". . . Đừng nghe những gì Cộng sản 'nói',
hãy nhìn xem những gì Cộng sản 'làm' . . . "
Đó là lời nhắn nhủ cùng đồng bào trong nước, đã được nhấn mạnh trong các bức thông-điệp của cố Tổng-thống VNCH, Nguyễn văn Thiệu trước năm 1975.
Câu nói trên tuy rất đơn giản và mộc mạc nhưng đã khiến mọi tầng lớp dân chúng ở miền Nam, thời bấy giờ, ai cũng hiểu được ý của người phát biểu; nhằm vạch rõ cái manh tâm 'lừa dối' -'Có nói không' hay 'không nói có', để bịt mắt nhân dân trước những hành động vừa sai khuấy lại vừa tàn ác của tập đoàn lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN). Đó là chưa kể đến những việc làm trái ngược là Đảng tuyên bố một đằng nhưng lại thi hành một nẻo. Nói tóm lại đó là cái lối lý-thuyết và thực-hành của một bọn thiểu số không-nhà-không-cửa (một trong Ba 'vô'); thử hỏi còn có gì làm căn bản khiến nhân dân có thể căn cứ vào đó để mà tạm đặt lòng tin tưởng.
Sau những sai lầm trầm trọng xẩy ra, nếu có bị phản đối thì tập-đoàn lãnh-đạo Đảng, 'từ cao tầng xuống thấp tầng', cái giới 'đỉnh cao trí tuệ' này lại tìm cách đổ lỗi lẫn nhau; kể như là huề cả làng.
Trước khi đơn cử một vài tội ác điển hình do Cộng sản VN gây nên, Ta hãy gạt bỏ những gì "chúng nói" để nhìn lại xem "những gì CS làm", đã được xẩy ra trong quá khứ. Đó là khoảng thời gian của nửa thế-kỷ vừa qua tại miền Bắc và hơn 30 năm qua tại miền Nam dưới Chế độ Cộng sản: Độc tài Đảng trị.
Căn cứ vào những diễn tiến liên hệ đến lịch-sử cận đại, người Việt chúng ta ai cũng biết Đảng Cộng-sản VN (CSVN- Communist Party Of Viet-Nam) đã do Nguyễn ái Quốc hợp nhất (unified) vào năm 1930 tại Kowloon; đồng thời Đảng Cộng-sản Đông Dương (Indochinese Communist) được sáng lập tại Hong Kong, cùng đặt dưới sự lãnh đạo của Nguyễn ái Quốc (trước khi được tự cải tên là Hồ chí Minh).
Năm 1941, tổ chức Việt Minh (viết tắt từ Việt-nam Độc-lập Đồng Minh Hội), là hậu thân của Đảng CSVN của Nguyễn ái Quốc, được thành lập và hoạt động cùng thời với những tổ-chức cách-mạng quốc-gia khác ở trong nước; vì cùng có chung khẩu hiệu "kháng chiến chống thực dân Pháp", nên cũng đã thu hút được lòng yêu nước của một số đông đông bào vào thời kỳ đó.
Kể từ năm 1943, Nguyễn ái Quốc mới đổi tên là Hồ chí Minh và tự nguyện tuân theo 'Chủ nghĩa Cộng sản' để nhận được sự hỗ trợ lúc bấy giờ của cả hai nước đàn anh Cộng sản là Nga Sô và Trung Cộng.
Vì thế suốt mấy chục năm qua, nhóm lãnh đạo thuộcTrung ương Đảng CS VN 'học tập tốt', đã thấm nhuần "Chủ thuyết Mác-Lê" cộng thêm cái gọi là "tư tưởng Hồ chí Minh" được "sản sinh" ra sau này. Cho nên đến ngày hôm nay trong thời đại của kỷ-nguyên mới, Cộng sản VN vẫn còn cố níu kéo lấy lý thuyết Mác-xít, tiếp tục duy trì chủ nghĩa 'Tam vô' (vô tôn giáo, vô tổ quốc và vô gia đình), cộng thêm 'chính sách vô sản' để bần cùng hóa nhân dân cả về phương diện vật chất lẫn tinh thần; khiến dân Việt-nam dưới chế độ Cộng sản vẫn thoải mái ngu dốt, khiến Đảng nhà nước dễ bề 'bưng bít dân những sự thật'; Nhân dân do đó bị đảng nhà nước bịp từ đời ông cha sang đến đời con cháu. không biết sẽ còn trải dài đến tận bao giờ (?).
Do đó khi đề cập đến những tội ác của Đảng Cộng sản VN, dưới chế độ 'Độc tài đảng trị', chúng ta hầu như không đủ giấy mực để viết ra cho hết. Tuy nhiên, sau khi tham khảo với một đống tài liệu đáng tin cậy, chúng tôi chỉ xin dẫn chứng trong một bài ngắn gọn như dưới đây để 'ghi chép' về những tội ác của CSVN; Các tội ác này bắt đầu từ Hồ Chí Minh xuống đến nhóm cầm quyền 'vô thần, vô nhân đạo' thuộc Bộ Chính-trị Trung ương Đảng,
Những 'chỉ tiêu' lãnh đạo sai lầm cộng thêm 'hành động' sai lầm kế tiếp, tất nhiên đã không thể tránh khỏi được trong một đường lối chính-trị mò mẫm, chao đảo (bắt chước của nước đàn anh Trung cộng); xẩy ra từ trước và sau năm 1954, được dẫn chứng như: Cách mạng vô sản, Đấu tranh giai cấp, Sửa sai, Trăm hoa đua nở; hết 'Trói' rồi lại 'Cởi trói'; từ Độc tài 'khép kín' đến Độc tài 'cởi mở', cũng như chính sách Kinh-tế chỉ huy bao cấp nhà nước tới chính sách kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghiã v..v...; Chứng tỏ với dân tộc là tập đoàn cai trị của Đảng CSVN, đã mắc phải một lỗi lầm căn bản là thiếu đi mất thành phần trí thức tham gia vào việc 'dựng nước và giữ nước'.
Kết quả sau mấy chục năm qua, nói về thực chất, sự tiến bộ của đất nước không được khả quan là do bởi sự cai trị của một nhóm cán bộ trung-ương Đảng có căn bản học thức không quá Cấp 1, được xếp vào loại 'bần cố nông' cố chấp cộng thêm nạn tham nhũng trầm trọng xẩy ra trong nội bộ nhà nước CSVN.
Với căn bệnh trầm kha này, bây giờ chỉ còn có môn thuốc chót để chữa trị, đó là: Khai tử chính sách độc tôn, độc tài Đảng trị- Áp dụng chế độ Tự-do, Dân-chủ; điều tiên quyết tất nhiên là phải biết "Tôn trọng Nhân-quyền".
Năm 1953 đến 1956 -Cuộc "Cải cách ruộng đất"
và những vụ 'đấu tố' đẫm máu:
Năm 1953, một năm trước ngày đất nước bị chúng ký thỏa hiệp chia cắt với Pháp, tại những địa phương do Việt Minh kiểm soát, đã gây ra phong trào 'đấu tố nhân dân'. Chúng lập ra những tòa án, súi nhân dân kết tội, đánh đâp hoặc chôn sống những địa-chủ (!); giới mà đảng Cộng sản VN đã gán cho cái tội là bọn 'cường hào ác bá'. Tiếp theo, cán bộ nông nghiệp được lệnh kiểm soát chặt chẽ số dân được phân chia ruộng; bắt đóng thuế cao trên số địa tô vừa đuợc Đảng nhà nước 'cướp của người này và ban phát cho người kia'. Rút cuộc dân ở vùng quê, cuộc sống càng thêm khổ cực nếu đem so với thời kỳ chưa có cuộc "cách-mạng" này xẩy ra.
Chính sách "Cải cách ruộng đất" kế đó tạm ngưng vì tình hình quân sự và chính trị đòi hỏi lúc bấy giờ; nhưng nó lại vẫn được tiếp tục xẩy ra mạnh mẽ hơn ngay sau hiệp-định Genève được ký kết vào ngày 20 tháng 7 năm 1954.
Thành quả (!) của cuộc 'Cải cách ruộng đất' tại miền Bắc, khởi đầu từ năm 1953 kéo dài đến năm 1956, đã gây khủng hoảng đời sống cho những người dân quê chất phác. Kết quả được ghi nhận có từ 10,000 đến 15,000 người bị giết chết bằng một lối xử tội man rợ và bán khai. Những điền chủ bị Đảng Cộng sản kết án, nhiều khi chỉ có khoảng từ hai đến bốn mẫu ruộng. Tội nhân sau khi được quàng cái bản án vào cổ, vẫn do cán bộ Đảng đốc thúc phía sau, nhân dân hành xử 'tội phạm' (!) cho tới lúc chết bằng với đủ mọi phương tiện và dụng cụ như: đánh đòn hội chợ, ném đá, đánh bằng đòn gánh, gậy gộc; rất nhiều người còn bị chôn sống.
Con số bị kết án với cái tội địa-chủ, đã lên tới cả 100 000 người trong cái chính sách 'Cải cách ruộng đất' tại miền Bắc. Do sự kiện vừa kể, Đảng CSVN đã phạm một sai lầm lớn lao vì đã gây nên chia rẽ, hận thù giữa các tầng lớp nhân dân, trong lúc mọi sự đoàn-kết đang cần phải được hô hào, củng cố cho một đất nước vừa mới ngưng chiến-tranh; Sự thật đã không giống như cái khẩu hiệu do Hồ chí Minh đã trưng ra: "Nước Việt-nam Dân-chủ, Cộng-hòa, Độc lập Tự do và Hạnh phúc" (?) - Thật đúng là nói một đàng, làm một nẻo!
Cùng lúc một cuộc đàn áp đẫm máu xẩy ra tại huyện Quỳnh-Lưu thuộc tỉnh Nghệ-An (quê hương của họ Hồ). Người dân Quỳnh Lưu phẫn uất nổi dậy chống lại chính sách của Trung ương Đảng. Tổng cộng đã có khoảng 1000 người dân bị thiệt mạng, hoặc bị thương tích; cộng thêm vài ngàn người địa phương bị bắt giữ do sự can thiệp bằng vũ lực của nguyên cả một sư-đoàn, Sư-đoàn 325 lính bộ chính qui, được Trung-ương Đảng điều động đến tỉnh Nghệ-an để đàn áp.
Theo báo cáo của tờ Nhân Dân, một tờ báo được coi như tiếng nói chính thức của Đảng CSVN tại Hànội, để giảm bớt phẫn nộ trong mọi tầng lớp nhân dân lúc bấy giờ, đồng thời nhằm để 'sửa sai', Hồ chí Minh đã ra lệnh cách chức Trường-Chinh, người được đề cử thi hành chính sách 'Cải cách ruộng đất' tại miền Bấc của Đảng nhà nước và Bộ trưởng Nông Nghiệp cùng bị giải nhiệm (1956).
Sau sự thất bại nặng nề của chính sách "Cải cách ruộng đất" tại miền Bắc, Hồ chí Minh, Chủ-tịch Đảng CSVN, đã đỗ lỗi là bị chính nước đàn anh Trung-cộng đã xúi dục họ Hồ phải thực hiện cho bằng được cuộc "Cải cách ruộng đất" này (!).
Năm 1958, đàn áp "Nhóm Nhân Văn và Giai Phẩm".
Ở miền Bắc, theo đưvụờng lối của Đảng, sau lỗi lầm 'Cải cách ruộng đất' vừa qua, liền bảo nhau 'Sửa sai'. Tiếp theo đó Hà-nội lại tung ra một khẩu hiệu mới "Trăm hoa đua nở". Tất nhiên, một số những người hiểu biết vẫn giữ thái độ dè dặt trước ngôn từ có vẻ khua trương như thế. Họ nghĩ rằng trong số trăm hoa, nếu những bông hoa nào, trong chế độ độc-tài Đảng trị, mà 'không được nở dưới màu cờ đỏ' thì hoa đó cũng bị bứng đi ngay tức khắc; mà còn bị bứng cả gốc lẫn rễ là đàng khác (!).
Bọn lãnh đạo Trung ương Đảng tung ra khẩu hiệu này, một mặt chứng tỏ đường lối cởi mở đối với lãnh vực văn học và nghệ thuật, nhằm khuyến khích những tư duy đã không có dịp bộc lộ trong cái gọi là 'Độc tài khép kín' như từ trước đến giờ; mặt khác muốn 'thử nghiệm' xem hiện đã có bao nhiêu 'tư tưởng phản động', chống đối lại 'đường lối' của Đảng (?). Kết quả trong số những trí thức trước kia từng làm văn nghệ, có Nhóm "Nhân Văn và Giai Phẩm" ra đời: đòi được phát hành tác phẩm, đòi quyền tự do cho giới 'văn nhân, nghệ nhân'. Đúng với dự đoán của nhiều người dân Hà thành, Đảng CSVN được thời cơ, trong một lúc không phải tốn công truy lùng mà đã bắt được trọn mẻ cá. Những con cá "nhẹ tin những gì CS nói", đã bị một mẻ lưới ngay khi vừa mới có dịp nổi lên mặt nước để mong được hít thở bầu không khí trong lành, tự do.
Hiển nhiên đó là vụ án đã gây nên một luồng dư luận sôi nổi, cũng như âm thầm tại Hà-nội vào năm 1958. Cả nhóm, trong số bị bắt giam vì có 'tư tưởng phản động', có nhiều người lúc bấy giờ hiện còn đang nắm giữ các chức vụ tại Trung ương Đảng bộ. Người ta đã được chứng kiến những tên rất quen thuộc trong Nhóm như: Trần Dần, Nguyễn hữu Đang, Hoàng Cầm v...v...
Riêng thi-sĩ Hoàng Cầm sau khoảng thời gian bị tù đầy, bị tra khảo (cộng chung suốt gấn 20 năm), nay đã trở thành phế nhân, một người bị bán thân bất toại.
Năm 1960, Hồ chí Minh thành lập 'Mặt Trận Giải Phóng miền Nam' tại Hà-nội - Gia tăng mức độ chiến tranh:
Đúng hai năm, sau ngày Hiệp-định Geneve xẩy ra (20-7-1954), Phạm văn Đồng, thuộc Đảng CSVN, chính thức gửi văn thư vào Nam, yêu cầu chính phủ Ngô đình Diệm cử đại diện để thảo luận tổ-chức cuộc bầu-cử theo như điều khoản được ghi trong hiệp định thư.
Tổng Thống Ngô đình Diệm lúc đó đã bác bỏ lời yêu cầu của Thủ-tướng CS Bắc việt, với lý do là chính-phủ miền Nam không hề có đại diện ký tên vào bản thỏa hiệp; vì thế miền Nam không bị ràng buộc bởi những điều khoản nào của hiệp-định, đồng thời ông yêu cầu miền Bắc hãy chấm dứt liên hệ, cũng như từ bỏ ý định xâm lược miền Nam tự-do.
Mưu toan về mặt chính trị không xong, CSVN xoay qua phương diện vũ lực (!).
Tháng 12 năm 1960, Hồ chí Minh quyết định thành lập một tổ chức khác lấy tên là 'Mặt Trận Giải Phóng miền Nam' (viết tắt là MTGP MN), và dùng cái chiêu bài này để khởi sự cho những cuộc tấn công phá hoại, với mưu đồ xâm lăng miền Nam Tự-do.
(Sau này, trên thực tế trong bàn hội-nghị chúng lại đã nói láo để chối tội rằng 'Mặt trận' này không do Đảng CSVN khai sinh ra tại Hà-nội, mà đó là một tổ chức hoàn toàn do nhân dân Nam bộ thành lập).
Mặt trận GPMN lúc bấy giờ chưa có trụ sở. Thành phần gồm có 100 người, trong đó thấy có khoảng 10 tên hiện có trong Bộ Chính-trị Đảng CSVN, số còn lại là những cá nhân thuộc dư đảng của các nhóm Giáo phái trong Nam (sau khi bị chính-phủ Ngô đình Diệm thanh toán năm 1955-56) thí-dụ như: Cao-đài, Hòa Hảo và Bình-xuyên. Ngoài ra còn phải cộng thêm con số khoảng 4,500 cán bộ tập kết, những tên cán bộ CS này vốn được sanh trưởng ở miền Nam; sau Hiệp-định Genève đã bị Bác và Đảng chuyển từ Nam ra Bắc 'huấn luyện' và sẽ được gửi trở lại miền Nam để xử dụng cho một mưu đồ trong tương lai (?).
Mặt Trận Giải Phóng MN, còn được gọi với cái tên là Việt-cộng - hay V.C.(Vietnamese communist).
Mặt Trận GPMN được thành lập vừa xong tại Hà-nội, lập tức Hồ Chí Minh và tập đoàn CSVN bắt đầu lợi dụng, khai triển thêm con đường mòn, chạy dọc theo biên giới Việt nam. Lào và Cam bốt; long trọng đặt tên là 'đường mòn Hồ chí Minh' và đã coi nó như một trục lộ giao thông huyết mạch để dễ dàng che mắt quốc-tế cho những vụ lén lút di chuyển bộ đội, vũ khí và lương thực vào trong Nam.
Với mưu đồ này, Đảng CSVN đã trực tiếp thúc đẩy chiến tranh tăng gia càng ngày càng trở nên khốc liệt. Số người tử vong và cường độ tàn phá quê-hương mỗi ngày một gia tăng trên cả hai miền Nam, Bắc.
Tết Mậu-thân 1968 - Đảng Cộng sản VN thảm sát đồng bào vô tội.
Theo các quan sát viên quốc-tế, sự 'tráo trở' của CSVN đã được ghi nhận trên mọi phương diện. Điển hình nhất là những vi phạm trong thời gian hưu chiến giữa đôi bên vào mỗi dịp lễ lớn trong năm, thí dụ Tết Nguyên-đán, ngày lễ cổ truyền cuả dân tộc.
Cuối tháng Giêng năm 1968 Dương-lịch, vào dịp Tết Mậu-thân, một lần nữa Đảng CSVN lại trắng trợn vi phạm tình trạng hưu chiến để phát khởi một cuộc tàn sát đẫm máu xẩy ra cho dân miền Nam trên khắp lãnh thổ Việt-nam Cộng-hòa.
Âm mưu này đã được chính Hồ chí Minh cùng tập đoàn Đảng CSVN thiết kế và điều nghiên kỹ càng trước khi được đem ra thi hành. Chúng còn đặt cho cái tên là "Cuộc tổng công kích" Têt Mậu-Thân năm 1968.
Nhận lệnh từ Trung ương Đảng bộ, đám cán bộ thuộc hạ tầng cơ sở lén lút di chuyển vũ khí cùng chất nổ vào những thị trấn tại miền Nam. Đồng thời thừa dịp đồng bào sửa soạn đón Tết, các tổ đặc công lợi dụng lúc đó xâm nhập vào thành phố, trà trộn và tiếp tay với đám CS nằm vùng để chờ đợi cơ hội thuận tiện hành động.
Cái mà bọn chúng gán tên là "Cuộc tổng công kích" đã bùng nổ khắp nơi lẫn lộn với tiếng pháo Giao-thừa, ngay trong lúc đồng bào ở miền Nam Tự-do long trọng đón Tết để mừng Xuân mới .
Thoạt tiên, tuy lợi dụng được yếu tố bất ngờ, khi bị bọn đặc công CS tấn công ngay trong giờ hưu chiến, nhưng lập tức mức độ giao tranh với những toán lính CS này đã bị quân lực VNCH và Đồng minh kiềm chế kịp thời. Kết quả là sau đó các tổ xâm nhập của chúng lần lượt bị thanh toán, một số tàn binh bộ đội còn sống sót đã tìm đường tháo chạ .
Bản tin được ghi nhận ngay sau khi phát hiện tiếng súng, tổng cộng có khoảng 25 đến 28 Thị xã hoặc Tỉnh thuộc quyền chính-phủ VNCH, bị bọn CS tấn công. Vì trận chiến xẩy ra bất ngờ, đã khiến có vài thị trấn bị chúng kiểm soát trong một hai ngày đầu, trước khi bị quân-đội VNCH và Đồng minh thanh toán và đẩy lui.
Riêng tại Sàigòn, thủ-đô của miền Nam Tự-do, con số địch xâm nhập ước tính được vào khoảng hơn 4000, gồm đặc công, cán bộ nằm vùng với sự có mặt của bộ đội CS theo sát yểm trợ.
Lực lượng địch, sau khi đột nhập vào thành-phố, đã tản mác mọi nơi. Chúng tin tưởng rằng nhờ sự tấn công đột ngột chúng sẽ chiếm cứ được tức khác những địa điểm trọng yếu như khu vực phi-trường Tân sơn Nhất, đài phát thanh, quận cảnh sát, các cơ quan hành chánh..v..v. Như mọi người đều biết, trong thời gian đầu, tuy nắm được yếu tố bất ngờ nhưng bọn đặc công CS thiếu mất sự liên lạc mật thiết nên ngay từ lúc đặt chân trên đường phố, toán xâm nhập đã trở thành những đám mù không kẻ dẫn đường. Chúng đã không thể thực hiện được những điều học tập, cùng những gì do chỉ thị cấp Trung ương Đảng đưa xuống, Rút cuộc bị truy lùng, hầu hết đã tháo chạy, núp vào những nhà dân để kiếm lương thực và đã cầm cự lại với quân chính-phủ một cách tuyệt vọng.
Trong đợt đầu của cuộc 'Tổng công kích' vào Sàigòn, đặc biệt có một toán gồm '20 đặc-cõng cảm-tử' tấn công vào tòa đại-sứ Hoa-kỳ trên đường Tống-Nhất. Nhưng sau đó khoảng vài giờ đồng, bọn chúng đã bị đơn vị giữ an ninh tòa Đại-sứ thanh toán hết trọn ổ.
Khi nhắc tới cái gọi là "Tổng công kích Tết Mậu-thân" năm 1968, không kể những người Việt, từ Nam chí Bắc, mà ngay cả quốc-tế, không ai là không hình dung ra cuộc thảm sát đồng bào tại Huế; mà Đảng CSVN đã hãnh diện cho đó là một trong những "chiến thắng Mùa Xuân" vẻ vang của chúng.
Vì lý do địa thế và cách cấu trúc đặc biệt của một thành phố cổ kính, gồm những di tích lịch-sử quí giá cần phải được bảo trọng, nên Huế là một địa điềm giải tỏa khó khăn và tương đối lâu nhất của quân lực VNCH. Lợi dụng thời cơ này, bọn CSVN mới có dịp thi hành cái dã tâm khát máu mà từ trước đến giờ chúng đã được tôi luyện dưới chủ nghĩa Mác Lê.
Suốt thời gian Huế bị chiếm cứ và vẫn còn đang trong tình trạng giao tranh, bọn CS xâm nhập vẫn cố thực hiện cho được 'cái đường lối ' của Bác Hồ: "Thà giết lầm người chứ không hề tha lầm người".
Trước hết bọn cán bộ CS chia ra từng khu vực do chúng chiếm được, lùa dân tập họp để chia ra từng thành phần cho dễ bề kiểm soát. Thường dân được tổ chức thành các tổ dân sự, tiếp tục được sinh hoạt với đời sống hàng ngày nhưng phải luôn luôn tuân hành từng chỉ thị của chúng. Kế tiếp chúng kiểm soát từng nhà gom lấy tất cả các radio, nhằm cắt đứt những hệ thống truyền thanh của chính-phủ Sài-gòn. Sau khi đã tịch thu được các máy phát thanh (Tức là dân chúng tại Huế hoàn toàn bị CS che mất con mắt, bịt mất lỗ tai), bọn bộ đội xâm nhập mới phao tin là "toàn tỉnh Thừa-thiên cũng như khắp miền Nam đã hoàn toàn bị chúng (CSVN) kiểm soát".
Mưu toan kế tiếp, chúng kêu gọi những thành phần liên hệ đến chính quyền quốc-gia, thí dụ như: công chức, cảnh-sát và các quân nhân; đem nộp tất cả những vũ khí nếu có, và trở về nhiệm sở làm việc để được hưởng sự khoan hồng của Đảng nhà nước. Những ai không tuân hành lệnh này sẽ bị trừng phạt nghiêm ngặt. Tất cả những thành phần kể trên, sau khi trình diện và làm theo ý của chúng đều đã được hai ngày tự do ở nhà. để chờ đợi nhận chỉ thị mới.
Thái độ này làm cho người dân Huế nghi ngờ CSVN đang che dấu một âm mưu gì đó?
Giai đoạn chót, thứ ba, sau buổi học tập chính-trị, bọn cán bộ CS tiếp tục gọi từng người (những ngưòi dân Huế được thả về) đến gặp lại chúng để "làm việc" tiếp. Trong số người được "mời làm việc" lần này đã có kẻ không thấy trở về mà thậm chí cũng kể từ đó không hề được nhắc nhở tới nữa. Căn cứ vào những lời kê khai, bọn đặc công CS xâm nhập đã đem những nạn nhân này đi thủ tiêu và đã vùi sác ở một nơi nào đó thuộc vùng ngoại ô Huế. Do đó con số người dân Thừa -thiên bị bắt rồi mất tích càng ngày càng gia tăng, cho đến khi thành-phố Huế được giải tỏa.
Sau này, một số ít người được sống sót, đã chứng kiến cuộc thảm sát, tiết lộ rằng: những nạn nhân trước hết đuợc lệnh đào những hầm và hố, mà bọn CS nói là dùng để núp tránh bom. Nhưng ngay đêm đó chúng đã dùng những hố hầm này để chôn chính xác những người đã đào ra lúc ban ngày. Chúng bắt dân xếp hàng trên miệng hố rồi dùng tiểu liên bắn chết hàng loạt; xác nạn nhân lập tức bị vùi thây ngay xuống hố đó.
Những xác người bị hành quyết, sau này đã được thân nhân khai quật lên trong những mồ chôn tập thể, lần lượt tìm thấy ở rải rác khắp nơi. Một vài địa điểm chính được ghi nhận là khu Gia-hội, khu chùa Tăng Quảng Tự, khu bãi Đậu (?); có khoảng 30 hầm. Khu vực trong lăng Vua Tự-đức kiếm ra được 20 hầm, v...v... Kết quả là những xác được phát hiện đã không còn nguyên vẹn. Có rất nhiều xác bị mất đầu hoặc thiếu tay, chân. Có những xác còn bị trói chặt hai tay, trói phía trước hoặc quặt ra sau lưng. Vì sự kiện đã chỉ xẩy ra trong thời gian ngắn, da thịt chưa thể tan rữa được ngay, nên hầu hết trên nét mặt các nạn nhân vẫn còn giữ nguyên vẻ sợ hãi, biểu lộ nỗi kinh hoàng tột độ, trong lúc bị bọn cán bộ CS hành quyết chôn sống.
Sau khi Huế được phục hồi, con số đã kiểm nhận khoảng hơn 4000 gia-đình có thân nhân bị bắt và đem đi "mất tích". Có nhiều gia-đình đã bị bọn CS bắt đi mất từ hai đến ba người. Do đó con số chính thức người dân Thừa-thiên bị hạ sát, hoặc mất tích trong dịp này đã được tổng liệt kê lên tới 5800 nạn nhân.
Hơn thế nữa trong cuộc khai quật những mồ chôn tập thể, người ta còn tìm ra được xác của 4 vị ân nhân ngoại quốc bị trói ké vào nhau, được vùi sâu dưới cùng một cái hố trong sân của ngôi chùa. Đó là 4 vị Tiến-sĩ, Thạc-sĩ Y-khoa người Đức, lúc đó hiện đang làm việc trong các Bệnh-viện thuộc tỉnh Thừa-thiên và còn là những Giáo-sư đang giảng giậy tại Trường Y-Khoa Huế.
Cuộc 'thảm sát tập thể' những người dân vô tội ở miền nam dưới vĩ-tuyến thứ 17 của cái gọi là "Tổng công kích" Tết Mậu-thân năm 1968, do Tập đoàn CSVN: Hồ chí Minh và Trung ương Đảng gây nên, nói chung đã không có ngòi bút nào diễn tả được cho hết cái thảm trạng đau thương này. Đảng viên CS đã thực thi đúng đường lối của Bác và Đảng là : "Giết lầm còn hơn là thả lầm"; cho nên hành động giết người bừa bãi của đám thuộc hạ cán binh CS trong cuộc "Tổng công kích" chỉ là một lối thi hành "đúng đắn" chỉ thị của cấp Trung ương Đảng ban hành.
Tháng Tư Đen năm 1975- CSVN trút hết hận thù:
Bị thất bại hoàn toàn sau cả 3 đợt "Tổng công kích" sau biến cố Tết Mậu-thân - 1968, tập đoàn Đảng CSVN lại xoay qua đường lối chính-trị, đề cập đến chuyện hòa đàm.
Suốt thời gian này, tính ra cho đến khi được chấm dứt bằng một hiệp-định Ba Lê, năm 1973 (!); Cộng sản VN tiếp tục bắt lính để đổ thêm quân vào chiến trường miền Nam, Lào và Cam-bốt. Do đó không ai ngạc nhiên khi nhìn thấy đám cán binh CS "nón cối, dép dâu" bị bỏ thây hoặc bị bắt làm tù binh chỉ cỡ chừng 15 tới 17 tuổi. Vào lứa tuổi này, sau khi được cha mẹ sinh ra, lớn lên tại miền Bắc chỉ nhìn thấy trước mắt có một "Trường sơn Đông và Trường sơn Tây"; Nơi đó chúng đã bị che mắt bởi cái hào quang sáng chói ở tận cùng 'con đường mang tên Bác' là "Đường mòn Hồ chí Minh". Tại nơi đó đã được treo sãn cái khẩu hiệu: Sinh Bắc Tử Nam để 'khích động' lợi dụng tuổi trẻ VN, vừa phô trương thêm cái ân huệ của Bác và Đảng. Hơn thế nữa, nó còn trói buộc đám 'cháu ngoan Bác Hồ' như một lời cam kết, hay là môt bản án tử hình 'một đi không trở về'; hầu giúp tập đoàn CSVN thực hiện cái dã tâm của chúng là thôn tính trọn miền Nam.
Một năm sau, kế tiếp tấn thảm kịch Tết Mậu-thân, Chủ-tịch Đảng Cộng sản VN, Hồ chí Minh đã từ trần (3-9-1969).
Tuy nhiên cho dù bất cứ cán bộ nào thuộc cấp Trung ương Đảng bộ, có kế tiếp chức vị; cũng chỉ được coi là một công cụ, nhắm mắt thừa hành những kế hoạch, chỉ tiêu đã được Hồ chí Minh và tập đoàn Đảng CSVN vạch ra sẵn từ trước.
Vì thế sau khi Lê-Duẩn (xuất thân từ một công nhân hỏa xa trước kia) được cử thay thế 'Bác Hồ', thì mọi chuyện xẩy ra tại miền Bắc VN cũng như tại bàn hội-nghị ở Ba Lê vẫn không có gì thay đổi; Vẫn trong tình trạng "Bình cũ, rượu cũ". Lê đức Thọ, đại diện cho phía CSVN, vẫn tiếp tục cái 'thủ đoạn tráo trở' cố hữu để đối chất.
Hễ là "Cuội" thì ở thời nào, hay nơi nào cũng vẫn là "Cuội". Do đó cái hình thức nói láo đối với "cuội" Lê đức Thọ vẫn đuợc coi chỉ là bổn cũ soạn lại; vì thế họ Lê thêm một lần nữa đã đem ra áp dụng để 'mặc cả' trong cuộc hoa đàm (?).
Trong suốt thời gian nghị hội, quan sát viên quốc-tế đã ghi nhận được sự có mặt tại miền Nam dưới vĩ tuyến thứ 17 của 150,000 cán binh CSVN, cộng thêm 'Tăng' yểm trợ cùng với đầy đủ vũ khí và đạn dược.
Lợi dụng phía Hoa-kỳ, Kissinger và Nixon đang bị rối trí bởi sự khủng hoảng trầm trọng của tình hình chính-trị nội bộ; Họ Lê cố đánh lạc hướng dư luận, trắng trợn phủ nhận sự có mặt của quân chính qui CS Bắc việt, đâ đổ thừa là lực lượng này thuộc MTGP của miền Nam, có nghĩa là Việt-cộng. Hoa-kỳ lúc đó đã không còn đủ kiên nhẫn để kéo dài thêm cuộc bàn cãi đành tự cam nhận một cuộc rút quân 'đơn phương'; mà phần chính đã đem lại thất lợi cho phía chính-phủ VNCH.
Do quyết định lép vế của Mỹ, đã khiến việc "rút quân song phương", một điều khoản ấn định cho cả quân CS Bắc việt (và Lực lượng quân đội đồng-minh) đã không được nghiêm chỉnh ghi vào trong hiệp-định thư. Đó là một yếu tố rất quan trọng, khiến đã mở đường cho quân CSVN xâm chiếm miền Nam tự-do trong vòng hai năm, sau khi hiệp-định Ba Lê ký kết.
Người dân Việt, trên cả hai miền Bắc và Nam, từng học được kinh nghiệm về những âm mưu xảo trá của tập đoàn CSVN, kể cả trong quá khứ lẫn hiện tại; kết quả họ đã không ngần ngại hy-sinh tính mạng, bỏ nước ra đi tìm tự-do ngay sau khi chúng vi phạm hiệp-định, xâm lăng miền Nam vào thời điểm ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Trong số hầu hết những người còn kẹt ở lại sau "cái ngày đại thắng" của tập đoàn CS miền Bắc, không phải là họ không muốn đi, mà vì không có cơ hội để thoát khỏi cái 'chế độ' được mệnh danh là "thiên đường Cộng sản".
Tổng cộng số những người Việt-nam, buộc phải bỏ nơi chôn nhau cắt rốn ra đi tìm tự-do, tính ra có tới vài triệu người. Hiện nay họ đã được định cư tại các quốc-gia không cộng sản trên khắp thế-giới. Đó là chưa kể đến tổng số hơn 700,000 xác những thuyền nhân vô tội đã bị vùi chôn trong đại-dương (Con số được ghi nhận từ những năm1978 đến 1982, do thống kê của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên-Hiệp-Quốc).
Kết quả sau những biến cố đau thương xẩy ra cho đất nước, cả miền Bắc lẫn miền Nam đều cùng chung một số phận.
Trước tiên phong trào Di-cư vào miền Nam năm 1954, và thêm một lần nữa cuộc Di-tản rầm rộ xẩy ra sau Tháng Tư "Đen" năm1975; đã đem đi hầu hết 'chất xám' của cả hai miền, những thành phần được coi là ưu tú của đất nước. Đấy là chưa kể đến những khối óc, hiển nhiên là 'cao cấp' hơn những cái 'gáo dừa' thuộc giới "đỉnh cao trí tuệ" của CS Bấc việt; đó là số nhân lực của 200,000 đến 300,000 "lính Ngụy" được chúng xếp vào loại "tù nhân cải tạo", gồm hết thẩy nhân viên thuộc quân-cán-chính của Chính-phủ VNCH.
Chủ-tịch Đảng CSVN, một lần nữa lại phải cầu cạnh Nga sô và Trung cộng tức tốc 'viện trợ' chuyên viên cho kịp thời trám chỗ vào cái thành phần nhân lực thiếu hụt đã lên đường di-tản.
Suốt 10 năm tiếp theo kể từ sau biến cố 1975, đời sống của nhân dân trong nước bị thiếu thốn khổ cực.
Lúc bấy giờ người dân Việt nam mới vỡ lẽ rằng chỉ thấy ở "Thiên đường Cộng sản" mới có những thứ tạm được liệt kê sau đây:
Bo bo, khoai sắn ăn thay cơm gạo; Quần áo cấp phát một năm hai bộ cho mỗi người; Dân bị tịch thu nhà cửa và bị lùa đi vùng kinh tế mới; Đồng bào bị Đảng CS lột hết của cải vì chiến dịch "Tư sản mại bản"; "Kiểm kê tài sản"; Ăn cắp của dân bằng chính sách "Đổi tiền" nhiều lần; Dân chúng bị bắt lao động tối đa theo tiêu chuẩn "làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm"; Đời sống nhân dân không được yên ổn vì bị công-an CS, cấp Phường, Khóm ngày đêm theo dõi để kiểm soát và hạch tội v...v...
Hiển nhiên, ngay trong cuối thế-kỷ thứ 20, Đảng CSVN vẫn còn giữ cái dã tâm bóc lột nhân dân, cố thực hiện cho được đường lối "Vô sản chuyên chính", đã có từ mấu chục năm trước của chủ thuyết Mác-Lê. Đấy là chưa kể thêm đến cái gánh nặng phải cung cấp cho hơn 180,000 khẩu phần; con số cán binh bộ-đội CS hiện đang có mặt tại chiến trường Cam Bốt, cộng thêm vài chục ngàn quân tại Lào; Với ý đồ thôn tính nước láng giềng, mộng làm bá chủ vùng Đông Nam Á Châu (!).
Giữa lúc phải đối phó với tình trạng kinh kế kiệt quệ trong nước, thì chiến tranh lại bùng nổ với Trung cộng tại vùng biên giới Trung, Việt phía các tỉnh Cao-bằng, Lạng-sơn v...v... Vào cuối năm 1979, nước đàn anh cộng-sản tung quân đánh dằn mặt, đánh cảnh cáo đàn em tại phương Nam để ngăn chặn mưu toan xâm chiếm Cam Bốt của tập đoàn CSVN. Kết quả sau khi giàn xếp với Trung cộng, CSVN cam kết rút quân khỏi Cam bốt và phải nhắm mắt ký nhượng cho đàn anh Cộng sản một phần đất đai của tiền nhân để lại, gồm khoảng 720 cây số vuông vùng biên giới phía bắc Việt nam ; chưa kể là sau đó Đảng nhà nước lại dâng thêm cho Trung cộng 12,000 cây số diện tích bờ biển.
Hiện nay trên diễn đàn truyền thông Việt nam, ở trong nước và hải ngoại, đã tường thuật đầy đủ và rõ ràng các vụ lấn chiếm đất đai và bờ biển của Trung cộng.
Người Việt chúng ta, phải tìm đọc cho được những tài liệu này, để biết rõ những phản ứng và thái độ hèn nhát của tập đoàn CSVN, về việc bảo vệ chủ quyền biên giới của nước Việt nam trên cả hai mặt địa phận và hải phận.
Thay phần Kết luận:
Kết quả của kỳ Đại-hội Đảng, Nguyễn văn Linh được đề cử với chức vụ Tổng Thư-ký Đảng CSVN (1986-1991); tiếp theo đúng cái thời điểm thảm hại nhất của nền kinh tế tại Việt nam; còn được gọi là "Kinh tế chỉ huy bao cấp Nhà nước" (đi đôi với 'chế độ Độc-tài-khép-kín'), chỉ xẩy ra từ những năm sau khi miền Nam 'được' CS miền Bắc giải phóng (!).
Đấy cũng là do sáng kiến của "Chủ thuyết Mác Lê và tư tưởng Hồ chí Minh", cũng như cần phải nhấn mạnh thêm nạn tham nhũng 'cao độ' của các cán bộ nhà nước CSVN; Đã khiến nhân dân 'được' sống trong tình cảnh rách rưới và đói khát trầm trọng, không thua gì cái thảm trạng của nạn đói năm Ất-dậu, 1945 (!) ở miền Bắc.
Nguyễn văn Linh tuy là người Bắc, nhưng có một thời may mắn được nắm giữ chức vụ quan trọng trong MTGP Miền Nam, cho nên đã nhìn được rõ cái thực chất ở cả hai miền của đất nước.
Do sự khác biệt của chế độ, do sự khác biệt về kinh-tế và địa-dư, cộng thêm dân tình cởi mở trong một cuộc sống tạm ổn định của miền Nam tự-do. Mọi người dân được tự do buôn bán, được quyền dành dụm, thụ hưởng quyền tư-hữu mà không hề phải khai báo, để chính-phủ dễ bề kiểm kê tài sản (!) v...v... Sự kiện này hoàn toàn trái ngược hẳn với miền Bắc (và miền Nam sau 1975), nơi mà đồng bào bị uốn nắn cả hàng mấy chục năm trời dưới chế độ Độc tài CS. Ở cái nơi chốn "Thiên đuờng Cộng sản" đó, nhân dân đã hiển nhiên trở thành những con người máy với đầu óc u mê, trong cuộc sống thiếu thốn, lam lũ. Vì thế, con người dưới chế độ Độc tài CS chỉ được coi như là một công cụ cho Đảng và tập đoàn lãnh-đạo nhà nước xử dụng.và bóc lột.
Cũng kể từ sau lần Đại-hội Đảng Kỳ 6, tuy không được chính thức nghe nhà cầm quyền CSVN thú nhận, nhưng tại Việt nam đã có cái màn "cởi mở" (qua cái chính sách 'độc tài cởi mở'); đã khởi đầu phát hiện cho "quyền tư hữu" ( hình thức kinh-tế tư bản); một quyền lợi căn bản của người dân, chỉ được thấy xuất hiện và chấp nhận ở những nước không cộng sản.
Chuyện chưa hề bị tiết lộ vào thời kỳ tiền Đại hội:
Trước kỳ Đại hội Đảng CSVN nhóm họp lần thứ 6, một buổi chiều sau giờ làm việc, Nguyễn văn Linh thả bộ về nhà, cốt ý cho thư giãn những lo âu đã chất chứa trong lòng từ lâu mà không biết phải 'giải tỏa' ra sao (?) trong kỳ đại-hội sắp tới.
Trời Hà-nội vào lúc choạng vạng tối, lại hơi có gió to. Đang lúc tình cờ họ Nguyễn đi ngang qua Đền Quan Thánh thì bỗng dưng có một luồng gió mạnh thổi qua khiến chiếc mũ phớt đang đội bị bay xuống đất. Họ Nguyễn thản nhiên cúi xuống nhặt lên đội lại vào đầu; xui khiến sao lúc đó vị Thần coi Đền chợt nhìn ra ngoài, bắt gặp bèn lấy làm hài lòng. Thần nhủ thầm trong bụng :
- " A tốt, tốt ! Cái tên này xem ra cũng khá! Có lễ phép. Có lễ phép. Coi bộ nó cũng còn tin tưởng có Thần Linh (chứ không phải là 'vô thần'). Chẳng bù cho những tên như Hồ chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn...Hết thẩy đều là đồ vô loại - 'vô thần'-."
Nghĩ đến đây, Thần Đền mới quyết định phán tiếp:
- " Thôi được, ta sẽ khai thông trí óc cho cái tên họ Nguyễn này để hắn ít ra cũng phân biệt được điều hay lẽ phải, để có dịp giúp nuớc nhà tiến bộ; Chứ không u mê như cái đám đồng bọn quỉ sứ của hắn".
Khi về đến nhà, Nguyễn văn Linh thấy tinh thần được thơ thới, nhẹ nhõm. Bên trong đầu óc hắn như vừa được có một ánh chớp loé sáng, khiến họ Nguyễn cảm thấy dường như đang bị một hối thúc 'vô hình' là phải hành động, muốn 'phun ngay ra' những điều vừa nghĩ được; mà từ trước đến giờ hầu như chưa có một tên cán bộ nào trong tập đoàn lãnh đạo Đảng CS dám thốt ra. Đó là "Nhân dân tự-do hơn thì Đất nước phát triển hơn"; cho nên phải khẩn trương cải tổ toàn bộ, hoặc nếu không là, Chế độ Cộng sản, sẽ chết !".
CVA Nguyễn Ngọc Tùng
Trở về đầu trang |