Như quý độc giả đồng hương Việt Nam đã biết, ngày 2 tháng 12 năm 2007 vừa qua, Quốc Vụ Viện, tức quốc hội Trung Quốc, đã phê chuẩn việc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để trực tiếp quản lý ba quần đảo: Hoàng Sa, Trung Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa), trong đó có hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam. Đây là một hành động xâm lăng trắng trợn lãnh thổ Việt Nam bằng một quyết định pháp lý hành chánh đơn phương của nhà cầm quyền Trung Quốc.
Đứng trước hành động xâm lăng trắng trợn này của Trung Quốc, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã chỉ phản ứng yếu ớt qua lời tuyên bố của Lê Dũng, người phát ngôn của Bộ Ngọai Giao Cộng sản Việt Nam, rằng "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa". Và rằng "Hành động này đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, không phù hợp với nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước, không có lợi cho tiến trình đàm phán tìm kiếm biện pháp cơ bản, lâu dài cho vấn đề trên biển giữa hai bên".
Bất bình trước phản ứng yếu ớt này và phẫn nộ trước hành động xâm lăng trắng trợn lãnh thổ lãnh hải Việt Nam của nhà cầm quyền Trung Quốc, ngày Chủ nhật mùng 9 tháng 12 tuần qua, hàng trăm sinh viên và các giới đồng bào trong nước đã tự phát biểu tình trước Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội và Lãnh sự Quán Trung quốc tại Sài gòn để phản đối. Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam không hổ trợ mà còn tìm cách ngăn cản các cuộc biểu tình thể hiện lòng yêu nước này, vì sợ phật lòng Trung Quốc. Đồng thời, tại các cộng đồng Việt Nam ở Hoa Kỳ cũng như khắp nơi tại hải ngọai, bằng nhiều hình thức thích hợp, đã đồng lọat lên tiếng phản đối và tố cáo Trung Quốc thôn tính lãnh thổ lãnh hải Hòang Sa và Trường Sa của Việt Nam, là nằm trong chủ trương xâm lăng từng bước Việt Nam nói riêng và các nước nhỏ yếu trong vùng nói chung, để mở mang bờ cõi, thực hiện chủ nghĩa đại hán của mình. Và do đó đây không phải là hành động xâm lăng đầu tiên và cũng chưa phải là hành đồng xâm lăng cuối cùng của tập đòan “Đại Hán” ở Bắc Kinh.
Thực vậy, Ngày 19 tháng 1 năm 1974, hải quân Trung Quốc đã cưỡng chiếm quần đảo Hoàng sa thuộc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa thời bấy giờ. Trong trận hải chiến không cân sức này, lực lượng hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng chiến đấu với 58 người đã hy sinh, trong đó có cố Trung Tá Hạm Trưởng anh hùng Nguyễn Văn Thà đã anh dũng chiến đấu và hy sinh. Ngày 14 tháng 3 năm 1988, hải quân Trung Quốc lại cưỡng chiếm quần đảo Trường Sa. Trong trận hải chiến này cũng đã có 74 binh sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam hy sinh sau những giờ phút chiến đấu dũng cảm. Một tháng sau, ngày 14 tháng 4 năm 1988, Trung Quốc tuyên bố sát nhập hai quần đảo Trường sa và Hoàng sa vào tỉnh Hải Nam. Đầu năm 2000, Trung Quốc đã đặt quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa cùng với quần đảo Trung Sa nằm gần Phi Luật Tân, thành một cấp gọi là biện sự xứ (tương đương cấp huyện) với tên gọi chính thức là Tây Nam Trung Sa quần đảo biện sự xứ thuộc tỉnh Hải Nam. Ngày 2 tháng 12 năm 2007, nhà cầm quyền Trung Quốc đã chính thức cho thành lập thành phố Tân Sa, nhằm trực tiếp quản lý các quần đảo trên Biển đông, trong đó có hai quần đảo Trường sa và Hoàng sa của Việt Nam
Như mọi người đều biết, quần đảo Hòang Sa và Trường Sa của Việt Nam từ năm 1956 đã nằm trong vòng tranh chấp không riêng gì với Trung Quốc, mà còn với một số nước khác trong vùng như Đài Loan, Phi luật Tân. . .Các nước tranh chấp đã có thỏa thuận chung là sẽ tự chế, để cùng nhau giải quyết một cách hòa bình. Thế nhưng, ngày 4 tháng 9 năm 1958, Bắc Kinh đã đơn phương ra tuyên bố quyết định về hải phận của Trung Quốc là 12 hải lý, có nghĩa là trong đó có quần đảo Hòang Sa và Trường Sa của Việt Nam. Vậy mà Phạm Văn Đồng, Thủ tướng cái gọi là chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Miền Bắc lúc đó, do vai trò công cụ, hòan tòan lệ thuộc Trung cộng trong cuộc chiến thôn tính Miền Nam, phải làm nhiệm vụ quốc tế mở rộng bờ cõi cho đế quốc cộng sản trong thời kỳ chiến tranh Ý Thức Hệ, dường như Phạm Văn Đồng đã sống trong ảo tưởng về một thế giới đại đồng, không còn biên giới quốc gia, nên đã mau mắn gửi văn thư ngày 14-9-1958 "ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của chính phủ Trung Quốc, quyết định về hải phận Trung Quốc".
Đây có thể coi là văn kiện mở đầu một quá trình bán nước của tập đòan lãnh đạo Cộng Đảng Việt Nam, tiếp tay cho ý đồ xâm lăng mở mang bờ cõi của tập đòan lãnh đạo Bắc Kinh. Vì sau đó, năm 2000 nhà cầm quyền Hà Nội lại đã ký với Trung Cộng Hiệp ước bán nước khác là Hiệp Ước Về Biên Giới, để hợp thức hóa những phần đất (Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc.. .) mà Trung Cộng đã lấn chiếm trong cuộc xua quân qua các tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam vào năm 1979, mà Đặng Tiểu Bình lúc đó nói là "để dậy cho Việt Nam một bài học" vì đã xua quân tấn công Khmer Đỏ công cụ của Trung Cộng, xâm chiếm Campuchia. Năm 2001, lại ký Hiệp Ước Về Vịnh Bắc Bộ, nhượng cho Trung Cộng một phần lãnh hải. Vào thời điểm ký hai Hiệp Ước Bán đất nhượng biển này cho Trung Cộng, Việt Cộng đã bị một cao trào nhân dân trong nước và Người Việt hải ngọai tố cáo và phản đối mạnh mẽ như thế nào, chắc mọi người còn nhớ.
Trong khi đó, chính quyền quốc gia ở Miền Nam Việt Nam, một chính quyền chính danh kế tục quyền lực cai trị theo truyền thống quốc gia, sau khi giành được chủ quyền độc lập từ tay thực dân Pháp, đã luôn giữ vững chủ quyền của một quốc gia độc lập, bảo vệ sự tòan vẹn lãnh thổ cho Tổ Quốc Việt Nam. Điển hình là vào ngày 19 tháng Giêng năm 1974, khi hải quân Trung Quốc cưỡng chiếm quần đảo Hòang Sa do hải quân Việt Nam Cộng Hòa trấn giữ. Các chiến sĩ hải quân VNCH đã anh dũng chiến đấu ra sao, hẳn nhiều người còn nhớ, cùng với cái chết anh hùng của cố Trung Tá hạm Trưởng Nguyễn Văn Thà. Ngay sau đó, Bộ Ngọai Giao Việt Nam Cộng Hòa đã lên tiếng phản đối và tố cáo Trung Cộng xâm lăng kèm theo một cuốn Bạch Thư được công bố và phổ biến khắp thế giới dưới nhan đề Anh ngữ là "White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands" -Bạch-thư này tuy chỉ là một tập tài-liệu ngắn gọn khỏang 105 trang, nhưng thực-sự là một tài-liệu căn-bản khá đầy-đủ và hơn nữa, trình-bày rất rõ-ràng các yếu-tố pháp-lý, lịch-sử về chủ-quyền Việt-Nam trên hai quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa. Tiếc rằng, thế giới đã làm ngơ, Liên Hiệp Quốc và các cường quốc kể cả Hoa Kỳ lúc đó cũng hòan tòan yên lặng ví quyền lợi riên tư của họ. Điều này cho thấy, mọi vấn đề liên quan đến quyền lợi quốc gia, vận mệnh dân tộc, chỉ có thể giải quyết dựa trên sức mình là chính. Vì mọi quan hệ trong bang giao quốc tế đều đặt trên nền tảng quyển lợi của quốc gia.
Đến đây, vấn đề đặt ra cho tòan thể con dân nước Việt, trong cũng như ngòai nước, là ngòai những phản ứng tức thời và cần thiết như biểu tình, ra tuyên ngôn, tuyên cáo tố cáo Trung Cộng trước công luận quốc tế để phủ định và bầy tỏ thái độ quyết liệt chống lại cuộc xâm chiếm hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa của Việt Nam, chúng ta phải làm gì và cần làm như thế nào cho có hiệu quả để đòi lại chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải đã bị Trung Cộng ỷ thế nước lớn ngang nhiên chiếm đọat; đồng thời, chặn đứng cuồng vọng xâm lăng, bành trướng lãnh thổ của tập đòan lãnh đạo Bắc Kinh.
Tất nhiên, đây là vấn đề khó khăn và phức tạp, nhưng dù khó khăn và phức tạp cách mấy, chúng ta vẫn có giải đề. Một giải đề sẽ hình thành từ sự đòan kết, thống nhất ý chí và hành động, từ sự tập trung lực lượng và trí tuệ của hơn 80 triệu dân Việt trong nước và khỏang 4-5 triệu người Việt khắp nơi ở hải ngọai. Nhưng muốn có được sự tập hợp các nhân tố cho giải đề này, đất nước ta phải có được chế độ dân chủ đa nguyên, với một chính quyền thực sự của dân, do dân và đặt quyền lợi đất nước và dân tộc là tối thượng. Vì vậy điều tiên quyết vẫn phải là lọai trừ cho được, một chính quyền có thành tích bán nước, độc quyền thống trị là đảng Cộng sản Việt Nam, từ quá khứ đến hiện tại luôn là công cụ đắc lực cho ngọai bang, hết công cụ Nga- Tầu đến công cụ cho tư bản nước ngọài, lại luôn đặt quyền lợi của Đảng Cộng Sản Việt Nam trên quyền lợi đất nước và dân tộc, thì làm sao giữ vững được chủ quyền, bảo vệ được sự tòan vẹn lãnh thổ cho Tổ Quốc Việt Nam. Giải đề của chúng ta như vậy cần có thời gian chuẩn bị cho những điều kiện ắt có và đủ.
Trong thời gian chờ đợi một giải đề tòan diện và tối ưu có được do sự tập trung lực lượng, ý chí và trí tuệ của con dân Nước Việt trong cũng như ngòai nước, xin được đưa ra một số gợi ý về một giải pháp tương lai cho vấn đề như sau :
1/- Một là, trong thời gian tới, con dân Nước Việt trong và ngòai nước cần liên kết đấu tranh dưới mọi hình thức ôn hòa, bất bạo động nhưng quyết liệt và hiệu quả, để đẩy nhanh tiến trình tiêu vong chế độc độc tài, độc tôn và độc quyền tòan trị Cộng sản Việt Nam, dân chủ hóa đất nước càng sớm càng tốt. Vì đây là kẻ nội thù, đã tạo tiền đề cho Trung Cộng xâm lăng lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam, đã đưa đất nước đến yếu hèn, phải dựa vào ngọai bang, nhất là Trung Cộng để duy trì quyền thống trị và quyền lợi của tập đòan CSVN, nên đã luôn luôn phải nhượng bộ, đánh mất chủ quyền quốc gia, dâng đất dâng biển của tổ quốc cho Trung Cộng.
2/- Hai là, các lực lượng quốc Gia, Dân Tộc Dân Chủ trong và ngòai nước, vốn đóng vai trò lãnh đạo đấu tranh cho mục tiêu dân chủ hóa đất nước, cần liên kết thống nhất hành động đấu tranh cho mục tiêu chung, cùng nhau họach địch kế sách tòan diện để xây dựng một chế độ dân chủ đa nguyên ổn định trong thời kỳ chuyển tiếp sau khi chế độ độc tài tòan trị CS hiện nay tiêu vong, và sau đó là làm sao cho đất nước phát triển tòan diện, ổn định, cân đối,đến cường thịnh và văn minh tiên bộ, để trở thành một cường quốc có ảnh hưởng trên bàn cờ chính trị thế giới.
Một khi dân giầu, nước mạnh và trở thành cường quốc có ảnh hưởng trên trường quốc tế, chúng ta mới có đủ thế và lực đòi lại các phần lãnh thổ, lãnh hải đã bị ngọai bang xâm chiếm, có thể không phải cần đến một giải pháp quân sự, mà bằng giải pháp chính trị, ngọai giao và pháp lý quốc tế. Vì ngày nào dất nước Việt Nam của chúng ta còn nghèo yếu, mọi giải pháp chính trị, ngọai giao hay pháp lý quốc tế đều không có hiệu quả.
Chẳng hạn, nếu chúng ta đưa vụ việc ra truớc Tòa án Quốc Tế nhờ phân xử lúc này, dù chúng ta có đầy đủ bằng chứng lịch sử, pháp lý, hành chánh và thực tế khả tín, nhưng trong điều kiện một nước nghèo yếu, cũng khó được quốc tế, cụ thể là các cường quốc có ảnh hưởng quan tâm hổ trợ, cho ta thắng kiện đã khó mà đem thi hành phán quyết giả dụ như ta có thắng, lại càng khó hơn.
Thực tế, việc tranh chấp chủ quyển đảo Faulkland giữa Anh Quốc và Arhentina kéo dài hàng thế kỷ qua, đã từng đưa đến xung đột quân sự năm 1986, cuối cùng vẫn là thuộc địa của đế quốc Anh, có lẽ là một bài học đáng cho chúng ta suy nghĩ để cùng phấn đấu làm cho đất nước có dân chủ và giầu mạnh, để có thế và lực đủ lôi kéo các thế lực quốc tế hổ trợ cho giải pháp đem lại thắng lợi cho mình.
Việc các nước lớn, đông dân nghèo như Ấn Độ, Pakistan, dù nước không giầu, dân còn nghèo đói, nhưng đã cố gắng đổ tiền của chế tạo cho được bom nguyên tử để trở thành một nước mạnh vì có vũ khí hạt nhân, hiển nhiên cũng làm cho tham vọng xâm lấn đất đại của nước láng giềng Trung Cộng bị khựng lại; cũng là bài học cho ta suy nghĩ trong ý hướng tạo được thế và lực hùng mạnh cho quốc gia, để tạo thế đứng có ảnh hưởng trên trường quốc tế, để không bị anh láng giềng khổng lồ Trung Cộng, xấu bụng và đầy tham vọng bắt nạt. Điếu này cũng giúp chúng ta hiểu và thông cảm được với chính sách “Hù dọa” theo kiểu“chén sành đổi chén kiểu” của trùm cộng sản Bắc Hàn Kim Chính Nhật, khi cố tình bỏ mặc dân chết đói, cố gắng làm cho được hỏa tiễn, bom nguyên tử, để mà cả với Mỹ và các nước giầu, để cuối cùng “sợ thằng liều trên răng dưới khố”, Mỹ và các cường quốc đành phải đổ của viện trợ cho Bắc Hàn để đối lấy sự an tòan trong nền “Trật Tự Quốc Tế Mới” mà các cường quốc cực muốn sắp đặt. Dường như Iran cũng có chung một sách lược tìm thế và lực để chống lại các thế lực bên ngòai muốn khuynh đảo họ, bằng nỗ lực chế bom nguyên tử.
Có điều lạ và bất công, nhưng hợp luận lý, là các cường quốc đã có bom nguyên tử rồi, muốn giữ độc quyền nên luôn chống lại và trừng phạt các nước nào có ý đồ và hành động chế bom nguyên tử, nên đã ký kết với nhau một hiệp ước đa phương chống chế tạo và phổ biến vủ khí nguyên tử, nhân danh nền hòa bình thế giới. Và như thế độc quyền nguyên tử, phải chăng đồng nghĩa với độc quyền giữ ưu thế và lực mạnh của các cường quốc để áp chế các nước nhược tiểu nghèo yếu?
3/- Ba là, ngay từ bây giờ, các luật gia Việt Nam trong và ngòai nước cần mở hồ sơ vụ án đòi lại chủ quyền các quần đảo Hòang Sa và Trường Sa vừa bị Trung Cộng công khai chiếm đọat bằng một quyết định pháp lý hành chánh.
Mọi tài liệu lịch sử, hành chánh, pháp lý và thực tế đều được tập trung đầy đủ, nghiên cứu kỹ càng để chuẩn bị luận cứ và bằng chứng đưa ra trước một phiên tòa quốc tế tương lai, vào thời điểm thích hợp, thuận lợi. Đó là thời điểm Việt Nam đã trở thành một cường quốc có ảnh hưởng mạnh mẽ trên trường quốc tế, lúc đó thế và lực của một cường quốc Việt Nam có ảnh hưởng trong quan hệ quốc tế, sẽ giúp chúng ta thắng trong vụ kiện đòi lại chủ quyền trên hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa mà Trung Quốc đã cưỡng đọat hôm 2-12-2007 vừa qua và các phần đất đai, hải phận mà Trung Quốc chiếm đọat qua các Hiệp Ước bán nước năm 2000 và 2001 mà Cộng sản Việt Nam đã ký với Trung Quốc. 
Tóm lại, việc đòi lại lãnh thổ, các hải đảo và hải phận đã bị nhà cầm quyền Trung Quốc chiếm đọat từ trước đến nay, chúng ta chỉ có thể thành đạt khi ngay từ bây giờ, chúng ta có sự chuẩn bị đầy đủ tài liệu, bằng chứng lịch sử, pháp lý, hành chánh và thực tế để đưa ra một phiên tòa quốc tế trong tương lai đòi lại chủ quyền, một khi Việt Nam trở thành và phải trở thành một cường quốc có ảnh hưởng thực sự trên trường quốc tế. Đó là điều kiện ắt có và đủ để thực hiện giải đề cho nan đề trong hiện tại của chúng ta.
Điều này nằm trong khả năng của chúng ta, với tư chất của một dân tộc thông minh, anh hùng; với ý chí quật cường, tinh thần độc lập tự chủ được thể hiện qua dòng lịch sử trên 4000 năm đấu tranh chống lại mọi hiểm họa để dựng nước và giữ nước; với sự cần cù, nhẫn nại, quyết tâm và lòng yêu nước nồng nàn của hơn 80 triệu con dân Nước Việt trong nước, bốn năm triệu Người Việt hải ngọai, nhất định chúng ta sẽ đưa đất nước Việt Nam trở thành một cường quốc có ảnh hưởng trên trường quốc tế. Thời gian mau hay chậm là tùy thuộc vào ba bô phận chính yếu của quốc gia: Chính quyền và chế độ chính trị, nhân dân trong nước và Người Việt hải ngọai. Chính quyền và chế độ chính trị phải thực sự dân chủ,với một ê-kíp lãnh đạo tài năng đức độ, sáng suốt, biết nhìn xa trông rộng, hết lòng vì dân vì nước, mới đòan kết được mọi tầng lớp nhân dân trong nước và Người Việt hải ngọai, mới huy động được tòan lực quốc gia, trí tuệ dân tộc.
Chúng ta hy vọng và tin tưởng ở tương lai. Vì mọi dự kiến trên đây đều nằm trong khả năng và tầm tay của chúng ta, những con dân Việt Nam anh hùng, bất khuất, quyết một lòng bảo vệ, giữ vững từng tấc đất mà tiền nhân đã tốn biết bao mồ hôi, xương máu khai phá, mở rộng để hôm nay chúng ta và thế con cháu mai này có và vẫn giữ được một giải Giang Sơn Gấm Vóc hình chư S, chậy dài từ ải Nam Quan đến Mũi Cà Mâu. Việc bảo vệ, giữ gìn và tài bồi giải Giang Sơn gấm vóc hình chư S này là bổn phận chung của mọi con dân Nước Việt, không phân biệt sắc tộc, chính kiến, tôn giáo, ở trong nước cũng như hải ngọai.
Thiện Ý Nguyễn Văn Thắng
Trở về đầu trang |