pháo, cành cây trước mặt tôi gãy, chứ nếu chậm chút xíu thì tàu anh đã tiêu!”

Anh Uẩn, Chuẩn Úy, đặc công thủy nói: “Chúng tôi được huấn luyện vào Nam để cướp tàu Mỹ.” Vẫn lời anh Lực kể: “Tôi phải ở lại với bọn chúng gần 3 tháng, phải lái tàu cho tụi nó đi đây đi đó, có lúc ghé chợ Tuyên Nhơn, ngang ngã ba vào căn cứ. Tàu ghé chợ, gặp mấy người bán hàng quen họ nói: “Ủa, chớ anh “Bố Kép” qua bên này hồi nào. Thì mình chỉ cười trừ cho qua chứ nói sao.”

“Bố Kép” tên gọi quen thuộc, vừa thân tình, vừa có chút uy lực của một vị thuyền trưởng chỉ huy một chiến đĩnh của mình trong lửa đạn. Ai được làm thuyền trưởng là một danh dự, thường đã phải trả bằng những gian lao, cực khổ, nhiều khi là máu của chính mình. Trước các thuyền trưởng của Mỹ, được họ gọi là “Bố Kép” có lẽ là chữ Boat Cap mà ra. Anh Lực cũng không biết có phải như thế không, nhưng ai đã là “Bố Kép” là một tay súng cừ khôi, là một chiến sĩ can trường, có thể làm mọi thứ trên chiến đĩnh, nhất là phải biết cách chỉ huy đàn em, những người lăn lộn trong lửa đạn, coi cái chết như một sự tình cờ. “Bố Kép,” cái tên lan ra cả một vùng lân cận: Anh A ngon à, sắp làm “Bố Kép.”

“Bố Kép” Lực cho hay: “Giang Đoàn 43 Ngăn Chận và Giang Đoàn 64 Tuần Thám về tay tụi nó, do tên Tám Quốc chỉ huy. Tám Quốc người Mỹ Tho, và đơn vị có tên mới là C-15. Còn tất cả tàu bè của mình tụ về Bến Lức, dưới sự chỉ huy của tên Trần Đối, cứ như tên và chức vụ mà Trần Đối ký trên giấy di chuyển của tôi thì Trần Đối là Tham Mưu Trưởng Công Trường 5 của quân giải phóng.”

Được dịp nói chuyện với “Bố Kép” Lực, người viết có hỏi một câu chót: “Anh nghĩ gì về cuộc chiến cũ.” Anh Lực nói: “Thì mình là dân phải đi lính. Bên kia cũng thế. Lúc chưa đình chiến thì bắn nhau. Ngưng tiếng súng, gặp lại nhau thấy sao buồn cười quá.” Hiện anh Lực ở San Diego, các con anh đã lớn, thành đạt. Anh làm nghề xây cất, kể như rất thành công.

Phan Lạc Tiếp, 10/1999Bottom of Form

*

* * *

Nhớ Phạm Đình Chương

Phan Lạc Phúc

LTS: Phan Lạc Phúc tức ký giả Lô Răng, sinh năm 1928 tại phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây Bắc Việt. Ông theo học trường Văn Khoa Sài Gòn, trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức (khoá 2) và Trường Thông Tin Báo Chí Rochelle University Hoa Kỳ. Ông là cựu Chủ Bút nhật báo (quân đội) Tiền Tuyến. Sau năm 1975 ông bị đưa đi tù cải tạo 10 năm. Năm 1991 ông đã sang Úc định cư ở Sydney. Ông mất ngày 25/4/2016 tại Bonnyrigg NSW. Australia.

Nhạc sĩ Hoài Bắc Phạm Đình Chương ra đời tại Hà Nội vào năm 1929, trong một gia đình nghệ sĩ, học Trường Bưởi, tản cư vào Thanh Hóa sau Toàn Quốc Kháng Chiến chống Pháp 1945. Sáng tác nhạc trước tuổi 20, ông là tác giả những ca khúc dân tộc như Tiếng Dân Chài, Ly Rượu Mừng, Hội Trùng Dương, hay những sầu khúc nhạc phổ thơ như Nửa Hồn Thương Đau, Mắt Biếc, Mộng Dưới Hoa, Người Đi Qua Đời Tôi ...

Tới Hoa Kỳ được ít năm, Phạm Đình Chương từ trần tại Quận Cam, California vào ngày 13 tháng 7 năm Tân Mùi, nhằm ngày 22 tháng 8 năm 1991. Bài dưới đây của nhà bỉnh bút Phan Lạc Phúc, hay Ký giả Lô Răng, một bạn học của nhạc sĩ từ Trường Bưởi, được viết ngay sau khi có tin buồn.

*

Chuông điện thoại réo lên trong đêm khuya. Một cú phone từ bên kia Thái Bình Dương, từ Mỹ báo tin: “Phạm Đình Chương đã mất rồi, Hoài Bắc không còn nữa”. Tôi đặt phone xuống mà thấy đêm khuya thêm vắng lặng mênh mông. Ở cái tuổi mình, trên 60, cái ranh giới tử sinh thật là mờ ảo, ở đấy rồi đi đấy, còn đấy mà mất đấy. Thành ra ít lâu nay, tôi cứ phải làm một con tính trừ thê thảm. Mấy năm trước mất Thanh Nam, rồi Vũ Khắc Khoan, bây giờ Phạm Đình Chương - Hoài Bắc. Già thì càng cần có bạn, mà bạn già thì càng ngày càng thưa thớt. Tôi đi cải tạo 10 năm, rồi sống nín thở trên 6 năm, vừa mới lặn ngòi ngoi nước sang được đến đây thì bạn đã đi vào tịch mịch. Bạn ta Phạm Đình Chương đã đi thật rồi, một người viết ca khúc tầm cỡ của Việt Nam đã mất, ngôi sao bản mệnh của Ban Hợp Ca Thăng Long đã tắt. 

Tôi chơi với Phạm Đình Chương đã lâu, vào khoảng năm 1942 - 1943, hồi tụi tôi vừa mới lớn lên. “Khi mới lớn tuổi mười lăm, mười bảy. Làm học trò mắt sáng với môi tươi” [1]. Tôi biết Chương trong ngày hội học sinh Trường Bưởi, trong những buổi cắm trại ở chùa Trầm, chùa Thày, Tây Phương Hoàng Xá [2]

Ngày ấy, chúng tôi say mê hát “Quê nhà tôi chiều khi nắng êm đềm” [3]“Này thanh niên ơi, đứng lên đáp lời sông núi” [4] và Chương đã là một tay đàn giọng hát khá nổi của học sinh Hà Nội. Nhưng mà Chương có hai người anh nổi tiếng: anh Phạm Đình Sĩ, một cây “kịch” và anh Phạm Đình Viêm, một cây “tenor”. Chương còn có một người chị trứ danh, chị Thái Hằng, hoa hậu “bất thành văn” của suốt một miền Bạch Mai - Phố Huế. Còn người em út của Chương, Thái Thanh thì lúc ấy Thái Thanh còn nhỏ, đang còn học tiểu học, còn là một nụ hoa. Phải đợi đến thập niên '50, bông hoa Thái Thanh mới bắt đầu rực rỡ và tiếng hát Thái Thanh mới được lên ngôi.

Ban Hợp Ca Thăng Long:

Hà Nội ngày ấy tuy được mệnh danh là Hà Thành hoa lệ hay là Hà Nội của ba mươi sáu phố phường nhưng thực chất nó là tỉnh nhỏ - người ta biết nhau cả, trực tiếp hay gián tiếp. Và tỉnh nhỏ nó còn có tục lệ riêng của nó. Thế hệ tiền bối ở Hà Nội có tiêu chuẩn “phi cao đẳng bất thành phu phụ”. Thời tụi tôi thì cái standard về một đấng trượng phu nó nôm na và thực tiễn hơn: “Đẹp trai, học giỏi, con nhà giàu”. Phạm Đình Chương xét ra hội đủ những điều kiện ấy: Học trò Trường Bưởi, người cao ráo sạch sẽ lại là cậu út trong một gia đình nổi tiếng. Lại còn đàn ngọt, hát hay, còn là ca trưởng của học sinh trong những dịp hội hè, cắm trại. Trong con mắt tôi, một anh học trò nhà quê ra tỉnh học, từ thời áo dài mũ trắng thì Phạm Đình Chương tư cách quá. 

Thời ấy, Nhật đã vào Đông Dương. Thế Chiến thứ hai đang hồi quyết liệt, bom Mỹ dội xuống đùng đùng. Các thành phố phải “phòng thủ thụ động”, các trường học phải đi xa hoặc dời về miền quê. Đang học mà có còi báo động là nghỉ; học trò kéo nhau ra các khu cây cối um tùm, hoặc bờ đầm, bờ sông tạm lánh. Đây là dịp tốt cho một số công tử Hà Nội, trong đó có Chương, về thăm quê cho biết sự tình. Về quê thì tiện cho tôi quá, tôi có nhiều trò: lội sông, câu cá, bắn chim. Hoặc là sẵn xe đạp, tụi tôi rủ nhau đi cắm trại ở những thắng cảnh gần Hà Nội như chùa Thày, chùa Tây Phương, động Hoàng Xá. Những thắng cảnh này đều nằm trong vùng quê tôi (phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây) nên tôi thuộc nằm lòng. Đến chùa Tây Phương thăm ông Phật nhịn ăn mà mặc, ông nhịn mặc mà ăn, ông Phật tai dài đến gối. Đến động Hoàng Xá tôi biết nhũ đá nào kêu thanh, nhũ đán nào kêu đục, bắn một phát súng cao su lên vòm đá là dơi bay tán loạn một vùng. Đến chùa Thày (Sài Sơn) thăm chùa Cả dưới chân, chợ Trời trên đỉnh núi rồi thăm hang Cắc Cớ nơi có dấu chân ông Từ Đạo Hạnh còn in. “Hội chùa Thày vui thay Cắc Cớ, Trai không vợ nhớ hội chùa Thày - Gái không chồng nhớ ngày mà đi”. Chương ơi, Chương còn nhớ ngày hội về quê mình không? Còn nhớ con đê Hạ Hiệp không? Mới đó mà đã 50 năm rồi, đã nửa thế kỷ qua rồi. Chương có nhớ cũng không thể nào về thăm được nữa. Bạn ta đã thành người thiên cổ mất rồi. 

Phạm Đình Chương rất yêu miền Quốc Oai - Sơn Tây vì không những nó là một miền thắng tích mà nơi đó còn là quê ngoại của Chương. Bà thân của Chương ở Hạ Hiệp, cách làng tôi chừng hai vạt cánh đồng. Chương tự nhận mình là người Sơn Tây và trong những năm đó Chương về thăm quê ngoại rất thường. Anh công tử Hà Nội và anh học trò nhà quê càng có dịp gần gũi nhau hơn Khi mùa Xuân đã cạn ngày, hội hè đã vãn, những cây gạo miền Bương Cấn đã tưng bừng nở đỏ thì cũng là lúc chim tu hú lảnh lót gọi hè về trong rặng vải bên sông. “Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc” [5], con sông này ngoài mùa ngâu nước lũ, còn quanh năm nước chảy lặng lờ. Học trò tụi tôi lại đạp xe qua sông về rặng vải, vừa tránh bom rơi đạn lạc ở thành phố, vừa cắm trại vừa ôn thi. 

Nhưng đến năm 1945, thanh niên như Chương và tôi không còn đầu óc nào mà học hành thi cử nữa. Bao nhiêu vấn đề trọng đại vừa ập đến trong đời: hàng vạn, hàng triệu người chết đói. Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3. Chính phủ Việt Nam đầu tiên ra đời. Thế chiến II kết liễu Đức - Ý - Nhật đầu hàng. Quân Tàu Tưởng kéo sang Chiến Khu Việt Minh. Đổi đời. Cách Mạng Tháng 8 Quân đội Pháp trở về, thanh niên đua nhau đi dạy bình dân học vụ, đi khất thực, đi biểu tình. Chúng tôi say mê hát “Lên Đường”, lao đầu vào một cuộc chơi mới không kém phần lãng mạn: đòi độc lập cho đất nước. Chúng tôi là Tự vệ Thành Hà Nội. Chúng tôi là Trung đoàn thủ đô. Như lớp lớp thanh niên cùng lứa, Phạm Đình Chương và tôi khoác ba lô lên đường kháng chiến.

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

                                    (Quang Dũng)

Những năm đầu kháng chiến (1948, 1949, 1950) có những thị trấn mọc lên vội vã. Khu 10 Việt Bắc có thị trấn Cây Đa Nước Chảy; liên khu 3 có Đồng Quan, Cống Thần, Chợ Đại; vào khu 4 Thanh Hóa có chợ Rừng Thông. Đây là nơi dân tản cư tứ xứ kéo về sinh hoạt, đổi trao, mua bán tạo thành những Hà Nội nhỏ. Mấy anh lính cậu ngày nào bây giờ sốt rét, xanh rớt như tàu lá, mắt trợn trừng, tóc rụng nhưng đêm đêm vẫn cứ mơ về Hà Nội. Và được dịp là phải về thăm các thị trấn mới này cho đỡ nhớ ... 

Đầu mùa đông năm 1948, tôi khoác ba lô, đổ bộ lên Chợ Đại tìm ít thuốc nivaquine chống sốt rét. Trời mưa nhớp nháp, những căn nhà tranh lụp sụp kéo dài. Chợt ở đầu đường, hiện ra một quán nước thanh bai, lịch sự mang một cái tên khá là kiểu cách “Quán Thăng Long”. Ở trên vách quán, có treo song song mấy cây đàn nguyệt và một cây thập lục. Ở dưới, bên khay trà tỏa khói có hai vị trưởng thượng đang ngồi đối ẩm. Hai vị này tôi biết: ông thân của Phạm Đình Chương và cụ N. T. Đức, một danh cầm của toàn miền Bắc. Loạn ly, binh lửa mà hai vị tri âm, tri kỷ vẫn nhàn nhã phong lưu. Chiến tranh ở chỗ nào khác chứ ở đây Thăng Long Đông Đô, Hà Nội là vẫn cứ phải đường hoàng, cốt cách. Cốt cách như chị Thái Hằng đang ngồi trước quầy hàng, đi tản cư mà vẫn mang nguyên chiếc kiềng chạm bằng bạc của một thời khuê các, như Thái Thanh cô em nhỏ mới bắt đầu thiếu nữ đang nghiêm chỉnh ngồi đan. 

Người vui nhất khi tôi được gặp là bà thân của Chương. Bà hỏi thăm “quê mình bây giờ Tây nó đánh đến đâu rồi”. Bà cho biết anh Phạm Đình Sĩ có lẽ kẹt, chưa có tin tức gì. Anh Phạm Đình Viêm (Hoài Trung) còn đang đi ban kịch Giải Phóng, chuyên hát bài “con vỏi con voi” và ”con mèo trèo cây cau” nhạc hài hước của Nguyễn Xuân Khoát. Còn Phạm Đình Chương thì công tác ở liên khu 3, chuyên về sáng tác ca khúc. Bà khoe là Chương vừa mới được giải thưởng về bài hát “gì mà có con cò bay lả bay la”. 

À ra thế bạn ta anh công tử Hà Nội đang đưa ca dao vào nhạc mới. Chương, Chương, có phải cánh cò ấy là cánh cò bay qua rặng vải triền sông Đáy? Còn cánh đồng nào rào rạt lúa thơm mềm [6] có phải là cánh đồng Bương Cấn khi chúng ta “Lên núi Sài Sơn ngóng lúa vàng” [7]

Tôi nhớ mãi lời bà thân của Chương khi đưa cho tôi gói thuốc đựng chừng 10 viên nivaquine: “Giữ lấy mà dùng. Dạng các cậu không được phát thuốc này đâu”. Đúng như thế, dạng “tạch, tạch, sè” (tiểu tư sản) như Chương và tôi thì dù sốt rét vàng người, rụng tóc cũng chỉ được phát thuốc ký ninh pha loãng là cùng. Nivaquine thuốc mới, công hiệu, đắt tiền chỉ đủ dùng cho “tổ chức” mà thôi. Thực tế nó là như vậy nên ngoài một số anh em đã “áo bào thay chiếu ...” [8] còn đa số dân tạch tạch sè là kẻ trước người sau “dinh tê” về Hà Nội. Những va chạm với thực tế làm cho giấc mơ tuổi trẻ lụi tàn, cuộc chơi lãng mạn đầu đời đã trở thành một nỗi đam mê vô ích. Tôi về cuối năm 49 còn Chương và gia đình hồi cư năm 51. 

Gia đình Chương kỳ này có thêm một nhân vật lừng danh: Phạm Duy. Năm 1949, chiến tranh lan đến vùng chợ Đại và quán Thăng Long phải dời vào khu 4, vùng trấn nhậm của viên tướng Mạnh Thường Quân Nguyễn Sơn. Ở đây Thái Hằng đã trở thành bà Phạm Duy, Thái Thanh vừa lớn để bước chân vào làng ca nhạc. Cả gia đình Chương phục vụ trong phòng văn nghệ của một đại đoàn. Quán Thăng Long không còn nữa nhưng tiền thân của ban Hợp Ca Thăng Long đã được định hình. Tôi cũng không còn nhớ rõ gia đình Phạm Đình Chương về trước hay sau cái chết của viên tướng đầy huyền thoại Nguyễn Sơn. Chỉ biết là ban Thăng Long vào thành nhưng không ở lại Hà Nội mà vô thẳng miền Nam lập nghiệp. 

Năm 1952 tôi cũng vào Nam, học nghề lính tại trường Thủ Đức. Những ngày cuối tuần ra Sài Gòn chơi, thấy đầu đường góc phố chỗ nào cũng có biểu ngữ, bích chương, quảng cáo ban Hợp ca Thăng Long. Báo hàng tuần, hằng ngày đều đăng hình ảnh, lịch trình diễn của Thái Thanh, Thái Hằng, Hoài Trung, Hoài Bắc, Phạm Duy. Ban Hợp Ca Thăng Long đang rực sáng, những thành viên của nó đang được mến yêu. Người Sài Gòn vốn bộc trực “yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét” mà đã yêu thì yêu hết mình; chương trình của Ban Thăng Long trên đài phát thanh rất được lắng nghe - trình diễn của Ban Thăng Long lại càng ăn khách. Ngưới ta mua “giấy” báo xem thật đông, vỗ tay thật nhiều nhưng còn chưa “đã”. Buổi trình diễn xong rồi, người ái mộ còn ở lại để tìm cách đến thật gần, nhìn thật kỹ hay nếu có thể bắt cái tay, đụng cái chân vào nghệ sĩ, tài tử thần tượng của mình. Người miền Nam ái mộ ồn ào như thế, dễ thương như thế. 

Trước sự tán thưởng nồng nhiệt ấy tôi có lúc đã tự hỏi: “Vì sao mà trong một thời gian chưa đầy hai năm, Ban Hợp Ca Thăng Long lại lẫy lừng đến vậy?” Tôi vốn dốt về nhạc lý, thẩm âm cũng tầm thường thôi nên không dám đưa ra ý kiến có tính cách kỹ thuật nào. Bằng vào cái cảm quan dân dã của mình tôi nhận thấy thực chất của Ban Hợp Ca Thăng Long nằm trong một chữ vui. Vui rộn ràng khi nghe tiếng hát chen tiếng ngựa hí (Ngựa Phi Đường Xa), vui lâng lâng khi nhìn cánh cò bay lả bay la trên đồng lúa chín vàng (Được Mùa), vui đầm ấm khi nghe tiếng hò dô vang trên sóng nước (Tiếng Dân Chài), vui thấm thía nghẹn ngào khi người mẹ già cầm ly rượu uống mừng người con cả vừa mới trở về (Ly Rượu Mừng). Cái vui của nhiều cung bậc, cái vui đã được cách điệu, nên nó dễ dàng thấm đượm lòng người. 

Đồng bào miền Nam xưa nay thừa thãi điệu buồn nên trong cái vô thức tập thể nó thiếu một niềm vui khỏe mạnh. Ban Hợp Ca Thăng Long phần nào đã đáp ứng được niềm khao khát đó. Ấy là chưa kể đến một yếu tố đầy cảm tính rất phù hợp với miền Nam: tất cả thành viên ban hợp ca đều là anh em trong một nhà. Một gia đình tài hoa quá. Một sự kết hợp đẹp đẽ quá. Nhất là sau đó ít lâu, ban hợp ca Thăng Long lại có thêm một thành viên mới: Khánh Ngọc, một bông hoa hương sắc của miền Nam, Hoài Bắc - Khánh Ngọc một lứa đôi nghệ thuật. Ban Hợp Ca Thăng Long càng thêm sung sức. 

Nhưng phải đợi đến đầu năm 1954, Ban Hợp Ca Thăng Long mới lên đỉnh cao thành tựu của mình. Năm ấy ban Hợp ca cùng với “quái kiệt” Trần Văn Trạch, thành lập ban Gió Nam ra công diễn ở Hà Nội. Lúc ấy tôi đang là thương binh nằm nhà thương Võ Tánh. Nghe báo chí Hà Nội tán thưởng Nam Phong chi huân hề - Ngọn gió Nam mát lành thay. Nghe dân chúng Hà Nội xôn xao hâm mộ quá, tôi sốt ruột phải trốn nhà thương một buổi ra xem Gió Nam trình diễn. 

Nhưng mà ra chậm hết vé mất rồi. Nhà Hát Lớn Hà Nội không còn chỗ. Tôi lững thững đứng ngoài nghe tiếng vỗ tay dồn dập từng hồi như sấm mà ruột nóng như lửa đốt. May quá gặp Ngọc Chả Cá một cây công tử Càn Long Hà Nội tôi mới được vào (bây giờ bạn ở đâu hở Ngọc?). 

Người Hà Nội xưa nay khụng khiệng ít khi nào nồng nhiệt thế đâu. Nhưng mà lần này, người Hà Nội bị ban Hợp ca Thăng Long chinh phục hoàn toàn. Trước đó tân nhạc ở Hà Nội chỉ là một bà con nghèo trước cải lương, tuồng kịch ... chỉ đảm nhiệm được vai trò phụ diễn trước khi mở màn hoặc giữa hai lớp kịch mà thôi. Bây giờ Ban Hợp ca Thăng Long với một chuỗi ngôi sao nhạc mới đã chiếm lĩnh sân khấu suốt hai tiếng đồng hồ liên tục. Khán giả Hà Nội được thưởng thức một chương trình nhạc mới tân kỳ sinh động tràn đầy dân tộc tính. Đây là một bước trưởng thành của tân nhạc và trở nên khuôn mẫu cho những đại nhạc hội sau này. 

Buổi trình diễn vừa kết thúc, toàn ban Gió Nam ra chào khán giả. Đèn rực sáng. Những bó hoa trao cho những nghệ sĩ tài năng. Hoài Bắc Phạm Đình Chương giơ cao bó hoa vẫy vẫy, nụ cười rộng mở. Chương không thể nào biết rằng trong số khán giả vô danh ấy, có một người bạn cũ của Chương đang vỗ tay kịch liệt. 

Thập niên 50 là thời kỳ rực rỡ nhất của ban Hợp ca Thăng Long. Thời gian này cũng là lúc Phạm Đình Chương sáng tác đều đặn nhất. Những bài ca chủ lực của ban Hợp ca Thăng Long như Tiếng Dân Chài, Hội Trùng Dương, Ly Rượu Mừng ... đều xuất hiện trong giai đoạn này. 

Không biết tôi có chủ quan không khi nghĩ rằng Phạm Đình Chương trong giai đoạn này vẫn mang dáng vẻ một anh học trò mới lớn, tâm hồn trong sáng như gương, con người, thiên nhiên đều là bè bạn. Ngựa phi đường xa thế nào cũng tới, leo núi mệt nhọc rồi cũng đến nơi, đồng ruộng thì đầy lúa thơm mềm, con sông thì đầy trăng và đầy cá. Thế vẫn còn chưa hết, Chương còn rót một ly rượu mừng, mừng khắp nhân gian. Hãy lắng nghe đi, có một nụ cười đâu đó, khi nhẹ nhàng phảng phất, khi trào lên như tiếng reo vui. Cũng có lúc Phạm Đình Chương nhắc đến điệu buồn; giọt lệ rưng rưng chờ mong bóng con của người mẹ già hay nỗi khổ của đồng bào miền đất cày lên sỏi đá: 

Quê hương tôi nghèo lắm ai ơi

Mùa đông thiếu áo [9] ... 

Nhưng liều lượng của điệu buồn trong nhạc Phạm Đình Chương thời kỳ này rất ít so với niềm vui ào ạt, chỉ như một đối điểm (contrepoint), chỉ như màu đen làm nổi lên sắc trắng mà thôi. Mà điệu buồn cũng được nhắc đến bằng tấm lòng nhân ái, tâm hồn Chương là vậy, mở ra, hướng ngoại, trong sáng vui tươi. Chương không phải là người hướng nội, đi tìm thú đau thương trong những kiểm tra, tự vấn nơi mình. Đó là thực chất nhạc Phạm Đình Chương thời kỳ đầu cũng là đặc điểm của Ban Hợp ca Thăng Long ... 

Giai đoạn sáng tác thứ hai của Phạm Đình Chương bắt đầu từ một kỷ niệm buồn: Ngày Khánh Ngọc rời xa vào khoảng cuối thập niên '50. Sau đó Phạm Duy, Thái Hằng cũng tìm về hướng khác. Ngôi biệt thự ấm cúng đường Bà Huyện Thanh Quan không người ở. Hoài Bắc, Thái Thanh và gia đình dọn về một căn nhà nhỏ đường Võ Tánh (Frères Louis cũ). Chính tại ngôi nhà này tôi thường đến bầu bạn với Phạm Đình Chương cùng với Thanh Nam, Mai Thảo. Tụi tôi đến “hầu bài” bà thân của Chương để được ăn những bữa cơm nhớ mãi: canh cua rau đay, cà pháo, đậu rán ... 

Lúc này, hình như Chương muốn ra khỏi vùng hào quang sáng chói của một ca sĩ thời danh để được sống bình thường nếu không muốn nói là ẩn dật. Đang ăn diện kiểu cách, Chương ăn vận xuề xòa, đi dép không quai lẹt xẹt, chiếc xe hơi dài thòng Studebaker đã được bán đi. Nụ cười kiểu jeune premier đã tắt và đặc biệt Chương để một hàm râu mép chàm ràm, rậm rịt. Lúc này, tụi tôi có một tên mới để gọi Chương: Râu Kẽm. Râu Kẽm đang phóng túng hình hài, ít ăn ít nói hẳn đi, mà có nói cũng thường hừ một tiếng giọng mũi. Một nhát chém hư vô đã làm thay đổi Phạm Đình Chương. 

Ban Hợp ca Thăng Long, với sự phân liệt như thế tưởng đã rã đám. Nhưng đầu những năm '60, ban Thăng Long gượng dậy với Hoài Trung - Hoài Bắc - Thái Thanh. Ban Thăng Long sống lại kỳ này, tuy vẫn được tán thưởng nhưng đó chỉ là cái bóng của chính mình. Phạm Duy đã mang nguồn âm sắc lung linh và trầm lắng của dân tộc đi xa, còn tiếng reo vui chan hòa và nhân ái của Phạm Đình Chương cũng không còn xuất hiện. Trong thời kỳ này ban Hợp ca Thăng Long có trình làng một tác phẩm rất được hoan nghênh: Bài Ô Mê Ly. Nhưng bài hát vui tươi này không phải của Chương mà của một tài danh khác: Văn Phụng. 

Thời kỳ hướng ngoại, tâm hồn sáng tác rõ như gương, tha nhân và ngoại giới đều là bè bạn của Chương đã khép lại rồi. Tiếng cười đã tắt. Thời kỳ này là của đau thương và tiếng khóc. Nhưng khóc than rên rỉ không phải là nghề của chàng. Như đã nói, Chương không phải là người hướng nội, gặm nhấm đau thương làm thứ giải sầu. Nỗi đau thì có sẵn và Chương muốn giữ một mình nhưng lời oán hận thì không. Cho nên những khúc bi ca sau này như Nửa Hồn Thương Đau, Người Đi Qua Đời Tôi, Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội, Chương đều mượn lời của Thanh Tâm Tuyền, Trần Dạ Từ, Hoàng Anh Tuấn ... Chương làm công việc phổ thơ, qua lời của người để phần nào nói lên tâm sự của mình. Những ca khúc này có vị trí riêng của nó, rất được yêu thích qua giọng hát Thái Thanh, nhưng đối với Chương nó vẫn như một sự “Chẳng đặng đừng”. Về bề ngoài, hai giai đoạn sáng tác của Chương có vẻ đối nghịch nhau nhưng nhìn chung nó vẫn thống nhất trong tâm hồn nhân ái của tác giả. 

Nói cho ngay từ thập niên '60 trở đi, việc ca hát đối với Chương cũng là một sự “chẳng đặng đừng”. Thì cũng phải có công ăn việc làm như người ta, ngay cả việc trông coi phòng trà ca nhạc “Đêm Màu Hồng” Chương cũng làm chơi chơi, cho có. Nhưng chính cái vẻ chơi chơi, phóng khoáng ấy nó lại hợp với khung cảnh Đêm Màu Hồng. Đây là một phòng trà gợi nhớ. Nhớ về những bài hát xa xưa, về một thuở mộng mơ đã tắt, về một khung cảnh Việt Nam đã xa, về một ban Hợp ca Thăng Long đã tàn. Phạm Đình Chương đi từ bàn này sang bàn khác cụng ly cùng người mộ điệu hoặc lên sân khấu giới thiệu một bài hát vừa được yêu cầu. Cái giọng có mang hơi rượu cùng với nụ cười nhếch mép đã tạo nên không khí Đêm Màu Hồng vì phần lớn khách đến đây đều là thân hữu. 

Chúng tôi, những buổi phùng trường tác hí là vào khoảng 9, 10 giờ đêm lại tà tà kéo đến Đêm Màu Hồng. Bạn bè có chỗ ngồi riêng, giá biểu riêng. Khẩu vị như thế nào thì chủ quán biết rồi. Vũ Khắc Khoan thì phải Con Thuyền Không Bến, lúc nào cao hứng lại còn phi lên sân khấu mà ngâm “Hồ Trường, Hồ trường ta biết rót về đâu”. Thanh Tâm Tuyền thì phải Mộng Dưới Hoa. Thanh Nam thì Cô Láng Giềng. Hôm nào có mặt tôi, Thái Thanh lại hỏi: Biệt Ly hay Buồn Tàn Thu đây ông? Có bữa Râu Kẽm cảm khái quá liền ôm đàn guitare mà hát một mình (ít khi lắm). Hát tiếng Tây ”Un jour si tu m’abandonnes”   (Ngày nào, nếu em bỏ ta). Có khi vui anh vui em, Chương bỏ luôn phòng trà cùng Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo kéo lên “Quang Minh Đỉnh”. 

Trong những năm ”Đêm Màu Hồng” tôi thường cố giữ một nền nếp. Cứ đêm 30 Tết gần Giao Thừa là tôi kiếm một bó hoa thường là hoa hồng đến Đêm Màu Hồng tặng Thái Thanh. Cô em nhỏ ngày nào đi kháng chiến bây giờ trở thành tiếng hát vượt thời gian. Có lần tôi nhận được cặp bánh chưng của bà thân Chương và Thái Thanh gửi cho. Tôi cầm cặp bánh mà tưởng như vừa nhận món quà Tết từ quê hương phủ Quốc gửi vào. 

Những lúc ấy, năm mới sắp sang, năm cũ sắp hết mà tôi vẫn thấy Hoài Bắc, Mai Thảo ngồi từ từ uống rượu, uống cho say, uống cho quên uống không không mệt mỏi. Tôi chợt nhớ một câu của Mai Thảo “Chúng tôi thân với nhau trong một tình thân thiết rất buồn rầu”. 

Buổi cuối cùng tôi gặp Phạm Đình Chương đâu vào khoảng tháng 5 năm 1975 khi “đứt phim” được chừng hơn 1 tháng. Gặp nhau tại nhà Thanh Tâm Tuyền bên Gia Định có cả Mai Thảo nữa. Mai Thảo mang thêm một chai rượu vang còn sót lại. Các bạn có ý tiễn đưa tôi và Thanh Tâm Tuyền sắp sửa đi cải tạo. Bữa rượu im ắng thê lương. 

Rồi Chương và tôi đạp xe ra về trước. Đạp toát mồ hôi đến quãng Trần Quốc Toản thì mỗi đứa mỗi đường. Chương ngừng lại và tôi cũng ngừng theo. Chương nắm lấy tay tôi vẻ bùi ngùi mà nói: “đi nhé”. Tụi tôi xưa nay ít có cái trò nắm tay, nắm chân như vậy, nhìn nhau một cái là đủ rồi. Chừng như Chương thương cảm cho số phận tôi trước việc đi cải tạo, một chuyến đi không biết bao giờ về. Nhưng bây giờ, 16 năm sau, tôi đã đi cải tạo về rồi, Chương lại làm một chuyến đi không bao giờ trở lại. Đi nhé! Ngàn năm vĩnh biệt Phạm Đình Chương./

 

Phan Lạc Phúc (1998)

Chú thích

[1] Thơ Đinh Hùng

[2] Những thắng cảnh miền Quốc Oai, Sơn Tây

[3] Nhạc Hoàng Quý

[4] Nhạc Lưu Hữu Phước

[5] Thơ Quang Dũng

[6] Được Mùa, nhạc Phạm Đình Chương

[7] Thơ Quang Dũng

[8] Áo bào thay chiếu anh về đất - Thơ Quang Dũng

[9] Hội Trùng Dương, nhạc Phạm Đình Chương


* * *

Cái thuở ban đầu

lưu luyến ấy

Trần Thế Ðc, CVA 63

Thường thì những người có danh, có chức mới viết hồi ký khi về già. Tôi chỉ là một nhà giáo bình thường, chẳng có gì to lớn cả, nên chẳng bao giờ nghĩ đến việc tự viết về mình. Tuy nhiên, qua bao năm sống còn, nghĩ lại mình cũng còn những điều đáng nhớ nên mạo muội ghi lại: Trong cuộc đời chúng ta, biết bao mốc thời gian, biết bao biến cố xảy ra, nhất là những ai đã sống trong những ngày tàn khốc nhất trên đất nước Việt Nam trong những năm khói lửa (1945-1975). Không nhắc tới những biến cố trên đất nước, trong cuộc đời mình, một mốc thời gian quan trọng là lúc quyết định chọn nghề sau khi rời mái trường trung học.

Thuở niên thiếu của tôi (cuối thập niên 1950 và đầu 1960), không có cố vấn học đường, cố vấn nghề nghiệp, và những tài liệu hướng dẫn về các ngành học ở đại học cũng như các trường chuyên nghiệp như ngày nay ở các nước tiên tiến. Tài liệu duy nhất mà chúng tôi biết là cuốn sách nhỏ “Ðây Ðại Học” do sinh viên Công Giáo soạn và tái bản nhiều lần. Ở trường, các thầy trẻ, mới ra trường, cũng là những người hướng dẫn chúng tôi rất nhiệt tâm. Khi tôi học lớp đệ nhị ở Trường Trung Học Chu Văn An Sài Gòn (1961-1962), thầy Phạm Xuân Lương, một thầy giáo trẻ, mới tốt nghiệp Ðại Học Sư Phạm, coi chúng tôi như những đứa em, và hướng dẫn chúng tôi rất nhiều.

Ðối với những kẻ con nhà nghèo như tôi, lời khuyên của thầy là nên học Ðại Học Sư Phạm, vì thời gian học chỉ có ba năm, lại có học bổng (1,500 đồng một tháng) có tí tiền tiêu xài, không cần xin cha mẹ. Vào thời đó, đây là một số tiền lớn vì lương công chức (thư ký phù động) khoảng trên 2,000 đồng, lương chuẩn úy 2,200 đồng ăn tô phở chỉ tốn 5 đồng, ly cà phê 2 đồng. Từ đó tôi thấy con đường đi trước mắt: Ðại Học Sư Phạm. Nhưng học môn gì? Tôi học ban A, khoa học thực nghiệm nên định học môn Vạn Vật, theo gót các thầy Nguyễn Văn Ðỉnh (vị thầy chuyên dạy ban A, với phương pháp thật dễ hiểu) và Nguyễn Ngọc Quỳnh (người có hai bàn tay lả lướt vẽ thành những hình tuyệt đẹp như những bức tranh của họa sĩ, mà khi thầy xóa bảng, chúng tôi cứ tiếc). Ðôi khi thầy Quỳnh biểu diễn bằng cả hai bàn tay với đủ loại phấn màu… Ngoài ra, chúng tôi có thể hỏi các anh chị của bạn bè, những người đi trước. Một người bạn tôi có ông anh học rất giỏi, năm nào cũng lãnh phần thưởng là những chồng sách cao, khi còn học Chu Văn An. Sau khi đậu tú tài, anh thi đậu vào trường Cao Ðẳng Nông Lâm Súc. Tôi rất mê ngành nông nghiệp mà anh đang học. Anh phải đi thực tập hàng tháng trời, khi thì ở các đồn điền cao su Long Khánh-Bình Dương, khi thì ở các đồn điền trà Bảo Lộc-Lâm Ðồng. Ðọc cuốn luận văn sau khi thực tập của anh (ngành trồng trà ở Bảo Lộc-Lâm Ðồng), tôi rất thích. Nhưng tôi không thể mơ tới trường này được, vì trong kỳ thi tuyển có bài toán ban B, chỉ bài Vạn vật mới ở trình độ ban A. Tôi học ban A thì làm sao làm nổi bài toán ban B.

Trường Trung Học Chu Văn An của tôi gần như là trường ban B. Thế mà tôi lại chọn ban A. Lớp ban A của tôi tập trung những kẻ cùng thân phận như tôi (dốt hoặc sợ môn toán), nhưng lại là nơi khởi đầu của nhiều bạn học giỏi đã chọn con đường thật dài và sáng giá: y khoa đại học, để trở thành bác sĩ. Những người bạn thân của tôi từ thời đệ thất đều khuyên và rủ tôi cùng vào APM (Année Préparatoire de Medecine = dự bị y khoa) với họ. Nhưng hoàn cảnh của gia đình tôi quá eo hẹp, 7 năm học thật quá dài. Tôi đành chọn con đường ngắn hơn chút ít: nha khoa, chỉ học 5 năm. Chó ngáp phải ruồi, tôi đậu (họ tuyển 30 ngưởi trong số 800 thí sinh dự thi). Thế là tôi học dự bị nha khoa (APD = Année Prépatoire Dentaire) ở Ðại Học Khoa Học, kế bên Ðại Học Sư Phạm.

Hơn 10 mạng ban A chúng tôi thi vào Ban Vạn Vật, Ðại Học Sư Phạm, nhưng chỉ có một đứa duy nhất đậu. Học ban A thì phải “tụng” Vạn Vật cho kỹ. Tôi thuộc cả đến những chỗ xuống hàng và mọi hình vẽ trong cuốn sách dày cộm, thế mà vẫn ăn vỏ chuối. Ban Vạn Vật thực là khó: khoảng 1,000 thí sinh, trường Ðại Học Sư Phạm chỉ lấy có 15 người. Người bạn cùng lớp với tôi đậu được là do đâu? Có lẽ do tài khéo tay của anh ta (vẽ thật đẹp như họa sĩ), và cũng do bài Anh Văn nữa. Kỳ thi có một bài Vạn Vật và bài Anh Văn (dịch Anh-Việt).

Tôi học dự bị nha khoa, giờ rảnh thì cùng bạn bè lang thang khắp nơi: hầm MPC, Ðại Học Sư Phạm, chờ giờ học sắp tới. Bỗng tôi thấy bên Ðại Học Sư Phạm tấp nập với những tà áo thướt tha. Ðại Học Sư Phạm đang nhận đơn thi tuyển cho niên khóa sắp tới. Tôi gặp lại bạn bè Chu Văn An cũ, đang học ở những đại học không mấy chắc ăn (Khoa Học, Văn Khoa, Luật Khoa) cũng nộp đơn thi vào Sư Phạm cho yên.

Người ta nộp đơn thì tôi cũng lấy bằng tú tài ra và điền đơn, đâu có mất mát gì. Nhưng thi vào môn nào? Ban Vạn Vật thì tôi đã tiêu tùng từ năm trước, không dám đụng đến nữa. Anh Văn và Việt Văn thì làm sao địch nổi bọn ban C. Thôi thì nộp vào ban Sử Ðịa vậy, vô thưởng vô phạt, ai cũng như ai. Ðến ngày, tôi cũng đi thi. Thế mà chó ngáp phải ruồi, tôi đậu, thứ hạng cũng khá cao trong 40 thí sinh trúng tuyển, của khoảng 1,000 người dự thi. Bao nhiêu bạn bè của tôi đều không thấy tên. Năm trước, khi thi vào ban Vạn Vật, tôi còn mở sách ra dò lại bài. Chứ bây giờ, tôi thi chơi chứ có định học đâu mà ôn bài! Sau này, khi học Sử Ðịa ở Ðại Học Sư Phạm, tôi ngẫm nghĩ tại sao mình lại đậu? Tôi nhớ mang máng đề thi lúc đó là: “Tình hình thế giới giữa hai thế chiến.” Tôi đoán: khi làm bài thi, tôi đã làm đúng phương pháp sử mà sau này tôi được học: phân tích, tổng hợp, giải thích sự kiện. Ðó là những ý niệm tôi rút ra khi học sử ở trung học, khác với lối học thuộc lòng ngày, tháng, năm, tên vua này, vua nọ… chán ngấy. Hồi đó, tôi không hài lòng về cách dạy Sử-Ðịa của vài thầy khi còn học ở những lớp dưới. Tôi nghĩ: bài như thế thì phải dạy học sinh thế này, thế kia, chứ bắt học sinh học thuộc lòng thì còn gì hay nữa. Tôi đã nghĩ ra phương pháp phản hồi đối với bài dạy, mà sau này khi học sư phạm tôi mới được biết.

Sử Ðịa ở trung học, bị coi là môn phụ, môn ăn chơi. Nhưng tôi lại thấy học Sử như đọc truyện nên nắm bắt được những sự kiện chính, những mốc thời gian. Môn Sử khiến cho con người tôi lúc thì nóng bừng lên, lúc thì giận tím gan (phản hồi). Môn Sử tạo cho con người tinh thần yêu nước, yêu non sông, đất Việt. Còn Ðịa Lý, tôi có cảm tưởng như mình được đi du lịch khắp năm châu bốn biển, biết được nhiều nơi, nhiều dân tộc trên thế giới và rút ra những bài học cho đất nước mình. Có lẽ Sử-Ðịa đã thấm vào trong tim óc tôi từ lâu, nên tôi đã làm bài thi đúng phương pháp và may mắn thi đậu.

Trước ngày khai giảng ban Sử Ðịa, tôi coi thời khóa biểu niêm yết trước văn phòng hành chánh, thấy giờ học cũng nhàn nhã nên thử vào xem sao. Tôi cứ tưởng sẽ được gặp các vị nổi tiếng trong lãnh vực Sử Ðịa như ông bà Tăng Xuân An, Giáo Sư Phan Khoang, Sử Gia Phạm Văn Sơn,… Nhưng trên thời khóa biểu chỉ thấy tên các vị giáo sư mà trước kia tôi chưa hề nghe tiếng: Phạm Cao Dương, Phạm Ðình Tiếu, Lâm Thanh Liêm, Nguyễn Thế Anh,… cả mấy ông Tây nữa (Teulières, Flamand). Vị giáo sư đầu tiên mà tôi được gặp là Giáo Sư Phạm Cao Dương. Những giây phút đầu tiên chúng tôi học với thầy không phải là bài sử, mà là những lời hướng dẫn cho chúng tôi con đường chúng tôi nên theo, nên làm. Theo thầy, trong lãnh vực Sử-Ðịa và văn hóa của người Việt Nam, còn rất nhiều điều mà người Việt Nam chúng ta chưa nghiên cứu, chẳng hạn lịch sử mỹ thuật Việt Nam chưa có những công trình nghiên cứu sâu xa. Còn sử Việt Nam, từ trước tới nay, người viết sử chỉ nhìn dưới khía cạnh lịch sử chính trị mà không nhìn dưới khía cạnh lịch sử văn minh. Quả thực là thật mới mẻ đối với tôi. Thầy đã hé mở cho chúng tôi biết sử là gì. Thầy còn nhắc: mình không làm thì ai làm? Tôi nhớ lại, khi còn học ở trung học, các thầy tôi nhắc tới những công trình nghiên cứu văn hóa Việt Nam do người Pháp thực hiện. Có những ông tây da trắng, mũi lõ ngồi hút thuốc lào cùng với các bác nông dân trên bờ ruộng để tìm hiểu văn hóa Việt Nam. Người Pháp làm được thì tại sao mình không làm được? Vả lại họ nghiên cứu cách nay mấy chục năm rồi, nước ta, dân ta đã có nhiều thay đổi. Những lời đầu tiên của Giáo Sư Phạm Cao Dương khiến tôi suy nghĩ và cảm thấy hứng khởi. Giáo Sư Phạm Cao Dương đã xoáy vào timbọn sinh viên mới bước chân vào đại học. Tôi thấy cũng hay. Mình sống, làm được chút gì là vui. Dạy trung học chỉ có 16 giờ mỗi tuần, nghĩa là chỉ có bốn buổi, còn quá nhiều thời giờ rảnh rỗi, mình có thể làm việc khác, tìm hiểu về văn hóa, sử, địa của địa phương mình, và rộng ra của nước Việt Nam chúng ta. Tôi tìm thấy nguồn vui. Những lời nói đầu tiên của Giáo Sư Phạm Cao Dương khi tôi bước chân vào Ðại Học Sư Phạm đã tạo nên bước ngoặt có tính cách quyếtđịnh trong cuộc đời tôi.

Hôm sau, Giáo Sư Lâm Thanh Liêm cũng khuyến khích chúng tôi nên ghi danh học Sử Ðịa ở Ðại Học Văn Khoa và đi vào con đường nghiên cứu địa lý. Những lời tâm huyết của thầy là nguồn khích lệ lớn lao cho 40 lính mới chúng tôi: nửa lớp ghi danh học năm dự bị ở Ðại Học Văn Khoa. Một số bạn không ghi danh ở đó vì còn học tiếp bên Luật Khoa mà họ đã theo đuổi từ trước, hoặc bận bịu dạy thêm ở trường tư, kiếm cơm nuôi gia đình.

Ngoài Giáo Sư Phạm Cao Dương, chúng tôi học với Giáo Sư Phạm Ðình Tiếu. Thầy Phạm Ðình Tiếu lôi cuốn chúng tôi với tính tình cởi mở, gần gũi với học trò. Phong cách thân mật với học trò, làm việc hăng say hết mình của thầy đã thấm vào con người chúng tôi. Sau này, khi ra trường, những nhà giáo chuyên về Sử Ðịa của lớp chúng tôi thường lăn xả vào những sinh hoạt trong trường mà những người chuyên dạy tư thường tránh né: tổ chức những sinh hoạt xã hội, trại du khảo, trại công tác, đảm nhận chức vụ hiệu đoàn phó (hiệu trưởng là hiệu đoàn trưởng). Có những bạn phải nhận chức vụ hiệu trưởng, giám học ngay từ năm đầu tiên nhận nhiệm sở. Những sinh hoạt trong trường khiến đời sống trong trường học không chỉ là phấn trắng, bảng đen, sách vở. Chính những sinh hoạt này tạo nên sự khắng khít giữa thầy, trò, trường, lớp mà không sách vở nào tạo nên được. Ngoài Sử Ðịa và Việt Văn, có thầy cô dạy môn nào đào tạo học sinh trở thành những người có tâm hồn Việt Nam? Từ thế hệ chúng tôi, học sinh không còn nhìn ông thầy Sử Ðịa qua môn học hệ số 2, môn phụ. Sử Ðịa không còn là môn mà bất cứ ai cũng dạy được.

Trước kia, Sử Ðịa do những giáo chức không chuyên môn đảm nhận vì Ðại Học Sư Phạm chưa cung cấp đủ thầy cô giáo. Còn chúng tôi do Ðại Học Sư Phạm đào tạo vững vàng về kiến thức chuyên môn, tự tin về khả năng sư phạm, lấy lại uy tín cho bộ môn Sử Ðịa. Có những bạn cùng khóa chúng tôi đã “hớp hồn” học sinh: “Sau này em sẽ học Ðại Học Sư Phạm, môn Sử Ðịa, giống thầy.” Không biết các bạn tôi đúng hay sai? Khi “thôi miên”học sinh vào môn học mà nhiều người vẫn coi thường, khiến học sinh không chọn những con đường khác, nghề khác là điều thiệt thòi cho các em. Tương tự như thế, thầy giáo trẻ mới ra trường khiến cô nữ sinh nào đó bị say lòng, dù anh ta không làm điều gì trái với chức năng của nhà giáo, cũng làđiều đáng tiếc, vì nếu không gặp ông thầy thần tượng của em, biết đâu em chẳng gặp được chàng trai nào đó có chức, có danh hơn ông thầy tỉnh lẻ. Tuy nhiên, ông thầy dạy Sử Ðịa tạo được ảnh hưởng đối với tương lai của học sinh đã chứng tỏ sự thành công của nhà giáo.

Khi học với Giáo Sư Lâm Thanh Liêm về những môn địa hình thái học (Géomorphologie) và bản đồ (Cartographie) tôi thấy hay: Khi học ở lớp đệ tam (1960-1961), tôi thật uể oải với môn địa chất học, phải chịu đựng nhiều giờ trong tuần, ban A mà. Nhưng nay, đất đá là những dạng cụ thể ở các địa hình, trên đất nước Việt Nam và trên thế giới, là thực tế bên ngoài nhà trường, tôi lại thấy gần gũi. Môn học này nhẹ nhàng đối với tôi. Giáo Sư Lâm Thanh Liêm mới từ Pháp về, sau khi tốt nghiệp tiến sĩ đệ tam cấp ở Đại Học Sorbonne, Paris, một trường đại học nổi danh.

Một môn mới lạ đối với những người mới bước chân vào lãnh vực chuyên môn về Sử là môn Bình giảng sử liệu do Giáo Sư Nguyễn Thế Anh giảng dạy. Tôi thích thú với môn này, vì những dữ kiện của quá khứ nói lên rất nhiều điều sống động, mình khám phá ra biết bao điều đã chìm vào thời gian đã qua: xã hội, kinh tế, chính trị, giải thích những biến cố từ sâu trong quá khứ. Giáo Sư Nguyễn Thế Anh cũng mới từ Pháp về, với bằng thạc sĩ. Theo hệ thống giáo dục Pháp, người có văn bằng thạc sĩ là giáo sư đại học thực thụ, chứ không phải thạc sĩ là tên của văn bằng cao học sau cử nhân như hiện nay trong nước gọi. Những ngày đầu bước chân vào Ðại Học Sư Phạm, tôi thơ thới, hân hoan. Tôi cùng các bạn cùng lớp sang ghi danh ở Ðại Học Văn Khoa, nằm ở đường Nguyễn Trung Trực (sau này là trụ sở của Thư viện Quốc gia). Ðây là trung tâm thành phố Sài Gòn, sát bên đường Lê Thánh Tôn, đi bộ trăm mét là tới đại lộ Lê Lợi, nhà sách Khai Trí, kem Mai Hương, nước mía Viễn Ðông,… Sau giờ học, chúng tôi có thể bát phố, ngồi quán cà phê ngắm các bóng hồng thướt tha trên đường Lê Lợi, hoặc ghé vào rạp xi nê khi có phim hay. Tôi ghi danh với mục đích vui chơi nhiều hơn là học.

Trường Ðại Học Văn Khoa không có những đại giảng đường khang trang như những đại học khác. Phòng học ở đây nằm trong những căn nhà bệ rạc không thua gì khu “chuồng ngựa” trường Chu Văn An của tôi. Sinh viên dự bị nhiệm ý Sử Ðịa phải học chung nhiều môn với các sinh viên chọn nhiệm ý khác, nên lớp học nào cũng đông nghẹt. Các cô thường đi sớm dành chỗ cho nhau ở các hàng ghế đầu, giống như đi xem kịch vậy. Không thể tranh giành với các bóng hồng, lại lười đi sớm, tôi thường ngồi phía sau lưng các bóng hồng, hoặc đứng ngoài cửa sổ mà ngóng vào nghe giảng. Trường xập xệ như vậy nhưng thầy trò không màng những thứ vật chất tầm thường trên thế gian và hướng tới những cái hay, cái đẹp.

Tại Ðại Học Văn Khoa, tôi thấy những môn học thật nhẹ nhàng, bay bướm. Cũng may, thời khóa biểu ở Ðại Học Văn Khoa và Ðại Học Sư Phạm không trùng nhau nhiều nên tôi có thể đi học được mà không sợ bị mất bài. Nếu có trùng với Ðại Học Sư Phạm thì tôi mượn vở ghi “cua” của bạn. Tôi không chủ đích học văn chương, nhưng những giáo sư văn chương khiến tôi thấy học cũng thích thú: Nghe Giáo Sư Nguyễn Văn Trung nói chuyện về văn chương, về nhà văn (nhà văn, người là ai?) cũng hấp dẫn. Còn mỗi buổi học với Linh Mục Thanh Lãng là một bài nói chuyện lý thú về văn chương, không uổng công đứng mỏi chân ở ngoài cửa sổ ghi chép.

Văn chương ở đại học, dù chỉ ở cấp thấp nhất (năm dự bị) cũng khác với văn chương tôi học ở trung học. Tôi cũng phải học môn chữ Hán. Tưởng rằng thứ chữ này thật khó nuốt, nhưng giáo sư Lưu Khôn đã thay đổi cách suy nghĩ của tôi. Với cách dạy của thầy, tôi thấy học loại chữ này không khó, nhưng mình phải bỏ thời gian với nó. Qua những bài học đầu tiên, tôi nhận ra tính thâm thúy của người TrungHoa qua lối viết của họ. Sau này tôi sẽ bỏ thời giờ nhiều hơn để học thứ chữ này để có khả năng đọc được những bản văn cổ viết bằng chữ Hán.

Thế là ở Ðại Học Văn Khoa, tôi cũng thấy học mà vui.

Sau khi “ngao du” ở cả hai trường Sư Phạm và Văn Khoa, tôi quyết định “xin chọn nơi này làm quê hương.” Lý do là học ở những nơi này rất nhẹ nhàng, không mệt nhọc như học Anatomie, Physique, Chimie,… và đến trường lại thấy mướt mắt, cuộc đời cũng có niềm vui. Tìm hiểu sâu xa về văn hóa dân tộc, nghiên cứu về đất nước, lịch sử dân tộc mình cũng là nguồn vui. Sau này, khi học ở Ðại Học Văn Khoa, được dịp dự những buổi trình tiểu luận cao học (thời đó chưa có tiến sĩ) hoặc tìm hiểu những đề tài nghiên cứu ở bậc cao học, tôi nhận ra đó là những khám phá về đời sống của dân tộc mình.

Một lý do nữa khiến tôi chọn nghề dạy học là nhà giáo vẫn còn chút giá trị tinh thần trong xã hội. Vào thời tôi, nhà giáo vẫn được quý trọng. Bạn bè tôi có anh chị dạy học ở tỉnh cho biết thầy cô giáo phải ăn uống trong tiệm đàng hoàng, chứ không được ngồi ở các quán bên lề đường hay trong chợ. Nếu không phải là thầy cô giáo thì ăn uống ở đâu, chẳng ai để ý. Thầy giáo mà giao du với cô nào thì ngày hôm sau cả trường đều biết và xầm xì. Các anh sĩ quan cặp bồ với cô này, cô nọ lại là chuyện thường. Tôi không muốn nói là cần mọi người kính nể, hay sợ bị coi là tấm gương cho mọi người, mà chỉ muốn nói rằng nhà giáo vẫn còn được xã hội quý mến. 10 năm sau, xã hội thay đổi, danh dự của nhà giáo tuy có sứt mẻ, nhưng xã hội vẫn nể vì họ những bậc thay mặt cha mẹ dạy dỗ con cái của họ.

Còn về vật chất thì ngành giáo được chính phủ ưu đãi hơn các công chức hạng A khác: chỉ số lương của giáo sư trung học đệ nhị cấp mới vào nghề là 470, trong khi tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh hoặc Cao Ðẳng Nông Lâm Súc chỉ số lương là 430. Sinh viên Ðại Học Sư Phạm được học bổng 1,000 đồng mỗi tháng, trong khi sinh viên trường Cao Ðẳng Nông Lâm Súc phải xin học bổng, nếu được chấp thuận mới được 700 đồng mỗi tháng. Với tiền học bổng hàng tháng, tôi không cần phải xin cha mẹ hoặc đi dạy kèm nữa. Bạn tôi ở tỉnh về Sài Gòn học, với số tiền học bổng này, anh ta đủ trang trải tiền trọ và tiền ăn hàng tháng. Lương giáo sư trung học đệ nhị cấp mới ra trường thời đó khoảng 9,000 đồng mỗi tháng. Nếu dạy thêm một số giờ (vì thiếu người dạy), lương sẽ trên 10,000 đồng/tháng. Ðây là mức lương rất cao (gấp 5 lần lương của thư ký). Với mức lương này, tôi nghĩ cuộc sống sẽ đầy đủ. Không mong làm giàu, tôi chỉ mong cuộc sống yên ổn, an nhàn.

Nếu tôi học xong nha khoa, làm sao tôi có được vài trăm ngàn đồng để mua máy làm răng? Dược sĩ không có tiền mở nhà thuốc tây thì cho mướn bằng. Còn nha sĩ thì không thể cho mướn bằng được. Thời đó, người mình chưa có thói quen đi khám răng và điều trị ở nha sĩ. Khi đau răng hoặc làm răng giả, người ta thường đến thợ trồng răng.

Tôi đã quyết định bỏ Nha Khoa, theo học Sư Phạm song song với Văn Khoa. Thế là dạy học là nghề và nghiệp của tôi. Tôi vui với học trò, vui với việc nghiên cứu Sử Ðịa. Thế hệ chúng tôi chưa làm được việc gì to lớn cho đất nước, nhưng rất vui vì đã đem hết khả năng của mình đào tạo mầm non cho đất nước. Ðất nước Việt Nam còn đau thương, còn chiến tranh, nhưng chúng tôi rất tự tin vì đã được đào tạo thành những nhà giáo đầy đủ khả năng chuyên môn, đầy nhiệt huyết để đào tạo thế hệ mai sau thành những người có lòng và có khả năng xây dựng đất nước. Dù các môn Sử Ðịa đòi hỏi tinh thần khách quan và khoa học, nhưng qua những dữ kiện đó, lòng yêu nước vẫn nảy mầm trong học sinh và các em không hổ thẹn làm người Việt Nam. Song song với nghề nghiệp, một số chúng chúng tôi tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu sâu rộng hơn trong những lãnh vực sử và địa.

Khi chúng tôi tốt nghiệp Ðại Học Sư Phạm thì một bạn đã trình tiểu luận cao học Ðịa Lý và bốn người hoàn tất văn bằng cử nhân giáo khoa Sử Ðịa. Tới ngày 30 tháng 4, 1975 thì: Hai người hoàn tất văn bằng cử nhân giáo khoa Sử Ðịa. Hai anh này không học tiếp lên cao học vì một anh say mê với các môn kinh tế ở Ðại Học Luật Khoa. Còn anh kia thì bận bịu với việc dạy học ở tỉnh nhà. Một người hoàn tất cao học Sử, do Giáo Sư Nguyễn Thế Anh bảo trợ. Hai người đậu cao học Ðịa Lý, do giáo sư Lâm Thanh Liêm bảo trợ. Hai người này qua được năm thứ nhất chuyên khoa Ðịa Lý, chuẩn bị luận án tiến sĩ chuyên khoa Ðịa Lý.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là biến cố đau thương của toàn dân Việt Nam. Khi nón cối, dép râu, nón tai bèo giẫm nát Sài Gòn, vào chiếm trường học thì cuộc đời đã chấm dứt. Thân phận chúng tôi là những kẻ chiến bại, những kẻ được kẻ chiến thắng cho tạm dung. Chúng tôi bám lấy trường chỉ để bám lấy sự sống cho gia đình, để khỏi bị tống ra ngoài thành phố mà người ta gọi là đi kinh tế mới. Bọn con trai chúng tôi trong khóa 7 Ðại Học Sư Phạm may mắn không phải đi tù cải tạo, vì chúng tôi chỉ học quân sự 9 tuần, mang cấp bậc khóa sinh dự bị sĩ quan. Các bạn từ khóa 6 trở về trước và khóa 8 trở về sau đều phải nếm mùi tù cải tạo vì mang cấp bậc sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, biệt phái. Trong xã hội cộng sản, mình chỉ được nói những gì mà đảng cho nói, nói mà chẳng ai tin, ngay cả chính mình. Những nhà giáo tạm dung như chúng tôi muốn yên thân thì chấp nhận thân phận những con vẹt để sống cho qua ngày. Người bạn cùng lớp với tôi dạy ở trường trung học Pétrus Ký (nay là Lê Hồng Phong) vạ mồm vạ miệng nói trước lớp: “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.” Thế là đám học trò đoàn, đảng báo cáo với ban giám hiệu và ngay hôm sau, anh bị đuổi khỏi trường. Khi mới tiếp xúc với cộng sản, anh ta chưa nhận ra được cách sống cho thích hợp.

Bản chất nhà giáo là sống chân thật nên khó xoay sở trong lúc tình thế nhiễu nhương. Một số rất ít người lanh lợi tháo vát thì kiếm sống thêm trên đường phố: buôn bán thuốc tây chui, quần áo cũ… Chúng tôi được đào tạo về cả Sử lẫn Ðịa, nhưng họ chỉ định dạy một môn Sử, hoặc Ðịa. Sử của Cộng Sản là sử đảng, sử bác. Khi Việt Cộng mới chiếm Sài Gòn, muốn biết xem lối viết Sử của họ ra sao, tôi tìm đọc cuốn Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam tập I. Ngay trang đầu là hình Hồ Chí Minh to tổ bố. Vậy là gì? Hồ Chí Minh được đặt trước các bậc tổ tiên của dân Việt, trước cả các vị anh hùng dân tộc như Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Huệ,… Sau đó là lời nhắn nhủ của thủ tướng Phạm Văn Ðồng: “… Các đồng chí phải chứng minh cho được thời kỳ chiếm hữu nô lệ…” Như thế: Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng là nhà hành chánh, nhà chính trị mà các người gọi là nhà viết sử của chế độ phải tuân lệnh thì loại văn mà họ viết ra chỉ để vừa lòng xếp, chứ không phải là kết quả của cuộc nghiên cứu khách quan.

Họ đặt cái cày đi trước con trâu, tìm con bò cho vừa cái chuồng. Chưa nghiên cứu mà phải tìm cho được thời kỳ chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam. Cái gọi là “Sử” của Cộng Sản chỉ là một loại văn viết theo đơn đặt hàng của đảng. Sau này mới biết những nhân vật lịch sử mà học sinh bị nhồi sọ như Phan Ðình Giót, Lê Văn Tám chỉ là những sản phẩm bịp bợm. Những cuốn sách tái bản sau này của bộ Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam đã bỏ câu nói của Phạm Văn Ðồng, nhưng ảnh của Hồ Chí Minh thì vẫn vậy. Dẫn chứng như trên, tôi muốn nói: đối với cộng sản, không có môn Sử mà chỉ có những lời tuyên truyền theo họ muốn.

Còn về Ðịa Lý? Làm sao mà dẫn chứng chủ nghĩa tư bản đang giẫy chết trong khi nền kinh tế và trình độ khoa học kỹ thuật vượt bậc của họ không thể bịp được đứa con nít? Làm sao mà chứng minh: “Ðồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ”? và phản khoa học như: “Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ”? Cái khổ của người trí thức không phải vì chầu chực để được nhận những hột bo bo, con cá ươn, mớ rau thối… mà là nỗi nhục cho thân phận của mình, và nỗi đau cho đất nước và dân tộc.

Người ta gọi ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày đứt phim, ngày đổi đời, ngày mất nước, ngày quốc hận. Ðiều nào cũng đúng. Phận mình còn không biết có yên thân không thì còn nghĩ gì tới nghiên cứu. Nghiên cứu làm sao được khi tài liệu không có. Tin tức, số liệu được công bố thì toàn là những bịa đặt. Tất cả mọi thứ trong chế độ “ưu việt nhất của loài người” phải được đảng lãnh đạo. Ðảng có sai bảo thì mới được làm. Bọn nhà giáo gốc ngụy, lý lịch ba đời đầy rẫy những vết đen thì đảng cho yên thân là tốt lắm rồi, nói gì đến nghiêu cứu. Tinh thần đâu mà nghiên cứu khi hàng ngày gia đình nheo nhóc, dạ dày lép xẹp. Còn về mặt hành chánh, trường Ðại Học Tổng Hợp (thay cho Ðại Học Văn Khoa trước kia) chỉ công nhận văn bằng cử nhân, chứ không công nhận văn bằng cao học. Cuộc đời của nhiều người coi như đã chấm dứt từ cái ngày đen tối đó.

Vài lời ghi lại của một kẻ đã hết lòng với cả hai trường Ðại Học Sư Phạm và Văn Khoa Sài Gòn, nhân dịp Hội Ngộ 40 Năm Viễn Xứ (được tổ chức tại Nam Cali, USA) mà đường xa vạn dặm không thể tới dự được.

Trần Thế Đức, CVA63

Úc Châu, 28 tháng 8, 2015

                                 ¯

* * *

NGƯỜI VIỆT -

CHIM VIỆT - CÁ VIỆT

 

 

                                 Lưu Văn Vịnh , CVA 57-60

Theo nhà Phật, chúng sinh bao gồm muôn loài, loài người, chó lợn,voi ngựa…sinh tử trên giải đất Việt, loài cá sống dưới biển Đông, đàn chim lượn trên vòm trời Nam, tất cả đều mang chung một cộng nghiệp, cho nên gặp thời mạt pháp, khi hàng triệu dân lành chết oan vì bom đạn vượt biên vượt biển, thì cũng tới lượt triệu triệu cá chết vì độc chất, triệu triệu gà lợn bị chết vì dịch tễ, loài chim mất rừng lá, khí trời ô nhiễm, trụi lông tan tác, chim sẻ chim xanh có cơ tuyệt chủng…

*

Chim Việt đậu cành Nam phương

Cá Việt nằm phơi bóng thuỳ dương

Hồn Việt muôn đời ôm chặt giữ lấy quê hương !

Toàn con dân, chim-cá-người,

Toàn chúng sinh nước non ta

Một bầu trời-Một góc biển

Cùng cộng nghiệp chia nhau nước mặn phù sa

Cùng thở bầu linh khí vòi vọi vòm cung Đông Á

Uống máu ăn thề giữ đất giữ biển đảo quê cha

Sóng bạc đầu cuồn cuộn ầm ầm tiếng thét

Trăm ngàn bộ xương người chưa chịu hoá kiếp

Cùng cá chết biển Đông

nằm nín hơi đáy biển

chờ một ngày quật khởi Lạc Hồng.

Thuỷ phủ họp bàn trang nghiêm trình Trời

Long quân trợn mắt vuốt râu

mở trang Sách Ước

Gậy thánh thần treo cất bốn ngàn năm

Đầu tử đầu sinh, nước Nam một dòng sinh mệnh

Vạn vạn ánh mắt nung nẩy lửa ngọn tre Thánh Gióng

Voi Quang Trung Hưng Đạo ngạo nghễ thét trời Đông

Muôn bắp tay, muôn ngàn tráng sĩ, bừng bừng sức sống

Mỗi tia mắt Việt quắc sáng lưỡi dao chuỷ thủ Kinh Kha

Mỗi thân cá Việt lấp lánh tấm áo giáp trấn giữ sơn hà

Mỗi cánh chim Việt bay cao sứ điệp mệnh trời bao la.

Rạch gươm mặt đất, quắc mắt thép, ngang trời xanh

Triệu triệu hồn chim, hồn cá, hồn người

Hải triều âm vời vợi ầm ầm sóng biển Đông

Muôn năm vang vang lời thề khắp non sông

Khúc khải hoàn ca Lạc Việt vạn tuế vạn Vạn Xuân.

LƯU VĂN VỊNH-, CVA 57-60

Đã đọc trong ngày Tân niên CVA Bắc CA
26-2-2017 tại San Jose.

*

* * *

Nhân ngày Quốc Hận 30/4,

Nhớ về Sài Gòn của tôi

Một thời để thương,

Một thời để nhớ

Nguyễn Lương Tuyền, CVA63

Bác sĩ Nguyễn Lương Tuyền

Lời giới thiệu: Bác Sĩ Nguyễn Lương Tuyền sinh quán tại Hải Dương (Bắc Việt). Di cư vào Nam năm 1954. Là cựu học sinh Chu Văn An Sàigòn từ 1956 tới 1963 và cựu sinh viên Y Khoa Đại Học Sàigòn khoá 1963-1970.

*Đậu Thủ Khoa kỳ thi tuyển Nội Trú các Bệnh Viện (Interne lauréat des Hopitaux de Sàigòn), Làm Interne des Hopitaux 5 năm, từ 1968 tới 1973

*Giảng nghiệm Trưởng khoa Giải phẫu Trẻ em (Pediatric Surgery) từ 1973 -1975 tại Y Khoa Đại Học Sàigòn.

Sau khi di tản qua Bắc Mỹ năm 1975 :

*Đi học lại 6 năm trong đó có : 3 năm Giải Phẫu Tổng Quát (General Surgery) và 2 năm Fellowship in Pediatric Surgery ở Nhà Thương Nhi Đồng Toronto (The Toronto Hospital for Sick Children (ĐH Toronto).

*Năm 1981: định cư tại Montreal, làm việc tại University of McMill. Attending Pediatric Surgeon tại The Montreal Children's Hospital cho tới ngày về hưu năm 2010 vì lý do sức khoẻ.

Chức vụ sau cùng tại Đại học McGill trước khi về hưu: Associate Professor of Pediatric Surgery

Awards & Honours :

*Teacher of the year 1992

*Lifetime Achievment Award 2009 (Giải thưởng thành tựu một đời tại Đại học McGill)

*Năm 2010: một Excellent Award mỗi năm, cho một Resident về Giải phẫu xuất sắc. Award này mang tên L T Nguyen Excellent Award.

]

Tôi xa Sài Gòn đã hơn 40 năm. Sài Gòn là nơi nuôi tôi lớn lên, trưởng thành. Những ngày hoa mộng của đời tôi được bắt đầu ở thành phố yêu dấu này, để rồi bị chấm dứt một cách tức tưởi vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi Sài Gòn bị đổi chủ, đổi tên. Tôi bị buộc phải rời xa Sài Gòn, năm đó tôi vừa tròn 30 tuổi.

Tôi mở mắt chào đời ở Miền Bắc nước Việt. Khi Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông từ các An Toàn Khu ở Việt Bắc về tiếp thu Hà Nội theo đúng Hiệp Định Genève, ký ngày 20 tháng 7 năm 1954, tôi theo gia đình di cư vào Nam, đúng hơn là vào sống ở Sài Gòn. Đó là ngày 28 tháng 8 năm 1954 - chỉ hơn 1 tháng sau khi Hiệp Định Genève chia đôi đất nước được ký kết. Tôi đặt chân đến Sài Gòn vào khoảng nửa đêm. Mệt mỏi rã rời, tôi ngủ vùi cho đến sáng bảnh mắt ngày hôm sau mới thức dậy.

Tôi được nếm mùi vị văn hóa ẩm thực của Sài Gòn ngay. Tôi được ăn món truyền thống của miền Nam: bì bún với nước mắm dấm, tỏi, ớt cùng giá sống. Lần đầu trong đời tôi được nếm hương vị thức ăn của Miền Nam. Sao mà nó ngon thế!!. Dì Sáu, người giúp việc nhà của anh chị tôi, đã reo lên khi tôi chào chị: ''Bà Thầy ơi (chị gọi Bà Chị của tôi), thằng nhỏ này biết nói tiếng ''Ziệc''. Quả thật, vào thời điểm đó, một số đông đồng bào miền Nam vẫn còn coi những người di cư đến từ miền Bắc là những người đến từ một nước khác, những người ngoại quốc...

Người dân Miền Nam đã mở rộng vòng tay, tiếp đón gần 1 triệu người đến từ miền Bắc. Chỉ trong chưa đầy 6 tháng, Chánh quyền của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm và nhân dân Miền Nam đã thành công trong việc định cư, ổn định đời sống gần 1 triệu người tỵ nạn CS đến từ miền Bắc.

Sài Gòn là thủ đô của Miền Nam về phương diện chánh trị, kinh tế, giáo dục, âm nhạc nghệ thuật, báo chí văn chương... Có thể nói Sài Gòn tượng trưng cho cuộc sống của cả Miền Nam. Dân số của Sài Gòn vào năm 1954 có khoảng hơn 1 triệu người. Cậu bé Bắc kỳ 9 tuổi là tôi bị hoa mắt vì những điều khác hẳn Hà Nội:

| Chuyên chở công cộng ở Hà Nội chỉ có tầu điện, xích lô, không có taxi, xe hơi rất ít. Các thương hiệu xe hơi ở Hà Nội hồi đó là xe Citroen, xe Traction, xe Vedette. Ở Sài Gòn, có nhiều phương tiện chuyên chở như xe bus, xe taxi, xe xích lô, xe xích lô máy và cả xe thổ mộ do ngựa kéo. Vào giờ ăn, giờ nghỉ trưa rất khó gọi taxi, gọi xích lô... vì các bác tài xế cần nghỉ để ăn uống, ăn trưa. Khi tỉnh giấc ''la siette'', hầu như tất cả đều đến hiệu ăn, nhâm nhi ly cà phê ''bí tất'', cà phê này hình như rất phổ thông ở Miền Nam, khác hẳn cà phê filtre của Hà Nội.

| Người dân Sài Gòn có những ý tưởng rất thực dụng. Thí dụ thay vì thối lại 50 xu, người bán hàng chỉ cần xé đôi đồng bạc 1 đồng rồi trả lại khách hàng một nửa. Sau vài năm, lối thối tiền thực dụng này bị chánh phủ của TT Ngô đình Diệm bãi bỏ.

| Đường phố Sài Gòn còn mang tên Tây. Thí dụ đường Hồng Thập Tự có tên Tây là Rue Chasseloup Laubat. Chỉ sau một thời gian ngắn Chính phủ của TT Ngô Đình Diệm đã dùng tên Việt Nam cho các đường ở Sài Gòn. Thí dụ Rue Catinat được mang tên mới là đường Tự Do. Sau 30 tháng 4, các đồng chí CS đặt một tên mới là đường Đồng Khởi. Đường Công Lý chạy ngang Tòa Án, là đường chánh để đi vào Phi Trường Tân Sơn Nhất, được ''các đồng chí'' đổi tên là Đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa ngay sau khi họ hoàn toàn làm chủ thành phố. Người dân Sài Gòn bèn châm biếm 

''Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý: 

Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do''

Về ngôn ngữ, người Miền Nam dùng chữ DZ thay cho chữ V. Thí dụ Vấn Vương được phát âm là Dzấn Dzương. Chữ V được phát âm là DZ nhưng khi viết, người Sài Gòn viết rất đúng. Người Sài Gòn thường hay lẫn lộn dấu hỏi, dấu ngã. Trái lại các âm TR, S, Ch, L, N... được phát âm rất rõ ràng. Giọng nói, cách phát âm khác biệt của từng miền là đặc tính của ngôn ngữ Việt Nam, được hát đi hát lại nhiều lần. Hát "ố tang ố tang tình tang'' phải dùng giọng Huế nghe mới hay. Hát Cải Lương phải dùng giọng Miền Nam mới hay. Đoàn Kim Chung, Tiếng Chuông Vàng Thủ Đô Hà Nội, khi vào Sài Gòn đã đóng đô ở Rạp Olympic ở đường Hồng Thập Tự. Đoàn đã chuyển qua trình diễn cải lương bằng giọng của đồng bào Miền Nam. Hát tân nhạc phải dùng tiếng Bắc mới hấp dẫn người nghe. Ca Sĩ hát bằng tiếng Nam rất ít, có thể đếm được trên đầu ngón tay. Có lẽ chỉ có Quái kiệt Trần Văn Trạch và da sĩ Hải Minh ở Đài Phát Thanh Quân Đội Sau này tôi mới được biết Ca sĩ Hải Minh chính là Giáo Sư Âm Nhạc Trần Van Khê. Ông cũng là anh ruột của Nghệ sĩ Trần Văn Trạch 

Tính tình cởi mở, cười nhiều hơn giận, thân thiện với mọi người là cá tính của dân Sài Gòn nói riêng cá tính của dân Miền Nam nói chung; dản dị như Miền Nam, chỉ có mưa nắng hai mùa.

Tôi đã lớn lên và trưởng thành tại Thành phố Sài Gòn. Năm năm đầu, từ 1955 tới 1960, là 5 năm thần tiên, 5 năm tuyệt vời, 5 năm hòa bình, 5 năm phát triển tột bực của miền Nam dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa do Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo. Thế giới đã ngạc nhiên, thán phục sự trỗi dậy của dân Miền Nam, trên mọi lãnh vực trong hơn 20 năm, cho đến năm định mệnh 1975.

Sau 1975, tài liệu mật được phơi bầy. Người ta mới hay ngay sau khi đặt bút ký vào Hiệp Định Genève năm 1954, ông Hồ đã sửa soạn xâm lăng miền Nam để nhuộm đỏ đất nước theo lệnh các quan thầy CS Quốc Tế Nga và Tầu. 

Thực vậy, CS đã để lại Miền Nam cả một binh đoàn gồm hàng ngàn binh lính, cán bộ. Lê Duẩn đã lén ở lại Miền Nam, không tập kết ra Bắc theo đúng Hiệp Định Genève. Y chính là người điều khiển các CS nằm vùng ở Miền Nam.

Khi chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm từ chối không tổ chức Tổng Tuyển Cử dự trù vào năm 1956 bởi Hiệp Định Genève ký ngày 20/7/1954. CSVN quyết định xâm lăng tiến chiếm miền Nam. Trong bản Đề Cương Cách Mạng ở Miền Nam do Lê Duẩn biên soạn năm 1958, Lê Duẩn đã khẳng định không có giải pháp nào để chiếm miền Nam ngoài giải pháp ''chiến tranh nổi dậy''. Đám CS nằm vùng được lệnh đào vũ khí chôn dấu và bắt đầu cuộc chiến tranh nổi dậy để xâm chiếm miền Nam.

Trận chiến lớn giữa quân CS và Quân Đội Quốc Gia tại Trảng Xụp, Tây Ninh là trận đánh mở màn cho cuộc xâm lăng miền Nam của CS vào năm 1959. Tháng 12 năm 1960, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được những người CS từ miền Bắc thành lập. Thực ra trước đó vài năm, CS đã bắt đầu các cuộc phá hoại cũng như khủng bố giết chóc các viên chức xã ấp tại Miền Nam.

Từ năm 1960, Miền Nam bị CS từ Miền Bắc xâm nhập, phá hại, khủng bố. Trận chiến càng ngày càng tăng cường độ. Mọi lãnh vực của đời sống của dân Miền Nam đều bị CS phá hoại... nhưng Thủ Đô Sài Gòn vẫn an ninh, phát triển. Tết Mậu Thân 1968, chiến tranh đã đến cửa ngõ của Sài Gòn.

Khoảng năm 1965-1966, khi quân Mỵ và Đồng Minh đổ bộ vào Miền Nam để trực tiếp hỗ trợ Quân Lực VNCH, CSVN, với sự hỗ trợ đắc lực của Cộng Sản Quốc tế, với chiêu bài ''đánh Mỹ cứu nước'' đã động viên toàn Miền Bắc cho công cuộc xâm lăng Miền Nam. Thanh niên Miền Bắc đã được lệnh của Đảng CSVN vượt Trường Sơn kéo vào Nam tham dự cuộc chiến ''chống Mỹ cứu nước''. Dư luận quốc tế bị ''nhiễm độc'' nặng tuyên truyền của CS, đã ngả về phía Cộng Sản. Quân Dân của Miền Nam đã chiến đấu trong cô đơn, nhất là từ đầu thập niên khi '"Đồng Minh bỏ chạy".

Mặc dù bị CS phá hoại về đủ mọi lãnh vực, Miền Nam vẫn thực hiện được những tiến bộ không ngờ (des progrès déconcertants) trong mọi lĩnh vực của đời sống:

Trở lại với Sài Gòn của tôi. Trong 21 năm tôi đã mục kích những thay đổi, tiến bộ về mọi lĩnh vực chưa từng bao giờ có của thành phố mặc dầu quân dân miền Nam phải đối diện hàng ngày với quân CS do CS Miền Bắc lãnh đạo. Miền Nam chỉ có được 6 năm không tiếng súng. Còn 15 năm, cho tới ngày đất nước bị rơi vào tay quân Cộng Sản VN. Quân đội của CSVN đã được sự hỗ trợ của CS Quốc Tế trong suốt cuộc xâm lăng này. Xin được tóm tắt những tiến bộ không ngừng nghỉ trong vài lĩnh vực:

Về giáo dục

Giáo dục, từ Tiểu học cho tới Đại Học, hoàn toàn miễn phí

Giáo dục tại Miền Nam, vào thời điểm trước năm 1975, được xây dựng trên một triết lý. Đó là Dân Tộc, Nhân Bản và Khai phóng. Triết lý này được đề ra sau Hội Nghị Toàn Quốc về Giáo Dục năm 1958 dưới thời của Bộ Trưởng Giáo Dục Trần Hữu Thế. Triết lý này luôn luôn bàng bạc trong nền giáo dục ở Miền Nam cho tới ngày CS chiếm Miền Nam năm 1975. Trái lại người CS chỉ có một triết lý về giáo dục, đó là phục vụ Bác và Đảng, phục vụ Xã Hội Chủ Nghĩa. Nền Giáo Dục tại VN bây giờ đã hoàn toàn phá sản, chỉ tạo ra nhiều tên ăn cắp, dối trá, lừa đảo, bịp bợm. Điều này dễ hiểu vì những người lãnh đạo ở VN bây giờ là những tên ăn cắp. ''Thượng bất chánh, hạ tất loạn'' như người xưa đã nói.

Giáo Dục tại Miền Nam dưới chế độ Cộng Hòa, dù bị phá hoại triền miên, đã đào tạo được đầy đủ nhân tài cho Tổ Quốc. Sinh viên VNCH, khi ra ngoại quốc du học, đã chứng tỏ khả năng của họ. Họ không thua kém bất kỳ sinh viên đến từ những nước khác. CSVN đã gửi một số sinh viên ra nước ngoài, du học. Các người này đã đã làm nhục dân tộc vì chỉ đi ăn cắp. Người Việt do CSVN gửi ra nước ngoài rất nổi tiếng là "hay ăn cắp" tại khắp mọi nơi trên thế giới, nhất là tại các nước ở Á Châu như Nhật, Đại Hàn, Đài Loan, Thái Lan...

Y Tế

Nền Y Tế của Miền Nam cho đến năm 1975 là một nền Y Tế miễn phí cho mọi người, không phân biệt giai tầng xã hội và nhất là không hối lộ từ y công cho tới bác sĩ. Phải vào nhà thương bây giờ là một nỗi khổ tâm không bút nào tả xiết. Trước 1975, cũng có những nhà thương tư nhưng rất ít so sánh với hệ thống các nhà thương công bất vụ lợi của Bộ Y Tế.

Văn học

Trước năm 1975, sáng tác được tự do, không có sự can thiệp của chánh quyền. Nhóm Sáng Tạo, từ Miền Bắc di cư vào Sài Gòn năm 1954, đã thổi một luồng gió mới vào văn học Miền Nam. Văn Học ở Miền Nam được tự do phát triển hơn bao giờ hết. Nhiều tác phẩm văn học có giá trị đã ra đời trong giai đoạn này. Trong khi đó ở Bắc bờ Bến Hải, các người cầm bút bị đàn áp, cầm tù, cấm viết vì đã lỡ đi ra ngoài những qui định của CSVN. Có lẽ chỉ có ở VNCS các chiến dịch đàn áp những người cầm bút như Phong Trào Nhân Văn Giai Phẩm, thập niên 50 tại Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Ông Trùm văn nghệ của Miền Bắc Tố Hữu là tác giả của những câu vè:

Thương biết mấy khi con học nói

Tiếng đầu lòng con gọi Sít Ta Lin

hay

Tin từ trong ấy loan xa

Bác Hố đang sống chuyển ra từ trần

Thơ với thẩn!!! hỡi Tố Hữu ''nhà thơ cung đình'' của chế độ! Trong khi tại Miền Nam, văn chương lãng mạn đã ngự trị trong tâm giới trẻ. Thơ Nguyên Sa là một thí dụ điển hình. Thế hệ mới lớn của Miền Nam, ai mà không biết tới những câu thơ đầy tình tự lãng mạn:

Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc

Áo nàng xanh, anh mến lá sân trường

Sợ thư tình chưa rõ nghĩa yêu đương

Anh pha mực cho vừa mầu áo tím.

(thơ Nguyên Sa)

Âm Nhạc

Dù chỉ tồn tại có 21 năm, nhưng Âm nhạc tại Sài Gòn nói riêng, tại Miền Nam nói chung đã phát triển tột bực với một trời âm nhạc lãng mạn cực kỳ hay. Nền âm nhạc lãng mạn này đã đi vào tâm hồn của người dân Miền Nam, từ thành thị đến thôn quê. Các nhạc sĩ được sáng tác trong một bầu không khí tự do. Trong khi đó, tại Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa của Ông Hồ và các "đồng chí", mọi công trình nghệ thuật, kể cả âm nhạc đều phải theo một khuôn thước, đó là: ''phục vụ chủ nghĩa, phục vụ Bác và Đảng'' theo đúng như ''Bản Đề Cương Văn Hóa'' của Đại Đồng Chí Trường Chinh, ra đời cuối thập niên 40. Xin hãy nghe lời phát biểu của Trường Chinh trong một buổi hội với văn nghệ sĩ ''Các đồng chí phải sáng tác theo tiếng gọi của con tim, nhưng các đồng chí đã dâng hiến con tim cho Đảng vật thì các đồng chí phải sáng tác để phục vụ Đảng.''

Một thí dụ điển hình là Nhạc sĩ TCS. Tài của ông đã được thăng hoa khi ông sống tự do dưới chế độ tự do thời Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam tự do. Nhiều bản nhạc tình, lãng mạn vô cùng của TCS đã được ra đời trong giai đoạn này. Sau 1975, tài nghệ của họ Trịnh, dưới chế độ CS, đã bị thui chột. TCS không cho ra đời một bản nhạc tình nào. Phải chăng ''cây quít TCS ở Miền Nam đã cho nhiều quả ngọt, dưới chế độ Cộng Sản, cũng cây quít đó chỉ cho toàn quả chua'',

Thay lời kết

Tôi chưa từng về thăm VN kể từ ngày rời quê hương. Đất nước Việt nói chung, Sài Gòn nói riêng đã thay đổi rất nhiều. Sài Gòn như Sài Gòn của tôi trước năm 1975 đã không còn nữa. Ngay từ 1975, nhóm "dép râu, nón tai bèo" đã khai tử tên Sài Gòn để thay vào đó tên của một người đã mang lại tang thương, chết chóc, tàn phá cho dân tộc. Các hậu duệ của Y đang để mất quê hương vào tay kẻ thù truyền kiếp ở phương Bắc.

Về quê để làm gì đây? khi quê hương, khi Sài Gòn đã không còn nữa. Quê hương sắp mất vào tay kẻ thù từ phương Bắc còn Sài Gòn bị gán cho tên tội đồ của dân tộc.

Chế độ CS đã tan rã ở khắp mọi nơi trên thế giới. Tại Nga Sô, Thành phố St Pretesburg đã tìm lại được tên xưa sau gần một thế kỷ bị CS đổi tên. Tại VN, thử đô của Miền Nam sẽ tìm lại được tên gọi của ngày xưa: Thành phố Sài Gòn một khi chế độ bạo tàn bị tiêu diệt. Ngày ấy không còn xa.

Khi Sài Gòn bị đổi tên ngay sau ngày 30/4/1975, Nhạc sĩ Nam Lộc đang ở trại tỵ nạn ở Phi Luật Tân đã thốt lên:

Sài Gòn ơi! ta đã mất người trong cuộc đời,

Sài Gòn ơi! ta đã mất thời gian tuyệt vời

. . .

(Nam Lộc: Sài Gòn ơi! vĩnh biệt) 

Người tỵ nạn CS tại mọi nơi trên thế giới đều mong được trở về lại Sài Gòn như bài thơ sau đây của tác giả: Người di tản buồn:

Nếu một mai nước non thanh bình

Ta sẽ trở về thăm quê xưa

Thăm lại những lối mòn ngày cũ.

Để bồi hồi bâng khuâng tưởng nhớ 

những tháng ngày qua

Ta sẽ tìm lại bạn bè xưa: 

ai còn?

ai đã khuất?

ai đang nức nở? 

Sài Gòn ơi! lòng ta bừng sóng gió

Tình hoài hương cuồn cuộn như nước triều dâng

Vì xa "em" ta đau đớn bội phần

Như tiếc nuối một cuộc tình đã mất

Nhiều lúc ta mơ về quá khứ

Tưởng như mình đang sống tại quê nhà

Khi tỉnh giấc lại âm thầm tiếc nuối

Những tháng ngày mơ mộng của đời ta

(Người di tản buồn)

(Tháng 4, Montréal Canada)

Nguyễn Lương Tuyền, CVA63

* * *

Ngày chia đôi đất nước

và Tâm sự người xa xứ!

 

Nguyễn Mạnh Trinh

Cầu Hiền Lương

Hơn nửa thế kỷ trước, những năm giữa thập niên 50, những người miền Bắc di cư vào Nam với nỗi ngậm ngùi. Thơ, văn, nhạc, hình như cũng chuyên chở nhiều tâm sự, của “nhớ về Hà Nội”, của tâm tình hoài niệm vô bờ. Và sau hơn hai mươi năm, thì những người Việt lưu vong xứ người lại bồi hồi nhớ về một đất nước đã xa, một thành phố Sài Gòn đã mất tên và thành kỷ niệm. Những bộ môn nghệ thuật kể trên lại được khắc ghi lại từ những cảm hoài mênh mông, từ những nỗi niềm ấp ủ của những người yêu quê hương đất nước và luôn ngóng về nơi chốn đó với cả những tấm lòng. Bao nhiêu năm qua, những văn thi nhạc sĩ Việt Nam từ những cuộc đổi dời với những tác phẩm đánh dấu những thời kỳ đặc biệt của lịch sử Việt Nam.

Tháng 7 mỗi năm có ngày 20 là thời điểm nhớ về một giai đoạn lịch sử cũ, mà có người đã gọi là thời kỳ của người di cư. Cũng như sau này, ngày 30 tháng tư năm 1975 đã thành ngày của những người di tản bỏ nước ra đi. Tất cả, cũng là của những người trốn chạy chế độ Cộng sản đi tìm dân chủ tự do.

Hồ Gươm Hà Nội

Tại sao lại có sự nhớ lại lịch sử trong ngày 20 tháng 7 mỗi năm?

Đó là ngày mà các phe liên hệ gồm các phái đoàn Anh, Hoa Kỳ, Nga Xô Viết, Trung Cộng, Pháp, Việt Cộng, Lào, Campuchia ký Hiệp ước Genève chia đôi đất nước Việt Nam ở vĩ tuyến 17. Phái đoàn Việt Nam Quốc gia mà bác sĩ Trần Văn Đỗ là Trưởng Phái đoàn không chịu ký để phản đối việc chia cắt đất nước. Sau đó là cuộc di cư vĩ đại của hơn một triệu người miền Bắc di cư vào Nam và đã làm thay đổi cả xã hội miền Nam về nhiều mặt kinh tế, chính trị, giáo dục, và cả văn học nghệ thuật nữa. Và như vậy, chúng ta mới có những tác phẩm văn thơ nhạc “Nhớ về Hà Nội” đánh dấu một thời kỳ đặc biệt của văn học sử Việt Nam.

Nếu có người nói đó là cuộc di cư của chữ nghĩa thì chúng ta sẽ có nhận định ra sao? Đó là một cách nói. Nhưng, xét trên thực tế, ngày 20 tháng 7 năm 1954 có thể coi như bắt đầu cho hai mươi năm văn học miền Nam, một giai đoạn văn học đáng kể từ tính chất khai phóng cũng như có những thành tựu mà chính những người đối nghịch chính kiến cũng không thể phủ nhận. Nền văn học ấy đã có những cuộc lên đường của những tác giả lừng lẫy, đã có những công trình sáng tạo nghệ thuật biểu trưng được tâm tình của một thời đại đầy biến chuyển của một đất nước chiến tranh.

Vùng phi quân sự, vĩ tuyền 17

Hình như lịch sử Việt Nam đầy những chuyến đi bất đắc dĩ và những thành phố là nơi đã chứng kiến những cuộc chia ly. Rất nhiều người đồng ý với nhận định ấy.

Những thành phố của chia ly. Sài Gòn, sau năm 1975. Hà Nội, sau năm 1954. Những thành phố của hoài niệm trong thời gian ấy. Năm 1954, hàng triệu người rời bỏ miền Bắc xuôi Nam tìm tự do, cuộc di cư vĩ đại của những người ghê sợ Cộng sản. Năm 1975, Cộng sản chiếm toàn bộ đất nước. Hàng trăm ngàn người di tản ra ngoại quốc sau đó đến từng đợt vượt biển của hàng triệu người. Không gian, thời gian, của những biến cố kể trên, đã thành môi trường và động lực thúc đẩy văn nghệ sĩ tạo thành những tác phẩm văn chương hay âm nhạc phản ánh tâm tình thời đại.

Trong văn chương và âm nhạc Việt Nam, chắc có nhiều tác phẩm về đề tài này? Dĩ nhiên là rất nhiều. Những bài viết của nhà văn Mai Thảo trong “Đêm Giã Từ Hà Nội”, Thanh Tâm Tuyền trong “Ung Thư”, Dương Nghiễm Mậu trong “Quyên, Dĩ vãng và Hà Nội”, Hồ Hữu Tường trong “Phố Sinh Từ”, Vũ Bằng trong “Thương Nhớ Mười Hai” và “Miếng Ngon Hà Nội”,… Những bài thơ của Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng,Thanh Nam, Hoàng Anh Tuấn, Nhất Tuấn, Hà Huyền Chi,… mở ra một thế giới Hà Nội của hoài vọng, của nỗi niềm. Rồi những bài thơ phổ nhạc mà thơ nhạc đã phối hợp và bổ túc cho nhau thành những tuyệt tác và có tuổi thọ văn chương nghệ thuật miên viễn…

Có những bản nhạc đã có đời sống trường cửu vượt qua được thời gian với những đề tài hoài niệm về những thành phố vĩnh viễn cách xa. Đó là một đặc tính của âm nhạc Việt Nam. Một dòng nhạc hoài niệm kéo dài suốt nửa thế kỷ đã cho chúng ta những bản nhạc để đời. Những bản nhạc mà tuổi thọ của nó dài hơn tuổi thọ của chính tác giả sáng tạo ra nó. Nhạc sĩ có khi khuất bóng từ lâu, nhưng nhạc phẩm vẫn còn sống, còn được hát và còn được thính giả nghe và hâm mộ. Qua một thời gian, qua sự đãi lọc, bản nhạc có thể tồn tại được phải có sức lôi cuốn từ ngôn từ và điệu nhạc. Và nhất là, phù hợp với tâm tư của từng thời kỳ, của hoàn cảnh mỗi người khi nghe âm điệu nhắc lại những phần đời sống đã qua.

Thời gian mới di cư vào Nam, tôi còn nhỏ lắm và đang học tiểu học.

Năm 1954, gia đình tôi vào Nam. Đang học ở một trường tiểu học mà một số học sinh là người Bắc, lạ người lạ cảnh, tâm tư như tờ giấy trắng, nhưng tôi vẫn nhớ như in bài hát mà tôi đã gân cổ hát trong giờ sinh hoạt học đường. Lúc ấy, hào hứng tin tưởng xiết bao. Bản nhạc “Về Miền Nam” của Trọng Khương nhắc lại tôi ngày thơ ấu:

Đứng vùng lên nào bao thanh niên yêu nước

Hướng về đây miền nam thân yêu nắng sáng

Theo vết chân người xưa ta tiến lên đường đi

Bao nắng mưa sương gió nào ngại chi.

Sông nào cắt đứt đôi nơi

Sông nào xé nát tim tôi

Sông nào bóp chết thương yêu Việt nam ơi!…

Chợ Bến Thành Saigon

Bản nhạc mà tuổi thơ tôi đã hát say sưa như vậy đã tạo nhiều cảm xúc cho tôi. Bài hát ấy, với tôi, tự nhiên nhắc và nhớ đến những khuôn mặt ấu thơ. Những cô giáo, thầy giáo khai tâm tuổi nhỏ. Cùng với ngôn từ và điệu nhạc, là bước chân trở về. Đó, lãnh địa thiêng liêng của đời người, mà dần dần thời gian đi qua, in sâu trên tiềm thức. Đất nước mới, mở ra những lạc quan, như tuổi xanh ngây thơ nhưng thật nhiều ước vọng… Bài hát như một dây chuyền để bắt đầu cho một chuỗi liên tưởng. Vô tình, bài hát như một contact để mở một mạch điện cho khúc phim đời sống riêng tôi…

Dòng nhạc hoài niệm ấy chắc còn rất nhiều bản nhạc làm cho tôi cảm khái như bản “Về Miền Nam”? Nhưng những bài hát khác, thường là những nỗi buồn, ngậm ngùi hướng vọng về chốn quê xa. Hàng trăm ca khúc có chung dòng nhạc. Không phải chỉ với bài hát ấy, mà còn nhiều bài hát khác, nhiều phim truyện khác, nhắc nhớ lại thời kỳ đặc biệt của đất nước. Một cách khái quát, theo bài thuyết trình “Love and Longing at the Border: Songs On Both Sides of the 17th Parallel” của Jason Gibbs trong seminar của Popular Culture Association tại thành phố San Antonio, tiểu bang Texas, thì có tới 18 ca khúc của những người di cư nhớ về quê hương cũ đã xa. Như “Bắc Một Nhịp cầu” của Hoàng Trọng, lời Hồ Đình Phương; “Biệt Hải Phòng” của Phó Quốc Thăng; “Chờ Anh Em Nhé” của Xuân Tiên, lời Nhật Bằng; “Chuyến Đò Vĩ Tuyến” của Lam Phương; “Giấc mơ Hồi Hương” của Vũ Thành; “Hận Ly Hương” của Anh Hoa và Ngọc Lang; “Hướng về Đất Bắc” của Phó Quốc Thăng; “Hướng về Hà Nội” của Hoàng Dương; “Lá thư gửi mẹ” của Nguyễn Hiền, lời Thái Thảo; “Mộng ngày hồi hương” của Hoàng Trọng, Hồ Đình Phương; “Sầu Ly Hương” của Lam Phương; “Thu Ly Hương” của Nhật Bằng và Đan Thọ; “Tình Cố Đô” của Lam Phương lời Mạnh Thương; “Về Bến Xưa” của Nguyễn Hiền, lời Thiện Huấn; “Vọng Cố Đô” của Đan Thọ Nhật Bằng; “Xa Quê Hương” của Đan Thọ, Xuân Tiên; “Xuân Ly Hương” của Phó Quốc Lân. Nhưng danh sách ấy chưa đầy đủ lắm, còn thiếu một cách đáng kể: “Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội” của Phạm Đình Chương, thơ Hoàng Anh Tuấn; “Thương về Năm Cửa Ô xưa” thơ Tạ Tỵ, nhạc Y Vân; “Mùa Hoa Nở” của Cung Tiến.

Hình ảnh của thành phố Hà Nội chắc in sâu trong trí nhớ của tôi qua những bản nhạc mà tôi đã nghe trong một khoảng thời gian dài. Trong những bài hát ấy, Hà Nội như một hình tượng của nhung nhớ. Thành phố ấy, phải rời bỏ đi xa với nỗi đau đớn tận cùng. Hà Nội ơi! Có phải là tiếng kêu thảng thốt của trái tim vỡ vụn. Không phải với tôi mà chung của rất nhiều người, Hà Nội thành thánh địa của hồi tưởng. Lúc học trung học, hai thành phố gợi cho tôi nhiều ấn tượng và mê đắm nhất là Paris và Hà Nội. Lúc đó, tôi chỉ mong có ngày đặt chân đến. Paris của cậu bé Vincent trong sách “Cours De Langue et de Civilisation” của giáo sư Mauger mở ra biết bao nhiêu ảnh tượng kỳ thú. Còn Hà Nội, là “Đêm Giã Từ Hà Nội” của Mai Thảo, là “Ung Thư” của Thanh Tâm Tuyền, hay nhạc “Hướng Về Hà Nội” của Hoàng Dương.

Có người hỏi tôi khi di cư vào Nam là lúc còn rất nhỏ, thế mà tại sao tôi lại nhung nhớ bồi hồi một cách tận cùng như vậy khi nghe lại những bản nhạc ấy.

Bởi vì từ nhạc, tôi cảm thấy nhiều điều. Không gian xa cách ngàn trùng. Thời gian chia ly vời vợi. Đời sống bỗng lênh đênh chia hai giữa buồn nhớ và hy vọng. Sẽ có một ngày trở về, có phải? Nhưng cuộc sống như giòng nước trôi đi lạnh lùng. Xa xứ và ly hương, như giòng sông Bến Hải chia đôi đất nước.

Nhiều bản nhạc cũng gây rung động trong tôi như thế? Bởi vì, đó là tâm tưởng chung của một thế hệ phải chịu những biến chuyển nghiệt ngã của thời thế. Như lời ca từ của “Chuyến đò vĩ tuyến” của Lam Phương, “Đêm nay trăng sáng quá anh ơi, sao ta lìa cách bởi giòng sông bạc hai màu…” Hay trong “Bắc một nhịp cầu” của Hoàng Trọng, lời Hồ Đình Phương, “Lạnh lùng phương Nam mơ bóng cây xanh ven hồ. Ngậm ngùi phương Bắc trông lúa xa xăm mong chờ. Vì một giòng sông xóa mờ. Tình đời lìa đôi bến bờ…”. Nỗi lòng người đi của Anh Bằng "Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu... Hôm nay Sài Gòn bao nhiêu tà áo khoe màu phố vui, nhưng riêng một người tâm tư sầu lắng đi trong bùi ngùi"... Hoặc ở trong “Vọng Cố Đô” của Đan Thọ và Nhật Bằng, “Hà Nội ơi! Xa cách muôn trùng dương. Những lúc sương chiều xuống. Tìm đâu bóng Hồ Gươm lòng bao mến thương...” Và với “Mùa Hoa Nở” của Cung Tiến, “Chiều mưa thương nhớ đến bao giờ. Đường về nẻo Bắc xa mờ, mơ hồ. Đàn chim gieo thương nhớ. Câu tiếng nước nhà…”…

Những bản nhạc ấy, trôi theo giòng sông âm nhạc và liên tiếp nhau để thành một thời đại hoài niệm, mà tiếng kêu tha thiết vẳng lên từ nơi chốn đã vời xa: Hà Nội. Tiếng hát, lời ca, không còn đơn thuần là ca khúc mà đi xa hơn, để thành chia sẻ, kỷ niệm của một phần của đời người. Bao nhiêu năm, với bao nhiêu ban nhạc thính phòng hoặc đại chúng, được trình diễn từ những ca sĩ tuyệt vời, những bản nhạc ấy vẫn sống, từ thời hòa bình tạm thời đến cuộc chiến khốc liệt. Mấy chục năm, vẫn không phai cảm xúc trong lòng khán thính giả…

Dòng nhạc hoài niệm hình như tới bây giờ vẫn còn hiện hữu trong nền âm nhạc Việt Nam? Vâng, đó là một trớ trêu của lịch sử đất nước. Năm 1975, cơn hồng thủy lại đến với dân tộc Việt Nam. Đất nước thống nhất, hòa bình nhưng trại tù mở ra khắp nước. Kinh tế lụn bại, chính tình hà khắc, dân chúng đói khổ. Rồi đánh tư sản, rồi vơ vét tiền của người dân khiến hàng triệu người bỏ xứ ra đi tìm đất sống. Những chuyện phim như “Chúng Tôi Muốn Sống”, “Đất Lành”, …bỗng thành hiện thực. Và, dòng nhạc hoài niệm lại tiếp nối. Tâm tư, nỗi niềm của thế hệ, của thời đại lại phản ánh rõ nét. Ở hải ngoại, ngóng về quê hương, về Sài Gòn với tấm lòng tan nát. Nốt nhạc lời ca thành tiếng vọng gửi về qua khoảng cách của hai bờ đại dương.

Hình ảnh của Hà Nội đậm nét trong văn thơ nhạc của những người di cư vào miền Nam lập đời sống, sự nghiệp mới. Thành phố ấy biểu trưng cho quê hương đã xa, cho thời gian đã qua nhưng đôi khi muốn trở mình hồi sinh sống lại. Những con đường, những hẻm phố, của 36 phố phường ngày xưa, của ăn Bắc mặc Kinh, của một thời văn hóa dân tộc là tinh chất của những năm dựng nước và giữ nước. Nói về Hà Nội, quả là một câu chuyện miên man mà thời gian một hai tiếng đồng hồ chẳng đủ cho những người khao khát nắng gió quê nhà luôn hướng vọng về một thành phố đã xa. Hình như có những bản nhạc có xuất xứ từ ngôn ngữ thơ viết về Hà Nội và trở thành một vài bài hát tiêu biểu.

Một bài thơ được phổ nhạc của một thi sĩ cho rằng thơ và nhạc có những đặc tính khác nhau nên ở những bài thơ được phổ nhạc thì tinh chất thi ca bị giảm sút đi và không còn là thơ tinh tuyền nữa. Thế mà, ông có một bài thơ được nhạc sĩ Y Vân phổ nhạc và là một bản nhạc coi như tiêu biểu cho dòng thơ nhạc hoài niệm về Hà Nội. Đó là thi sĩ Tạ Tỵ và bài thơ được phổ nhạc: “Thương Về Năm Cửa Ô Xưa”.

Bài thơ như một kỷ niệm đẹp của một thời thế đã xa, của một quê hương đã khuất. Chuyển thể thành nhạc lại thành những giai điệu tha thiết của nhớ thương, nhắc lại những nơi chốn đã qua khiến rung động tâm tình người xa xứ. Thuở ấy, những nhung nhớ của tâm hồn hoài niệm cứ mãi khắc khoải tâm tư, thì bây giờ nơi xứ lạ vẫn ngóng về biển đông để tìm ra một tấc lòng rưng rưng theo nhịp tim sóng vỗ. Bài thơ Tạ Tỵ như những âm vang đồng vọng của những người khi nghĩ đến quê nhà lại xót xa thắt ruột.

Bài thơ “Thương Về Năm Cửa Ô Xưa” có những câu như:

Tôi đứng bên này vĩ tuyến

Thương về năm cửa ô xưa

Quan Trưởng đêm tàn dẫn lối

Đê cao hun hút chợ Dừa

Cầu Rền mưa dầm lầy lội

Gió về đã buốt lòng chưa?

Yên Phụ đôi bờ sóng vỗ

Nhị Hà lấp lánh sao thưa

Cầu Giấy đường hoa phượng vỹ

Nhớ thương biết mấy cho vừa…

Bài thơ này do Y Vân phổ nhạc mà nghe từ giọng hát Lệ Thu thì không có giây phút nào tuyệt vời hơn.

Có một bài hát mà một thời được hát với tất cả tâm tình của người đang trong hoàn cảnh của ngày tháng Hà Nội sắp mất và chọn sự ở lại với những khúc mắc trong lòng. Đó là bản nhạc “Hướng Về Hà Nội” của nhạc sĩ Hoàng Dương. Đọc một đoạn viết của nhà văn Nguyễn Đình Toàn để có thể hiểu được tâm sự của người nhạc sĩ:

“Thế nhưng hoàn cảnh lịch sử cũng đóng một vai trò quan trọng đối với bài hát của Hoàng Dương. Đó là những ngày tháng Hà Nội sắp mất. Người ta đang sửa soạn ký với nhau một hiệp định chia đôi Việt Nam ở một nơi nào đó gọi là Genève. Hà Nội trong những ngày tháng ấy giống như một cơ thể mắc chứng hoại huyết. Xanh xao. Vàng vọt. Người ta bỏ đi. Người ta chạy trốn. Người “bên ngoài” (hậu phương) đã về trộn với người bên trong (Hà Nội). Người ta hân hoan. Người ta sợ hãi. Úp úp. Mở mở. Hà Nội bị xé đôi bằng nỗi vui mừng và kinh hoàng thâm nhập cùng một lúc vào lòng người Hà Nội trước khi nó thuộc về cái phần đất nước bị cắt đôi. Hà Nội đẹp. Hà Nội buồn. Hà Nội lãng mạn hay thực tế cũng sẽ mất như những đám sương mù tháng bảy đang xóa bỏ nó. Người ta phải nói lời giã từ Hà Nội. Gọi hồn Hà Nội. Hoàng Dương đã chọn ở lại Hà Nội. Bài hát của ông có cái xa và cái gần Hà Nội. Có cái ngọt ngào của một bản tình ca, cái não nùng của một cuộc chia lìa. Cho người ở lại giấu nó trong lòng. Cho người ra đi hát như một lời gọi vói…”

Bản nhạc “Hướng Về Hà Nội” có những lời thiết tha:

Hà Nội ơi! Hướng về thành phố xa xôi.

Ánh đèn giăng mắc muôn nơi

Áo màu tung gió chơi vơi

Hà Nội ơi! Phố phường giãi ánh trăng mơ

Liễu mềm nhủ gió ngây thơ

Thấu chăng lòng khách bơ vơ

Hà Nội ơi! Những ngày vui đã ra đi

Biết người còn nhớ nhung chi

Hết rồi giây phút phân ly

Hà Nội ơi! Dáng huyền tha thướt đê mê

Tóc thề thả gió lê thê

Biết đâu ngày ấy anh về…

“Hướng Về Hà Nội” là lời của người chọn sự ở lại. Thế còn những người ra đi thì sao? Có mơ mộng gì đến ngày trở về không?

Bài “Giấc Mơ Hồi Hương” của nhạc sĩ Vũ Thành là tiếng lòng thổn thức của tâm tư ấy. Theo một bài viết của tác giả Quỳnh Giao thì lời ca của “Giấc Mơ Hồi Hương” phát xuất từ một bài thơ mà nhạc sĩ Vũ Thành không nhớ tên tác giả.

Đau đớn nhìn Hà Nội

khuất dần sau sương rơi

sông Nhị Hà sôi nổi

cầu Long Biên xa rồi

mắt nhìn hình ảnh cuối

lòng thương nhớ khôn nguôi

nghẹn ngào tâm sự cũ

thôi rồi Hà Nội ơi!

Vậy ca từ của “Giấc Mơ Hồi Hương” có tương tự gì với lời thơ ở trên không? Nếu nói rằng có ảnh hưởng để cảm hứng thì có nhưng tương tự thì không.

Lìa xa thành đô yêu dấu

một sớm khi heo may về

lòng khách tha hương vương sầu thương

nhìn em mờ trong sương khói

bước đi nhưng chưa nỡ rời

lệ sầu tràn mi, đượm men cay đắng biệt ly

rồi đây dù lạc ngàn nơi

ta hướng về phía xa vời tìm mộng xưa lãng quên tháng ngày tàn phai…

Nhạc sĩ Thanh Trang có một nhận xét khá dí dỏm nhưng chính xác:

“Cùng thời niên thiếu tôi rất yêu thích những bài hát của cố nhạc sĩ Vũ Thành như “Nhặt cánh sao rơi”, “Nhớ bạn”. Tôi để ý thấy trong những bài hát của mình, ông Vũ Thành chả bao giờ dùng chữ “em” khi nói đến hình ảnh một người con gái. Chữ “em” hiếm hoi mà ông sử dụng thì lại để chỉ…Hà Nội trong bài “Giấc Mơ Hồi Hương”…”

Tác giả Quỳnh Giao cũng viết: “Vũ Thành quả là người khiêm tốn, vì với Quỳnh Giao lời ca của “Giấc Mơ Hồi Hương” sâu xa và mới hơn ý của bài thơ nguyên thủy. Thời đó gọi thành phố Hà Nội là “em” mà không là mới sao? Và lãng mạn quá đi chứ!

Có một bản nhạc mà một nhà phê bình âm nhạc gọi là cây cầu bắc giữa hai thành phố, hai chốn, hai nơi, hai phận đời và hai kiếp người.

Phạm Đình Chương phổ nhạc thơ Hoàng Anh Tuấn: “Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội”, một bài hát mà mỗi khi người di cư nghe lại quặn đau. Hình như, thơ Hoàng Anh Tuấn và nhạc Phạm Đình Chương đã quyện vào nhau để trở thành những cảm giác của những người cùng tâm sự chia sẻ với nhau chung một nỗi niềm…

Trong thơ Hoàng Anh Tuấn có nhiều thành phố: Paris, Sài Gòn, Đà Lạt, San José, … Nhưng, tập thơ cuối đời và độc nhất của ông lại là “Yêu em, Hà Nội”. Đó có phải là một sự kiện đặc biệt? Thực sự cũng dễ hiểu.

Trong thi ca Hoàng Anh Tuấn, muôn đời miên viễn trong tâm tưởng vẫn là Hà Nội. Chẳng phải riêng trong vô thức, là hình bóng người tình muôn thuở. Mà cũng chẳng phải là tình cảm đầu đời với một nơi chốn từ đó đã sinh ra và lớn lên. Thơ ông với Hà Nội, là nỗi bí nhiệm của tổng hợp những nỗi niềm của người từ nơi chia xa nhớ về. Nó không đơn thuần là tình yêu đầu đời và cũng không đơn thuần là hoài niệm về tuổi thơ. Mà, là tất cả, từ ấn tượng không phai nhạt. Từ tâm tư của trái tim cảm lụy. Của những “ngôn ngữ trời cho” của một bất thần vụt đến của thơ.

Chúng ta có thể dẫn chứng một vài bài của “Yêu em, Hà Nội”.

Những bài thơ Hà Nội, có nỗi thiết tha, có ngữ ngôn bình dị và tự nhiên không một chút làm dáng nào. Thơ như thể một cánh buồm phăng phăng vẫy vùng trong cái cao rộng của đất trời, của những phương trời tuy mịt mù khói sóng nhưng gần cận thân quen. Thơ phá vỡ đi cái biên giới hữu hạn của không gian, thời gian. Hà Nội dệt bằng những bài thơ, mềm như nắng và nhẹ như mây trời. Trong thơ Hoàng Anh Tuấn.

Hà Nội, kỷ niệm:

“… xin trở lại thuở ngày xưa tinh nghịch

cầm tay nhau ngày đó để xa nhau

để ước ao khi thương nhớ nghẹn ngào

được cầm lại bàn tay em công chúa

khung cửa sổ mở ra trời yêu cũ

chẳng khuất vào sợ khuất dáng em xưa

một nỗi buồn thoáng Hà Nội mùa thu

vẽ từng nét tình yêu em hương cốm.

Với bài thơ mà nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã phổ thành ca khúc thì là một bài thơ, được tháp cánh bằng nhạc, khi được đọc hoặc hát lên, tạo thành một xúc cảm mãnh liệt. Bài thơ “Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội” được phổ nhạc bởi nhạc sĩ Phạm Đình Chương, mà có người đã cho là tình khúc hoài niệm hay nhất trong những bản nhạc buồn. Những câu thơ cứ ngân vang, rưng rưng trong lòng người xa xứ. Những cơn mưa, mưa ngoài trời và mưa trong hồn:

Mưa hoàng hôn

trên thành phố buồn gió heo may vào hồn

thoảng hương tóc em ngày qua

ôi người em Hồ Gươm về

nương chiều tà

liễu sầu úa thềm cũ nằm mơ hiền hòa

thương màu áo ngà

thương mắt kiêu sa

hiền ngoan thiết tha…” 

Hai phương trời. Hai tâm tư. Quê hương Hà Nội đã xa từ quá khứ. Tự nhiên những hạt mưa buốt lạnh. Mưa của hoàng hôn, của những nỗi buồn cuối ngày của thi sĩ và nhạc sĩ …

Nguyễn Mạnh Trinh

*


* * *

Hà Nội 80 ngày,

đi hay ở

ViênLinh, CVA 58

New York Times ra ngày 21 tháng 7, 1954 :

Kết quả Hội nghị Geneve chia đôi Việt Nam. (Tài liệu Viên Linh)

Ngày ký Hiệp Ðịnh Geneve 21 tháng 7, 1954, tôi còn ở quê nhà Ðồng Văn, và học khóa hè ở trung học Phủ Lý, cả hai nơi đã nằm dưới sự kiểm soát của Việt Minh, chỉ mới vài tuần lễ. Pháp và phía quốc gia có 80 ngày để rút khỏi Hà Nội, 100 ngày để rút khỏi Hải Dương, 300 ngày để rút khỏi Hải Phòng, bờ bến cuối cùng của tự do.

Họ Nguyễn trong có gia đình chúng tôi nhiều người làm việc cho chính quyền, trong có một ông chú rể làm trong Nha Báo Chí của ông Hoàng Nguyên, một ông chú khác làm thư ký tòa soạn tuần báo Cải Tạo của ông Phạm Văn Thụ, ở Hà Nội, một ông chú ruột là “ông tỉnh” Hải Dương, ông là người đứng tên sở đắc có định kỳ ngôi biệt thự hai tầng ở cuối đường Chợ Ðuổi Hà Nội, nơi tôi tá túc những ngảy niên thiếu cho tới lúc này. Như thế việc trở về Hà Nội được hay không cũng không còn bao nhiêu ngày, nhất là theo thời hạn cho phép, bộ đội Việt Minh sẽ vào tiếp thu Hà Nội ngày 9 tháng 10 nếu họ muốn. Ngay lúc này, vấn đề đi hay ở đã rõ ràng với mẹ tôi – có tin rỉ tai bà là người thứ hai trong danh sách 5 địa chủ sẽ bị mang ra đấu tố – tất cả mọi người trong họ đã và đang trên đường ra Hải Phòng. Trước hết, ngay từ bây giờ cả nhà phải đi Hà Nội rồi mới tính chuyện ra hải cảng sau.

Tôi được mẹ khuyến khích cứ đi một mình, không ở nhà ông chú đường Chợ Ðuổi thì còn có ông bác trên phố Hàng Bông, gần Cửa Nam, bác Tổng, hành nghề bói toán. Bác trai và bác gái đã trên 60, không ai tính đi Nam làm gì, nhất là thời thế đã khiến bác đang thu tiền vào như nước. Ðược mẹ cho phép, cậu con trai với “thiết mã” tinh ròng còn đợi gì mà không phóng về thủ đô.

Hồ Hoàn Kiếm Hà Nội

Ðây không phải lần đầu tiên đạp xe từ quê nhà ra thành phố, cùng với Hướng người bạn lớn tuổi ở Phố Ga, hắn và tôi đã từng trốn nhà đi Hà Nội chơi rồi về trong ngày mà không ai biết. Hắn nói, “Cứ con đường Quốc Lộ 1 mà đi, tới tận Ải Nam Quan cũng được. Từ nhà tụi mình lên thủ đô có 47 cây số, từ thủ đô lên biên giới khoảng 160 cây số nữa, có là bao xa. Vào Nam thì xa hơn, cũng cứ Quốc Lộ 1 mà chạy, mệt thì vác xe leo lên tàu hỏa, thiết lộ nằm trên đường cái quan, trừ những quãng băng núi chui hầm, chỉ năm ba ngày là tới. Mày muốn đi với tao không? Phải đi. Con trai như tao với mày, tụi mình cùng đi là được.” Hướng có cái xe đua, ghi-đông vòng xuống như sừng bò rừng, hắn nằm rạp trên xe phóng như một mũi tên.

Ít lâu sau tôi trở lại Hà Nội một mình.

May thay, không phải tất cả họ hàng đã ra Hải Phòng, tôi còn có thì giờ trở về ngôi biệt thự cũ, vác xe leo lên lầu, thấy chú thím Hai tôi ở căn phòng có lan can nhìn xuống đường. Trước đây nguyên căn lầu 4 phòng có ông bà nội, gia đình chú Út, cô tôi, riêng tôi ở căn nhỏ nhất, gần đầu cầu thang. Ngôi biệt thự xây cất khang trang, một tầng có bốn phòng lớn một phòng nhỏ rộng rãi, cửa phòng mở ra một hành lang rộng cả hai thước. Phía mặt tiền trên tầng cao nhất đắp nổi hai chữ bằng xi măng, quét vôi vàng nhạt, góc cạnh mấy chữ đã hơi mòn, song còn đọc thấy: Hotel Shanghai. Mỗi tầng có một nhà tắm, cầu vệ sinh bằng sứ men trắng, phía trên cầu là bồn nước có giây với các khoen sắt nối nhau, và cái tay cầm cũng bằng sứ, để giật cho nước trên bồn dội trong cầu. [Bốn mươi năm sau qua Pháp, vào ăn tại nhà hàng Baie d‘Along (Vịnh Hạ Long), tôi ngơ ngẩn khi bước vào phòng vệ sinh, thấy đúng cái bồn đó, và tán thán mãi về sự tiến bộ của nước Pháp].

Ông bà nội và con cháu chiếm nguyên tầng trên cùng, nay không còn thấy ai, chắc đã ra Hải Phòng đi Nam, nhưng lại thấy chú thím Hai. Nguyên ông bà nội có bốn trai, ba người đầu, một người út, trên chú Út là cô Tư, thầy tôi là con cả, nhưng đã thất lộc vào tháng 5, 1945. Chú Hai chưa bao giờ ra Hà Nội, bây giờ lại ở đây, nhưng tôi hiểu. Tất cả mọi người đã đi, chú phải lên trông coi ngôi biệt thự nhiều phòng cho thuê của chú Ba, thay thế chú Ba, vậy bây giờ chú Hai là người sở đắc ngôi biệt thự mười bốn phòng… Ông đi thu tiền nhà và sẽ gửi cho chú Ba, chắc chắn còn là “ông tỉnh” Hải Dương. Vừa thấy tôi, ông vẫy lại gần. “Cháu à, chú nghĩ khó khăn lắm rồi. Mấy hôm nay chú xuống bên dưới thu tiền nhà, họ không trả. Trước kia có xảy ra chuyện như thế không?” “Không,” tôi trả lời. Thường là cô Tư hay chú Út xuống thu tiền nhà.

-  Cô Tư nói cháu cũng từng đi thu tiền nhà?

-  Có một lần thôi chú, lúc cô Tư ốm đi bệnh viện.

Tao thấy có thằng du côn lắm. Nó trừng mắt nhìn tao. Nó nói hỗn thời thực dân bóc lột hết rồi. Cháu thử đi thu tiền giùm chú xem sao? Họ biết cháu hết mà, cô Tư nói thế.

-    Vâng, cháu ở đây đã mấy năm, họ biết chứ.

Tầu điện ở Hà Nội

Tôi đạp xe lên phố Hàng Bông, vòng qua Cửa Nam ngắm cảnh một vòng rồi mới đi kiếm số nhà ông Bác bên ngoại. Không thấy số nhà, nhưng thấy cái biển kẻ tay mấy chữ sơn đỏ Quỷ Cốc Tử tôi đoán là nhà ông chứ không thể có hai Quỷ Cốc Tử cùng một dãy phố. Quả thế, hai bác đều đã già, tuy là lần đầu tôi gặp, cả hai đều niềm nở. Cháu ở luôn đây đi, có căn gác xép bên trên chưa cho thuê, cho mày ở đó, rồi đưa cho các bác bao nhiêu thì đưa.

Những ngày sau, tôi chạy quanh thủ đô đi tìm bạn bè, nhất là mấy người bạn văn nghệ tập sự thường mỗi chủ nhật họp sau tại sân tòa án hay kéo nhau lên đồi Yên Thái ở phía Tây Bắc Hà Nội. Chúng tôi khoảng năm người, ba người từng có bài được chọn đăng trên các báo ở thủ đô, trong đó truyện ngắn của tôi được đăng trên nhật báo Tiếng Dân, còn được mời tới tòa báo lãnh nhuận bút. Ðó là sáng tác đầu tiên tôi gửi đi, nó được đăng ngay hai ba ngày sau và được trả tác quyền như một người lớn. Cuộc đi thăm thất bại, không gặp một ai. [Chỉ ba năm sau khi ở Sài Gòn, chúng tôi chỉ còn 3 người, một ở lại miền Bắc, một là Trường Giang bị bắn chết khi năm 1956 Giang bơi qua sông Hiền Lương Bến Hải vào Nam]. Sau khi bộ đội Việt Minh tiến vào thủ đô ngày 10 tháng 10, tôi tới trường cũ trình diện, được gặp Giáo Sư Tạ Quang Bửu ngồi sau chiếc bàn thầy Hiệu Trưởng Vũ Ngô Xán vẫn ngồi các năm trước. “Thưa thầy”… Ông ngắt lời tôi, bảo tôi gọi bằng “Anh.” Tên trường Chu Văn An rút ngắn thành Chu An. Ðây sẽ là chương khác của một cuốn sách.

Cuối cùng tôi phải rời Hà Nội ra Hải Phòng, không phải trong hạn 80 ngày (ngày chót 10 tháng 10, 1954) mà tới mãi cuối tháng 12, và đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất vào đúng Ðêm Giáng Sinh 1954.

Tới nay là 60 năm, chưa có dịp quay về nhìn lại kinh thành cũ. Tôi vẫn nhắn những người có thể nhắn, nếu có về hãy thăm Hà Nội giùm tôi, cố đô Hà Nội của tôi, không phải Hà Nội bây giờ. Lời nhắn là một bài thơ gửi những người trẻ tuổi.

Em Có Về Hà Nội (II)

Em có về Hà Nội

Hãy đến hỏi giùm cảnh vật thâm u

Ðất nước tang thương em hãy hỏi Tháp Rùa

Mười thế kỷ rồi làm sao chưa hiểu?

Tâm cao khiết em hãy vào Văn Miếu

Ðọc văn bia tiến sĩ nhớ người xưa

Hỏi giùm anh, chữ nghĩa có bao giờ

Im lặng mãi như những hàng gạch ngói?

Nghe tiếng véo von, nhớ về Hà Nội

Nơi trâu vàng ngựa đá cõi rồng xanh

Nơi hồ thiêng, sông hiển, nước xây thành

Nơi Hội Nghị Diên Hồng

Nơi Bình Ngô Ðại Cáo

Nơi sớ trảm gian thần

Nơi trả vua mũ áo

Nơi Huyền Trân bỏ nước, nước giầu them

Nơi vua Hùng đày xa xứ An Tiêm

Ngày về nước chở về thuyền dưa đỏ.

Anh tự hỏi khi trở về nước cũ

Anh mang gì về lễ tạ hồn xưa?

Anh mang gì về lễ tạ quê hương?

Có nhớ chăng rồng ngủ Vịnh Hạ Long

Sao chưa thấy thành Thăng Long rồng dậy?

Ðời vua Lý nghìn năm xưa ở đấy

Nghìn năm sau ở đấy vẫn Thăng Long

Ðón rồng lên dựng lại nước thanh bình

Chấm dứt một thời thiên hôn địa ám.[1]

Viên Linh

P

Chú thích:

[1]  Đoạn chót bài “Em Có Về Hà Nội” của Viên Linh. [Vào Google, đánh máy “Viên Linh Em Có Về Hà Nội” sẽ nghe được nhạc sĩ Nguyễn Văn Thành hát ca khúc ông phổ từ bài thơ này].

* * *

Từ Hà Nội

đến Sài Gòn 54 - 75

Lữ Tuấn

LTS: Lữ Tuấn là bút hiệu của anh Nguyễn Công Luận, sinh viên Sĩ Quan Đà Lạt khóa 12, nguyên Trưởng Phòng Sưu Tầm Nghiên Cứu, Tổng Cục CTCT. Sau năm 1975, anh bị đi tù cải tạo hơn 7 năm. Anh định cư tại San Jose, California, Hoa Kỳ.

*

Tháng 6 năm 1954 đúng 50 năm về trước, là lúc mọi người trong vùng kiểm soát của chính phủ Quốc Gia ở Bắc Việt cực kỳ lo lắng và hoang mang sau khi cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ ngày 7 tháng 5 năm 1954. Nhiều tin đồn trái ngược càng làm cho mọi người thêm sợ hãi. Khoảng 20 tháng 6, tại Nam Định và các tỉnh phụ cận, có tin đồn được lan truyền nhanh chóng nói rằng quân đội Pháp và quân đội Quốc Gia sẽ rút khỏi Nam Định và các tỉnh phía Nam Hà Nội. Từ hôm ấy, hàng loạt doanh trại được tháo gỡ vội vàng, xe vận tải quân sự chở vật liệu nặng bắt đầu theo nhau từ Bùi Chu, Ninh Bình, Thái Bình đổ về Nam Định cùng các xe cộ từ Nam Định nối nhau đi Hà Nội. Kho đạn Nam Định cho phá hàng loạt đạn súng cối và đạn pháo binh ở vùng đất hoang phía tây thành phố.

Bộ Tư Lệnh Pháp và chính quyền Bảo Đại không hề lên tiếng về tình hình tại Bắc Việt. Bộ Chỉ Huy Pháp tại Nam Định vẫn tiếp tục công việc chuẩn bị cuộc diễn binh hùng hậu vào ngày quốc khánh Pháp, 14 tháng 7 năm 1954 mà họ đã loan báo trước. Vào lúc này, đã có tin đồn ông Ngô Đình Diệm sẽ về nước làm thủ tướng. Những truyền đơn đầu tiên ký tên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia ủng hộ ông Diệm xuất hiện lác đác ở Nam Định.

Ba ngày cuối cùng phi cơ quân sự lên xuống liên tiếp. Khi đã chuyên chở gần hết vật dụng và người, trạm hàng không quân sự Nam Định bắt đầu cho mọi người tự do lên phi cơ C-47 còn trống nhiều chỗ để đi Hà Nội.

Nam Định bắt đầu hoảng hốt thực sự từ ngày 28 tháng 6 khi điện bị cắt. Thành phố tối mù. Nhiều người chen chúc mua vé xe hoặc thuê xe di tản về Hà Nội. Nam Định là nơi số doanh trại và binh lính dầy đặc nhất Việt Nam. Trước đó từ 9 giờ khuya là giờ giới nghiêm, thành phố vắng vẻ không một bóng người trên phố xá. Nay đột nhiên tất cả chìm trong không gian đen thui, nhưng lại cựa mình mạnh hơn trong bóng tối. Trên đường phố người ta đi lại đông đúc khác thường quá cả giờ giới nghiêm.

Đường phố Hà Nội, hình chụp vào tháng 7 năm 1954.

Gia đình tôi lúc ấy đang ở một căn cư xá công chức nơi mẹ tôi làm việc. Lúc 7 giờ sáng, một anh lính tống thư viên người Pháp vào sở đưa một giấy báo di chuyển, ghi đúng số người thuộc quyền sở này và gia đình nhân viên kể cả 4 gia đình ở cư xá. Tất cả mau lẹ tập trung đợi xe. Sau đó chừng 15 phút, một tiểu đội Bảo Chính Đoàn dẫn 4 xe vận tải trưng dụng của tư nhân đến nơi và cho biết đúng 8 giờ kém 15 mọi người phải có mặt đầy đủ trên xe.

Việc di tản có vẻ đã được chuẩn bị nhiều tuần lễ trước đó. Số người ngồi trên xe thoải mái rộng rãi vì không ai mang theo đồ đạc gì nhiều ngoài một vài chiếc valise và túi xách tay gọn nhẹ.

Lệnh di chuyển cho biết đoàn xe này phải qua trạm kiểm soát phía bắc hướng đi Phủ Lý-Hà Nội vào khoảng giờ nhất định mà tôi nhớ là sau 8 giờ và trước 8 giờ 10 phút. Lệnh này cũng cảnh cáo nếu xe nào đến sớm quá hay muộn quá theo giờ ấn định sẽ bị ủi ra khỏi mặt đường để tránh nhiễu loạn giao thông.

Hồi đó tôi còn là học trò. Vội vàng xếp quần áo, hình ảnh, giấy tờ cần thiết, cuống cuồng không biết phải mang theo gì và phải bỏ lại món nào. Lúc còn chừng 25 phút, tôi xin phép mẹ tôi chạy ra phố nói là để chào mấy thằng bạn. Cô ruột tôi , người nuôi nấng tôi từ nhỏ không chịu vì sợ tôi chậm trễ e sẽ kẹt lại. Nhưng mẹ tôi hiểu ý, mỉm cười can thiệp nói, “Chị cứ cho nó đi, nó không dám về muộn đâu.”

Mẹ tôi thừa biết tôi đi đâu. Tôi đạp xe với tốc độ không thua các tay đua vòng quanh Đông Dương, xẹt qua trước nhà cô bạn mà tôi thương vụng nhớ thầm từ năm 17 tuổi và chưa hề mở lời yêu đương.

Nàng đang ngồi chải tóc ở cửa sổ trên lầu. Không rõ nàng có nhìn thấy tôi hay không, nhưng tôi vội vàng đánh bạo thu hết can đảm hôn gió trên bàn tay phải ném về phía cửa sổ rồi lao xe như gió về nhà, trước giờ xe chạy khoảng 10 phút. Ở miền Bắc hồi ấy trai gái còn nhút nhát, phải can đảm lắm mới dám làm như thế vì tôi linh cảm chuyến đi này sẽ lâu lắm, có thể là cả đời. Sau này trong đời lính chưa bao giờ tôi phải vận dụng can đảm cao độ như vậy dù gặp nhiều tình thế rất khó khăn nguy hiểm.

Quân cảnh Pháp thi hành đúng giờ giấc như quy định. Tại trạm kiểm soát Cổng Hậu, từng đoàn xe gồm năm mười chiếc có lính hộ tống được cho khởi hành. Một vài xe đến muộn phải đậu một bên đường chờ giải quyết sau. Trên đường đi, tại mỗi cây cầu đều có một toán Công Binh đặt sẵn chất nổ. Một trung sĩ Công Binh Việt Nam cho biết họ phải phá nổ các cầu này khi đơn vị cuối cùng đi qua.

Buổi trưa đoàn xe chúng tôi đi đến Hà Nội. Gia đình tôi về ở nhà người thân. Đêm hôm ấy thị xã Phủ Lý bị một sư đoàn Việt Minh tấn công. Thành phố đã hư hại sẵn nay lại chịu tàn phá gần hết những gì còn lại.

Cuộc rút lui này tuy tiêu biểu cho việc Pháp thua trận nhưng lại là cuộc rút lui thành công. Dựa vào tài liệu của Pháp và thực tế quan sát thấy tại chỗ, cho thấy Đại Tá Vanuxem chỉ huy trưởng Phân Khu Nam đã điều động cuộc rút lui mau lẹ, có trật tự với tổn thất nhẹ không đáng kể. Đoàn quân rút lui vượt qua nút Phủ Lý trước khi bị địch đánh chận.

Kế hoạch tỉ mỉ do bộ tham mưu Pháp bí mật soạn thảo, trong đó chỉ có các sĩ quan từ đại úy mới được cho tham dự. Mọi việc đánh máy, chuyển nhận công điện, văn thư tài liệu đều do các cấp sĩ quan từ đại úy trở lên đích thân thi hành. Bí mật được giữ đến phút chót. Chỉ có một điều đáng tiếc là nhiều đội dân quân tự vệ ở nhiều làng mạc các tỉnh vùng này kể cả quanh những trung tâm chiến lược như Phát Diệm, Bùi Chu bị Pháp bỏ rơi. Nhiều dân quân chạy không kịp bị Việt Minh bắt và giết hại.

Hà Nội vốn yên tĩnh, lúc đó đang sống thanh bình không nghe tiếng súng. Những vũ trường, hàng quán sang trọng và độc đáo với những thắng cảnh nổi tiếng đầy bóng dáng người đẹp thướt tha. Cuộc di tản 4 tỉnh phía Nam làm cho đường phố Hà Nội đông người thêm nhưng vẫn không mất vẻ mỹ lệ của đất Thăng Long ngàn năm văn vật.

Đồng bào đón cụ Ngô Đình Diệm về nước ngày 25/5/1954

Lúc ấy hội nghị Genève bắt đầu họp. Ai cũng thấy phe Cộng Sản đang nắm ưu thế. Những người có quan tâm đều lo ngại không biết sẽ đình chiến kiểu nào. Có thể là hai bên ngưng bắn xen kẽ mà sau này năm 1972-73 người ta gọi là “giải pháp da beo.” Cũng có thể là chia đôi đất nước thành hai miền Nam và Bắc. Người ta cũng bàn tán gay go về ranh giới đình chiến sẽ nằm ở vĩ tuyến nào? Vĩ tuyến 13, 16 hay 19?

Đầu tháng 7, ông Diệm ra Hà Nội. Một số đông đảo dân chúng chào đón ông, và nhiều người hy vọng vị nhân sĩ này sẽ cứu vãn tình hình. Sau đó ngày 7 tháng 7 năm 1954 ông Diệm chính thức nhậm chức thủ tướng. Ông thành lập Ủy Ban Bảo Vệ Bắc Việt. Các đoàn thể, đảng phái chống Cộng đều ủng hộ đường lối này. Nhiều sĩ quan, binh sĩ cũng sẵn sàng tham gia việc phòng thủ lãnh thổ phe quốc gia đang nắm giữ. Một số đông đảo đặt niềm hy vọng lớn lao vào sự trợ giúp của Hoa Kỳ thay thế người Pháp.

Nhóm chúng tôi là đảng viên Đại Việt và Quốc Dân Đảng đều hăng hái tham gia tuyên truyền vận động ủng hộ chủ trương giữ Bắc Việt. Đêm đêm, chúng tôi đi ném truyền đơn ở khu Hồ Tây, Cổ Ngư, Ngọc Sơn và nhiều nơi khác kể cả những nơi có lính Pháp lui tới. Hà Nội bắt đầu có không khí căng thẳng và phảng phất mùi chiến tranh.

Đường phố Hà Nội về khuya lần đầu tiên có những bóng dáng cảnh sát võ trang súng trận Mas-36 và quân phục tác chiến đi tuần tiễu. Nhưng các cơ sở dân sự cơ yếu và doanh trại quan trọng của Quân Đội Quốc Gia đều thấy có lính Maroc hoặc da đen canh gác, rõ ràng là Pháp đang phòng ngừa chính biến chống lại họ.

Ngày 14 tháng 7, quân đội Pháp tổ chức diễn binh ờ Bờ Hồ phía Tòa Thị Chính. Thông cáo và bích chương của Pháp vẽ hình nắm đấm được thấy khắp nơi. Pháp giải thích rằng rút 4 tỉnh phía Nam là bàn tay trước kia xòe ra nay nắm lại để đánh mạnh hơn. Tất nhiên ít ai tin vào luận điệu này.

Đám học sinh chúng tôi từ Nam Định chạy về nhiều đứa tình nguyện vào Khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị và lục tục lên đường khoảng trước ngày 15 tháng 7 năm 1954. Phần còn lại thường tìm gặp nhau trao đổi tin tức và bàn luận về tình hình đất nước.

Chiều 21 tháng 7 năm 1954 khi bọn tôi đang tụ họp thì có tin trên đài Con Nhạn (Hirondelle) của quân đội Pháp vang lên lời loan báo “Hiệp Định Đình Chiến đã được ký kết.” Tờ báo của quân đội Pháp cũng đăng câu ấy trên trang nhất bằng chữ lớn. Mọi người bàng hoàng dù biết trước thế nào việc này cũng sẽ đến. Báo này cho hay đất nước phân chia ở sông Bến Hải, Vĩ Tuyến 17.

Tân Thủ Tướng Pháp Mendès-France nhậm chức ngày 17/6/54, đã tuyên bố rằng ông ta sẽ từ chức nếu không đạt được thỏa hiệp trước ngày 20 tháng 7 năm 1954. Vì thế hiệp định Genève về Đông Dương được ký lúc sáng sớm ngày 21 nhưng nhà cầm quyền Pháp đã cho đồng hồ ngưng chạy từ đêm trước để làm như lúc ấy vẫn còn là ngày 20. Tại Việt Nam thời điểm này là trưa ngày 21.

Hà Nội liền thay đổi rõ rệt. Niềm hy vọng giữ Bắc Việt lịm tắt dần và dân chúng nóng lòng về tin tức sẽ có cuộc di cư. Một số bài trên báo chí đang từ thái độ chống cộng quay dần sang ủng hộ Việt Minh. Người các tỉnh đổ về Hà Nội đông đảo. Cán bộ Việt Minh cấp thấp ra vào Hà Nội dễ dàng. Đồ chơi trẻ em bày bán trước dịp Trung Thu có những chiếc máy bay, xe thiết giáp, xe chở lính, tàu thủy được sơn cờ đỏ sao vàng. Các cơ quan an ninh chẳng ai thèm để ý.

Một số cán bộ Việt Minh quen biết gia đình tôi đến thăm và khuyên gia đình tôi nên ở lại nhưng mẹ tôi và tôi đã dứt khoát ra đi. Sau đó 4 tháng, chúng tôi gặp lại vài người trong số cán bộ này ở Sài Gòn. Chính họ cũng đã mau chóng nhận rõ thực chất của Cộng Sản và kịp thời ra đi trước khi cảng Hải Phòng đóng cửa tháng 3 năm 1955.

Những gia đình chuẩn bị di cư đem đồ đạc bày bán dọc bờ hồ Thiền Quang làm thành một thứ chợ trời. Một buổi sáng sớm khi những người đầu tiên đang lục tục khuân đồ đạc đến chợ thì thấy có một lá cờ đỏ sao vàng treo trên tàng cây cao chừng ba bốn mét. Một thanh niên nổi nóng trèo lên giật lá cờ ném xuống đất.

Một trung tá người Pháp đi bộ ngang qua hung hăng can thiệp, lớn tiếng đại ý nói đó là quốc kỳ của một nhà nước, không được xúc phạm. Ông ta không ngờ những người bán chợ trời đều không ưa lá cờ máu ấy. Thế là xô xát xẩy ra, kết quả viên trung tá bị trọng thương vì gạch đá gậy gộc cho đến lúc xe quân cảnh Pháp cấp cứu.

Tin tức về di cư được loan báo chính thức vào đầu tháng 8. Nhiều nhà giầu đã đi vào Nam bằng phương tiện riêng. Đại đa số còn lại đợi ghi danh di cư bằng phi cơ và tàu biển. Trong nhóm chúng tôi từ Nam Định lên, phần đi Khóa 5 Thủ Đức, số còn lại một phần tham gia đoàn cán bộ xã hội được gửi vào Nam để phụ trách các trại tiếp cư do Bộ Xã Hội thiết lập. Tôi ở trong số này. Buổi chiều ngày 11 tháng 8 năm 1954 bốn đứa bọn tôi đi bộ thăm tất cả các di tích và thắng cảnh quanh Hà Nội lần cuối.

Phi trường Gia Lâm

Sáng sớm 12 tháng 8 khi qua cửa kiểm soát phi trường Gia Lâm, một trung úy Nhảy Dù người Pháp hỏi chuyện chúng tôi vì thấy 25 đứa trong đoàn cán bộ xã hội toàn là thanh niên còn trẻ. Sau khi nghe chúng tôi nói rõ lập trường và mục đích ra đi, ông ta nắm tay chúng tôi giọng xúc động nói rằng, “Nước Pháp đã liên tiếp sai lầm để các bạn chịu hậu quả đau đớn hôm nay.” Nói xong không ai ngờ viên trung úy trẻ dưới 30 này bật khóc, nước mắt chảy dài trên má.

Chúng tôi cũng cảm động tuy nhiên vẫn còn cầm được nước mắt. Nhưng khi phi cơ lượn một vòng lấy cao độ, tất cả đều ngó xuống. Giữa tấm thảm mây mưa xám xịt che kín bên dưới phi cơ có một khoảng trống vuông vắn hiện ra Hồ Gươm và 36 phố phường. Cảnh tượng tuy tầm thường nhưng lại gây xúc động mạnh, khiến đứa nào cũng rưng rưng nước mắt. Đây là lần chúng tôi vĩnh biệt Hà Nội. Vĩnh biệt miền Bắc.

Sau những giờ bay dài phi cơ đến Tân Sơn Nhất, cảnh những con rạch đỏ ngầu giữa hai hàng dừa xanh làm chúng tôi tươi vui hơn. Được đưa về nhận việc tại trại Bệnh Viện Bình Dân dưới quyền Bộ Xã Hội, ngày hôm sau chúng tôi được phân phối đi các trại tiếp cư khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định. Đợt đầu tiên đồng bào di cư bằng cầu vận chuyển của chính phủ và các nước trợ giúp đã vào Sài Gòn từ đầu tháng 8 năm 1954.

Nhờ vào dịp hè, các trường học vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định được trưng dụng để đón nhận người di cư đến bằng phi cơ quân và dân sự, các quân vận hạm Mỹ như Marine Serpent và Marine Addler, các mẫu hạm Anh và Pháp. Trại tiếp cư lớn nhất vùng Sài Gòn là trại Phú Thọ Lều (sát trường đua Phú Thọ, gồm hàng trăm lều vải lớn mỗi lều chứa bốn năm gia đình do quân đội Mỹ dựng. Gọi là Phú Thọ Lều để phân biệt với trại Học Sinh Di Cư Phú Thọ ở gần kế đó. Trại Phú Thọ Lều chứa trên 10 ngàn người.

Trợ cấp tiền mặt một ngày cho mỗi người lớn 12 đồng, trẻ em 6 đồng, dư để ăn ba bữa tươm tất. Lúc ấy một bát phở hay một tô hủ tiếu giá 3 đồng, một bữa cơm ở quán ăn xã hội hai món canh và mặn giá 5 đồng. Chai bia 3 đồng kể cả nước đá, một gói thuốc lá Ruby 8 đồng. Lương giáo viên tiểu học khoảng hơn 4,000 đồng, lương trung sĩ 2,200 đồng, lương cán bộ ngang lương thấp là 1,500 đồng. Một căn nhà gỗ lợp tôn 4×20 mét ở mặt đường khoảng chợ Hòa Hưng giá chừng 30,000 đồng.

Đời sống trong các trại tiếp cư rất đa dạng. Sống chật chội chung đụng và ồn ào, làm nảy sinh nhiều vui buồn, đụng chạm, kết bạn, rã bạn, tạo ra những mối tình ái lăng nhăng xấu tốt đủ cỡ đủ kiểu. Những cảnh âu yếm giao tình nặng nhẹ bên bờ bụi gần trại trong đêm khuya vắng vẻ của trai gái, vợ chồng đủ lứa tuổi, là những nét sinh hoạt rất sống động có đủ vui, buồn, yêu, giận, phát khóc và nực cười.

Từ tháng 8 năm 1954, mỗi ngày có trung bình hàng ngàn người từ Hà Nội và Hải Phòng vào Sài Gòn bằng đường hàng không và nhiều ngàn người mỗi tuần bằng tàu chiến. Công việc định cư được tiến hành song song và khẩn thiết. Phủ Tổng Ủy Di Cư lúc ấy đã thay thế bộ Xã Hội trong nhiệm vụ chuyên biệt này.

Hình chụp tại Saigon vào tháng 10 năm 1954 trong một trại tạm cư với hàng trăm căn lều. Lúc đó, một trong những trại định cư lớn nhất ở Saigon là trại Phú Thọ Lều được thiết lập tại Quận 10 sát bên trường đưa Phú Thọ. Trại này có lúc đã chứa đến 10,000 người di cư. (HÌNH ẢNH: VNCTLS sưu tầm).

Thời gian tạm cư kéo dài đến cuối năm 1954 và các trường học được trả lại cho học sinh. Trại Phú Thọ Lều giải tán. Người di cư theo nhau đi định cư khắp nơi, ở nhà tư hoặc ở các trại định cư khắp các tỉnh. Tính đến chuyến tàu sau cùng tháng 3 năm 1955 có khoảng 950,000 người từ bắc Vĩ Tuyến 17 di cư vào Nam.

Nếu tính theo giấy tờ, con số này có thể lên tới hơn 1 triệu vì có sự gian lận sổ sách của một số viên chức cán bộ lợi dụng thủ tục khai và lãnh tiền trợ cấp dễ dàng. Và không phải 90% người di cư là tín đồ Công Giáo như nhiều người nhận định. Số đồng bào Công Giáo di cư có lẽ chỉ chiếm khoảng 70% tổng số.

Một điểm đáng ghi nhận là đáng lẽ số người di cư còn cao hơn nữa nhưng vì vụ tướng Nguyễn Văn Hinh chống ông Diệm và những cuộc giao tranh giữa quân chính phủ và lực lượng Bình Xuyên đầu năm 1955 ở Sài Gòn nên nhiều người Bắc không dám vào Nam. Tin tức về vụ này làm một số rất nhiều người đã định ra đi nhưng vì e ngại loạn lạc mà đổi ý.

Nói chung, sự xuất hiện của ông Ngô Đình Diệm và thái độ can dự của người Mỹ đã gây được tin tưởng trong một số đông đảo người miền Bắc khiến họ yên tâm vào Nam. Đại đa số thành phần trí thức, chuyên viên cao cấp như kỹ sư, bác sĩ, chuyên viên trung cấp, thợ giỏi, đã rời bỏ đất Bắc khiến chính quyền ông Hồ Chí Minh gặp khó khăn lớn trong mục tiêu xây dựng một đội ngũ chuyên viên kỹ thuật mà họ cho là xương sống của nền kinh tế và khoa học kỹ thuật Xã Hội Chủ Nghĩa.

Cuộc di cư năm 1954 tạo ra những thay đổi sâu rộng trong lịch sử Việt Nam. Xin ghi lại một vài sự kiện nổi bật xảy ra và những nét đặc biệt của cuộc di cư sau Hiệp Định Genève 1954 điển hình tại vùng thủ đô Sài Gòn.

Trước hết phải nhìn nhận cuộc di cư đã giúp hàn gắn những chia cách đáng buồn giữa hai miền trong nước. Tình trạng chia rẽ do hậu quả của những năm dài dưới chế độ thuộc địa Pháp đã tiêu tan mau chóng. Những dị biệt về phong tục, ngôn ngữ vì ngăn cách, lâu ngày được san bằng gần hết. Những ngăn cách và hiểu lầm còn lại không gây hậu quả nào nghiêm trọng. Về mặt chính trị và xã hội, sau nhiều biến chuyển và chiến tranh, cuộc di cư vĩ đại năm 1954 đã góp phần thay đổi bộ mặt bề ngoài cũng như nếp sống của dân chúng đến chỗ tốt đẹp, phong phú hơn.

Trước tháng 10 năm 1954, chính quyền địa phương còn gần y nguyên như thời Pháp Thuộc. Văn thư, giấy tờ, tên công sở, phố xá còn dùng tiếng Pháp. Từ khi chính phủ Ngô Đình Diệm nắm toàn quyền sau những âm mưu đảo chánh bất thành, luật lệ được thi hành nghiêm chỉnh. Nhiều cải cách hành chánh đã làm giảm hẳn nạn giấy tờ nhiêu khê. Văn thư, giấy tờ đều bắt đầu dùng tiếng Việt. Xin Tư Pháp Lý Lịch bây giờ chỉ mất một tuần thay vì đợi 3 tháng. Xin chứng nhận bản sao đợi lấy ngay hay sau vài giờ thay vì một tuần lễ. Các cuộc cải tổ mạnh mẽ được tiến hành có kết quả tốt nhờ phần nào ở sự ủng hộ tích cực của đồng bào di cư đối với chính phủ.

Cuộc đổi tiền Đông Dương thành tiền Việt Nam năm 1955 trong 3 ngày không giới hạn số lượng là một đòn bất ngờ vô hiệu hóa hàng tỷ bạc Đông Dương mà chính quyền Hồ Chí Minh thu gom được ở miền Bắc vì họ không kịp chuyển vào Nam để đổi lấy tiền miền Nam mới. Đợt đổi tiền này cũng chấm dứt luôn thói quen tiêu dùng coi nửa tờ giấy bạc 1 đồng như 5 cắc (hào). Khi cần xài hay trả lại 5 cắc, chỉ cần xé đôi tờ giấy bạc một đồng. Đành rằng tập tục này không áp dụng cho những giấy bạc mệnh giá trên một đồng.

Lúc ấy ảnh hưởng tuyên truyền của Cộng Sản rất mạnh ở nam phần ngay tại Sài Gòn. Nhiều người mở đài Hà Nội công khai mà không ai bắt bớ. Nhiều người miền Nam ít hiểu biết về thực tế Cộng Sản đã thật thà hỏi mấy đồng bào di cư mới gặp gỡ rằng “Ngoài Bắc đã độc lập rồi, mấy thầy cô dô đây làm chi?” Do đó đã xẩy ra một số đụng chạm nhỏ trong tháng đầu. Dần dần đồng bào miền Nam mới nhìn đồng bào di cư một cách có thiện cảm hơn.

Trong bối cảnh ấy, lực lượng học sinh di cư đã dẫn đầu cuộc biểu tình vào dịp 20 tháng 7 năm 1955 đòi tống xuất các đoàn đại biểu của quân đội Cộng Sản từ Hà Nội trú đóng tại hai khách sạn Majestic và Galliéni (đường Trần Hưng Đạo). Khi bị khiêu khích, cuộc biểu tình biến thành bạo động, gây thiệt hại nặng cho hai khách sạn nhưng không có thương vong quan trọng. Những hành vi cương quyết của quần chúng khiến bọn thân Cộng Sản không còn nhởn nhơ tuyên truyền bán công khai như trước.

Người di cư tiếp xúc, trao đổi với dân chúng địa phương mau chóng tạo ra những hiểu biết và thông cảm. Về kinh tế thương mại, người Bắc vào Nam đã mở mang thương trường, ra các cửa hàng nhất là hàng ăn. Năm 1954 hầu hết cửa tiệm ăn do người Hoa kinh doanh, và họ dành độc quyền ngành lúa gạo cũng như các sạp thịt ở mọi chợ. Đời sống dễ dàng ở miền Nam khiến người Việt ít muốn cạnh tranh, ngay như ngành công chức cũng không hấp dẫn nhiều người. Bà con lao động xích lô kiếm đủ tiền tiêu trong ngày nhiều khi đẩy xe lên lề dưới bóng cây làm một giấc, khách gọi mấy cũng từ chối. Cách biệt giầu nghèo ở Nam Việt lúc ấy rất ít.

Các tầng lớp dân di cư cần cù chịu đựng tham gia thị trường lao động đã làm cho đời sống kinh tế miền Nam lên cao nhưng lại buộc mọi người phải làm ăn chăm chỉ hơn. Một số người địa phương không hài lòng vì nếp sống thong thả lè phè cũ đã mất đi không còn trở lại.

Trang phục phụ nữ hai miền khác nhau, nổi rõ nhất là giới nữ sinh trung học tuổi đôi tám. Nữ sinh Hà Nội làm dáng sớm hơn, quần hẹp, áo dài nở vòng số một. Nữ sinh Sài Gòn vận quần trắng rộng, áo bà ba trắng nhiều hơn áo dài được may vòng số 1 tương đối phẳng phiu có lẽ vì đó là cách tỏ ra là con nhà nghiêm túc. Sau hơn một năm các cô hai miền tự nhiên hòa hợp cách ăn mặc, bọn thanh niên sinh viên học sinh chúng tôi không còn phân biệt được gốc gác các cô qua y phục nữa. Điều quan trọng và dễ thương hơn hết là những câu chuyện tình Bắc duyên Nam đã nhiều khi hóa giải rất nhiều cho những mâu thuẫn văn hóa chính trị.

Các trường phía Bắc di chuyển vào Sài Gòn giữ gần y nguyên ban giám hiệu và tổ chức riêng. Từ Hà Nội vào, Chu Văn An tiếp tục tại cơ sở cạnh Petrus Ký. Trưng Vương học chung cơ sở nhưng khác giờ với Gia Long… sau hai ba năm mới ra học ở các cơ sở riêng trước Thảo Cầm Viên. Mấy năm sau nữa thì học sinh gốc hai miền dần dần pha trộn.

Chuyện đáng nhớ là năm 1955 học sinh Bắc vào Nam và các bạn gốc miền Nam mở chiến dịch phá bỏ tên đường tiếng Pháp. Nhờ đó mà việc đặt tên đường mới, vốn là việc mất nhiều công sức, đã được Tòa Đô Chánh Sài Gòn thực hiện trong vòng khoảng một tháng.

Về mặt văn hóa và báo chí, các nhà văn, nhà thơ, nhà báo từ Bắc vào Nam đã hòa hợp với đồng nghiệp miền Nam tạo ra sinh khí mới, lối viết và văn phong, sắc thái trong sáng, có sức truyền đạt hơn. Sau một thời gian ngắn người đọc chỉ có thể nhận thấy một số khác biệt ít ỏi giữa bài vở sách báo do các tác giả gốc từ các miền khác nhau viết ra.

Đặc biệt là về tân nhạc, lớp nhạc sĩ và ca sĩ cũng như những người yêu nhạc từ miền Bắc vào Nam đã lôi cuốn được phong trào âm nhạc mới phát triển mạnh để tiến đến tới cao điểm nghệ thuật ca nhạc trong các thập niên sau. Và ngược lại số người Bắc di cư hâm mộ ca nhạc kịch cải lương cũng gia tăng nhiều.

Về mặt ăn chơi, sự thay đổi rõ rệt hơn. Sòng bạc Kim Chung, Đại Thế Giới, khu mại dâm Bình Khang bị đóng cửa đầu năm 1955. Giữa năm 1954 cả Sài Gòn hình như chỉ có 2 hay 3 tiệm phở Bắc. Chỉ sau vài tháng số tiệm phở tăng đến hàng chục. Các quán cà phê cũng lục tục ra đời cùng với các ngành buôn bán khác. Các xuất gọi là phụ diễn tân nhạc trước khi chiếu phim chính ra đời dần dần tiến đến những buổi trình diễn âm nhạc chuyên nghiệp gọi là “nhạc hội” giúp vào việc phổ biến âm nhạc sâu rộng hơn. Trước đó hoạt động âm nhạc chỉ được biết qua các chương trình ca nhạc và các cuộc thi hát, tuyển lựa ca sĩ của các đài phát thanh quốc gia, đài quân đội và đài Pháp Á cùng hai đài Huế và Hà Nội.

Ngôn ngữ hai miền sau cuộc di cư cũng thay đổi và pha trộn về từ ngữ tuy vẫn giữ những nét độc đáo của từng vùng mà không lai giọng. Điểm đáng lưu ý là sau nhiều năm gia đình gốc gác miền Bắc di cư có con cái đứa thì nói giọng địa phương (Nam hay Trung), đứa thì nói giọng Bắc, đứa thì nói cả hai ba giọng tùy theo môi trưởng xóm giềng và trường học. Nhưng không mấy ai nói lẫn lộn cùng một lúc các giọng khác nhau.

Về mặt đời sống xã hội, người di cư dần dần và chậm chạp chịu ảnh hưởng bởi lối sống phóng khoáng, chân thật, thẳng thắn của dân miền Nam. Sau một thế hệ, tính nết người Bắc di cư khác hẳn tính nết của đồng hương của họ còn ở lại quê nhà. Đến sau 30 tháng 4 năm 1975 người ta càng thấy điều này rõ rệt hơn khi gặp đợt Bắc Kỳ mới vào Nam.

Trong đời sống tinh thần, có hai sự kiện đáng nhớ trong thời gian ấy. Một là trước ngày Việt Minh tiếp thu Hà Nội thì chùa Một Cột, di tích quý báu nhất của Việt Nam bị kẻ vô danh phá bằng chất nổ. Rất may chùa chỉ hư hại một góc. Nghe tin ấy chúng tôi đều hết sức buồn phiền. Hai là giữa lúc nhịp độ di cư đang lên cao thì Hoàng Dương, em nhạc sĩ Hoàng Trọng cho ra đời ca khúc Hướng Về Hà Nội với lời ca tha thiết “Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi… mái trường phượng vĩ dâng hoa, dáng chiều ủ bóng tiên nga… biết đâu ngày ấy anh về.” Ca khúc này khiến lứa tuổi 18, 19 chúng tôi cảm thấy rõ điều mà các văn thi nhạc sĩ gọi là “tan nát cõi lòng.”

Dĩ nhiên trong ngót một triệu người Bắc di cư có đủ mọi thành phần tốt xấu kể cả đầu trộm đuôi cướp, quan lại tham nhũng, trọc phú bất lương, tay sai thực dân và nội tuyến Cộng Sản. Nhưng so với số các phần tử tinh hoa của xã hội, số người yêu nước, chuyên viên giỏi các loại, các nhân sĩ, trí thức, chiến sĩ quốc gia chân chính, thì những phần tử xấu xa nói trên chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ bé.

Một số người cho rằng người miền Bắc di cư đã là chứng nhân lịch sử khiến đồng bào miền Nam hiểu rõ bản chất của chế độ Cộng Sản. Điều đó có thể đúng một phần nhỏ. Phần quan trọng hơn là chính vì thực tế những đường lối mà Cộng Sản thi hành tại miền Nam tại nông thôn từ khoảng năm 1961 trở đi. Từ đó họ đã thấy rằng chế độ Cộng Sản đi ngược lại quyền lợi và sự an hòa của nhân dân ta nhất là giai cấp nghèo khổ ở nông thôn.

Tôi và các bạn cùng lứa tuổi di cư vào ở miền Nam gần 40 năm tính đến năm 1990 qua di trú sang Hoa Kỳ. Tuy sinh ra trên đất Bắc nhưng chỉ ở Bắc dưới 20 năm, trong đó mới biết chuyện đời được dăm ba năm. Vì thế chúng tôi có hai miền quê quán. Quê quán thứ nhất ở miền Bắc còn ở trong tim nhiều hơn. Quê quán thứ hai ở miền Nam sau ngày di cư năm 1954 mới thực sự chứa đựng nhiều vui buồn, yêu thương, giận dỗi, vinh quang và tủi nhục vì trải qua quãng đường đời dài 40 năm với biết bao nhiêu là kỷ niệm./

Lữ Tuấn


* * *

THÁNG TƯ

Tháng tư u uất trên không

Tiếng còi tàu đã bỏ sông bỏ nguồn

Bơ vơ thành phố không hồn

Còn ai trông ngóng bãi cồn bờ kênh

Trời cao trời cũng mông mênh

Đất sao lỡ bước chênh vênh bến bờ

Người vong quốc, kẻ rợ Hồ

Biết đâu ngày tháng đợi chờ ta đây

Thà như chiến lũy phơi thây

Thà như tội nghiệt đọa đầy nhân gian

Thà như máu cạn xương tan

Than ôi tử sĩ chết oan một ngày

Tàu đi buông tiếng bi ai

Nỗi đau xé thịt một đời sinh ly

Phố phường lặng lẽ li b ì

Nghe cơn đại nạn ấm ì ngoài xa

Bánh xe xích sắt nghiến da

Mặt trời bỗng tối, mắt nhòa bóng đêm

Bên đường quân phục không tên

Ai người lính chiến, ai quên binh đoàn

Tháng tư mơ giấc hoàng lan

Tàu về trong ánh hào quang mặt trờ i

Cờ treo, nhạc nổi, hoa mời

Bao nhiêu lễ hội đón người phương xa

Nguyễn Vũ Văn (CVA59)

Tháng 4/2017

BẢO TÀNG


Tới đỉnh gió gọi hồn lịch sử
Cuồn cuộn mây tử sĩ xôn xao
Công thần hiển hách riêng một cõi
Còn ai thoi thóp dưới chiến hào

Áo mũ vua ban cờ đại tướng
Bia đá ghi ơn phò bạo quân
Ta nghe kèn trận nhưđiên đảo
Tiếng hò kéo pháo ríu đôi chân

Bom đạn kinh hoàng trời đất rống
Xác chết chồng người vẫn thiêu thân
Quân lệnh như sơn mạng như rác
Dựng cờ vang dội võ tướng quân

Bạo chúa lên ngôi thời mạt trị
Trắng tay bá tính biết lầm than
Nhìn lên ngoảnh mặt về phương bắc
Nhìn xuống nô dân một lũ câm

Công thần thất sủng, ôi danh tướng
Người đã khuất rồi có hối không
Tử sĩ chết oan nay hội ngộ
Có ai đòi mạng cướp linh hồn ?

Trở lui ngoài cửa đầu như đá
Gióù lên hồn lại sơ sinh
Trên cao trời vẫn xanh trong ngắt
Bỗng nhả ra mấy giọt phân chim

Nguyễn Vũ Văn
CVA59

* * *

 

Người Hà Nội,

người Sàigòn

Ban Biên Tập, sưu tầm

Sàigòn trước năm 1975 có là Hòn Ngọc không? Điều này còn tùy người.

Dân Sàigòn, trước năm 1975, hãnh diện về thành phố của mình, dù nhiều người vẫn thấy Sàigòn đã có thể chưa bằng Seoul, Singapore, Bangkok. Có người, với góc nhìn nào đó, thấy Phnom Penh, Vientiane đẹp hơn. Có người so sánh với các địa phương khác trong nước, thích Huế, thích Dalat, thích Hà Nội hơn, nhưng đối với người Sàigòn thì thành phố của họ vẫn là viên ngọc họ yêu thương. Viên ngọc Sàigòn trong mắt họ và yêu thương trong tim họ khác với con mắt và tình cảm yêu thích của các tay thực dân ngồi salon từ thủ đô ánh sáng Paris nhìn sang, tấm tắc khen công trình kiến tạo ở xứ Viễn Đông của mình.

Sàigòn đẹp, nhưng Hà Nội có thua gì? Sàigòn làm sao có được những hồ nước trong veo, mát rượi, thơ mộng như Hà Nội? Sàigòn sao có được các công trình kiến trúc lich sử như Văn miều, Trấn Quốc, Hồ Gươm, đền Ngọc Sơn? Và nhất là Sàigòn thời trước 1954, không quy tụ được nhiều tao nhân, mặc khách, văn nhân, thi sĩ như Hà Nội.

Người Hà Nội khác người Sàigòn. Người Hà Nội có vẻ từ tốn, lịch lãm, tao nhã, tế nhị và khách sáo. Tế nhị và khách sáo đến mức làm người Sàigòn khó chịu.</